Thực trạng ô nhiễm tràn dầu ở Việt Nam và một số kiến nghị

21/10/2013
Ngôn ngữ : Tiếng Việt
Lĩnh vực : Luật bảo vệ môi trường
Nguồn tin : Trung tâm Thông tin Khoa học
Nội dung tóm tắt :

Trên thế giới, từ khi nhân loại biết khai thác và sử dụng dầu mỏ đến nay, dầu mỏ đã  trở thành một yếu tố thiết yếu, đưa đến những lợi ích vô cùng lớn cho sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh đó, những sự cố trong việc khai thác, vận chuyển dầu mỏ trên thế giới cũng trở thành mối đe dọa lớn đối với môi trường nói chung và các hệ sinh thái nói riêng. Nhiều sự cố tràn dầu đã xảy ra trên thế giới, để lại hậu quả nghiêm trọng lâu dài cho môi trường sinh thái.

Là một quốc gia có đường bờ biển dài trên 3.200 kilomet, hệ thống sông suối, kênh rạch chằng chịt, với điều kiện hạ tầng hàng hải và phòng ngừa sự cố yếu kém, nguy cơ xảy ra sự cố dầu tràn ở Việt Nam là rất lớn. Theo Bộ TNMT (2008), từ năm 1997 đến nay ở Việt Nam đã xảy ra hơn 50 vụ tràn dầu trên biển, trên sông hoặc trong các hoạt động khai thác vận chuyển dầu, trong đó một số sự cố đến nay chưa xác định được nguồn gốc.

Từ những tác động tiêu cực mà SCTD gây ra cho môi trường, Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý để quản lý và ứng phó sự cố dầu tràn. Luật BVMT sửa đổi năm 2005 lồng ghép những nguyên tắc quản lý sự cố và ứng phó với sự cố môi trường (Chương X), khắc phục môi trường (Chương XI). Điều 130, 131 của Luật nhấn mạnh tính thiết yếu của việc đánh giá thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường gây ra để làm cơ sở cho việc xử lý ô nhiễm, khôi phục hiện trạng môi trường, giải quyết tranh chấp. Bên cạnh đó, Chính phủ và các bộ ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó có những văn bản về ứng phó, khắc phục ô nhiễm dầu. Tuy nhiên, nhìn chung, hệ thống quy định pháp luật về phòng chống ô nhiễm dầu và khắc phục sự cố do ô nhiễm tràn dầu gây ra còn nhiều tồn tại, hạn chế.

Chính vì thế,

Từ khóa :
Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống