Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế

09/06/2012

Triển khai nhiệm vụ nghiên cứu khoa học năm 2010, Ủy ban Tài chính, Ngân sách đã tổ chức nghiên cứu Đề tài “Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế” do ThS. Cao Ngọc Xuyên, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban làm Chủ nhiệm đề tài. Công trình nghiên cứu đã thành công trong việc khái quát về hệ thống thuế của Việt Nam; phân tích, đánh giá thực trạng, làm rõ những ưu điểm cũng như những hạn chế, bất cập trong hệ thống pháp luật về thuế; trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện.  

1. Khái quát về hệ thống thuế của Việt Nam 

Cũng như các quốc gia trên thế giới, hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam được coi là thành tố quan trọng trong hệ thống pháp luật kinh tế - tài chính. Trong quá trình đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vai trò của hệ thống pháp luật về thuế ngày càng trở nên rõ nét, tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm nguồn lực tài chính để phục vụ hiệu quả cho hoạt động của Nhà nước và xã hội.

Đến nay, hệ thống chính sách, pháp luật về thuế của Việt Nam đã trải qua ba giai đoạn cải cách và đã có một cơ cấu thuế tương tự các nước có nền kinh tế thị trường khác ở Châu Á. Một cơ cấu hệ thống chính sách thuế đồng bộ và phù hợp sẽ là tiền đề để hệ thống thuế có thể phát huy được những chức năng cơ bản trong nền kinh tế thị trường, tạo cơ sở cho quá trình hội nhập. Về nội dung, hệ thống thuế bắt đầu được coi là một trong những công cụ của Nhà nước can thiệp hữu hiệu vào nền kinh tế. Xét trên phương diện điều tiết vĩ mô, có 10 sắc thuế bắt đầu được áp dụng một cách thống nhất và bình đẳng với tất cả các thành phần kinh tế.

Trước yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới, hệ thống pháp luật về thuế của Việt Nam cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện, nhất là trong giai đoạn 2010 – 2020 nhằm đáp ứng cầu khách quan của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo chủ trương mà Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra(1])  

2. Một số đánh giá về hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam 

Đề tài đánh giá trên hai phương diện, kết quả đạt được và mặt tồn tại, hạn chế của hệ thống pháp luật thuế ở Việt Nam.

Nhìn tổng thể, cơ cấu chính sách thuế của Việt Nam hiện nay đã tương tự các nước có nền kinh tế thị trường ở Châu Á. Những mặt được của hệ thống pháp luật về thuế của Việt Nam thể hiện ở 04 phương diện cơ bản sau:

Một là, hệ thống chính sách thuế đã bao quát đầy đủ các nguồn thu, phát huy vai trò là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, bảo đảm nguồn thu cần thiết để thực hiện các nghĩa vụ chi phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội;

Hai là, hệ thống pháp luật về thuế đã góp phần tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế;

Ba là, phân phối lại thu nhập, góp phần thực hiện chính sách công bằng xã hội;

Bốn là, công tác quản lý thuế ngày càng được đổi mới góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế, bảo đảm thu đúng, thu đủ và kịp thời các khoản thu vào ngân sách nhà nước.

Bên cạnh những ưu điểm của hệ thống chính sách, pháp luật về thuế và trước những yêu cầu đổi mới của đất nước, đề tài đã chỉ ra rằng hệ thống chính sách, pháp luật về thuế hiện hành còn bộc lộ những tồn tại, hạn chế nhất định, thể hiện qua 03 phương diện cụ thể sau đây:

Một là, chính sách thuế chưa bao quát hết các đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế và các nguồn thu đang và sẽ phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế, còn lồng ghép với nhiều chính sách xã hội, làm cho nội dung chính sách phức tạp, làm giảm hiệu lực khuyến khích của thuế trong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

Hai là, cơ cấu nguồn thu thuế trong hệ thống pháp luật thuế hiện nay mất cân đối theo loại thuế và sắc thuế. Xét theo các loại thuế, tỷ trọng số thu từ các loại thuế gián thu và thuế trực thu chiếm phần lớn tổng số thu ngân sách từ thuế có xu hướng tăng lên. Trong khi đó, tỷ trọng của các loại thuế tài sản và các loại thuế khác có xu hướng giảm. Mặt khác, so sánh giữa thuế trực thu và thuế gián thu thì thuế trực thu chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều;

Ba là, tính công bằng, hiệu quả của pháp luật về thuế hiện hành còn chưa cao. Biểu hiện rõ nhất qua 5 sắc thuế là: Thuế nhập khẩu, Thuế giá trị gia tăng, Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế thu nhập doanh nghiệp và Thuế thu nhập cá nhân.

3. Một số đề xuất hoàn thiện hệ thống thuế 

Qua quá trình nghiên cứu, đề tài đã đưa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về thuế ở Việt Nam trong thời gian tới, cụ thể là tập trung vào việc nghiên cứu, hoàn thiện 03 vấn đề cốt yếu sau đây:

Một là, cần mở rộng cơ sở tính thuế. Thông qua mở rộng phạm vi đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thu hẹp phạm vi ưu đãi, miễn giảm thuế bằng cách giảm bớt các miễn, giảm thuế không thiết thực, không công bằng, xóa bỏ những quy định khác biệt về nghĩa vụ nộp thuế giữa các đối tượng, tách dần chính sách xã hội ra khỏi chính sách thuế, qua đó đảm bảo tính công bằng của hệ thống chính sách thuế;

Hai là, giảm mức thu thuế đối với các đối tượng nộp thuế, thông qua từng bước giảm số lượng và mức thuế suất, qua đó đảm bảo tính hiệu quả của hệ thống chính sách pháp luật về thuế, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất;

Ba là, đơn giản hoá và nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế. Thông qua cải cách các quy trình, thủ tục về kê khai, nộp thuế và quản lý thuế, đảm bảo tính đơn giản, minh bạch, công khai, tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng nộp và cơ quan quản lý thu thuế.

Trên cơ sở yêu cầu phát triển của nền sản xuất xã hội, thực trạng kinh tế - xã hội đất nước, qua tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đề tài cho rằng các vấn đề cải cách chủ yếu hội tụ trong 06 loại thuế chủ yếu, đó là: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu. 

Đối với Thuế giá trị gia tăng (GTGT)

Cần tập trung cải cách 04 yếu tố là đối tượng đánh thuế, thuế suất, phương pháp tính thuế và việc hoàn thuế.

- Về đối tượng đánh thuế, Luật hiện hành quy định 25 nhóm đối tượng không thuộc diện chịu thuế thay cho 28 nhóm như trước đây. Trong thời gian tới cần sắp xếp lại các đối tượng chịu thuế và không chịu thuế theo hướng tiếp tục quan tâm và hỗ trợ cho khu vực nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, không thu thuế GTGT ở khâu trực tiếp bán ra đối với các sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt, nuôi trồng thủy hải sản. Bên cạnh đó, cần đưa ra khỏi diện chịu thuế đối với các hoạt động khuyến nông, hoạt động cung cấp dịch vụ, thông tin, kỹ thuật, giúp nông dân áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất. Đồng thời, cần nghiên cứu xây dựng chính sách thuế đối với hoạt động xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp, nhà cho công nhân làm việc tại các khu công nghiệp, ký túc xá cho học sinh, sinh viên.

- Về thuế suất, quy định hiện hành gồm 2 mức (5% và 10%, ngoài ra mức 0% được áp dụng cho mặt hàng, dịch vụ xuất khẩu). Trước mắt, để tránh ảnh hưởng xấu đến sự ổn định giá cả hàng hoá, dịch vụ, từ nay đến 2020 vẫn nên tiếp tục duy trì 3 mức thuế suất, nhưng cần điều chỉnh theo hướng giảm( [2]). Tuy nhiên, về lâu dài, ngoài thuế suất 0%, cần nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện Luật thuế GTGT, áp dụng một mức suất thuế duy nhất để thay thế thuế suất hiện hành nhằm bảo đảm sự liên hoàn của hệ thống thuế; đơn giản hoá chính sách thuế đảm bảo dễ hiểu, dễ thực hiện, tránh vận dụng tuỳ tiện. Để xây dựng mức thuế suất mới có căn cứ khoa học, phù hợp thực tiễn, cần phải thông qua điều tra, khảo sát cụ thể về khả năng đóng góp cũng như sự ảnh hưởng đến số thu cho ngân sách nhà nước.

- Về phương pháp tính thuế, Luật hiện hành quy định 2 phương pháp tính thuế: Phương pháp khấu trừ và phương pháp tính trực tiếp([3]). Theo quy định, hoá đơn, chứng từ và sổ sách kế toán là căn cứ quan trọng để thực hiện việc thu thuế. Do đó, thuế GTGT chỉ nên áp đụng với các cơ sở kinh doanh có điều kiện thực hiện đầy đủ hoá đơn, chứng từ và chế độ kế toán để có căn cứ pháp lý cho việc khấu trừ đúng thuế GTGT đã nộp ở khâu trước. Vì vậy, cần nghiên cứu, xây dựng ngưỡng doanh thu tính thuế.

- Về việc hoàn thuế, để khuyến khích đầu tư, cần có chế độ ưu đãi đối với tài sản cố định mua sắm hoặc xây dựng mới được khấu trừ thuế hoặc được hoàn thuế GTGT đầu vào, làm giảm giá thành công trình xây dựng. Đối với máy móc thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng loại trong nước chưa sản xuất được, phải nhập khẩu để tạo tài sản cố định của doanh nghiệp, cần đưa vào diện không chịu thuế GTGT. Đối với các công trình đầu tư bằng nguồn vốn ODA được hoàn thuế GTGT đầu vào nhằm khuyến khích thu hút vốn vào Việt Nam. Để đảm bảo hoàn thuế nhanh, đáp ứng yêu cầu về vốn cho doanh nghiệp, cần quy định rõ những điều kiện cần thiết được hoàn thuế GTGT theo tháng, quý hoặc năm. Riêng với hàng xuất khẩu, có quy định những điều kiện thật cụ thể, rõ ràng để việc hiểu và thực hiện được thống nhất.

Đối với Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB)

Đề tài cho rằng, chính sách thuế TTĐB cần tiếp tục được nghiên cứu hoàn thiện trên 03 phương diện cơ bản là đối tượng chịu thuế, thuế suất và việc quản lý thuế.

- Về đối tượng chịu thuế, mục tiêu của thuế TTĐB là nhằm điều tiết trên thu nhập của người tiêu dùng đối với một số hàng hoá hoặc dịch vụ cao cấp, xa xỉ. Tuy nhiên, cách thức xây dựng danh mục các mặt hàng chịu thuế hiện nay là chưa bảo đảm khách quan, khoa học. Do đó, cần khắc phục tình trạng danh mục hàng hóa chịu thuế dài nhưng thực thu vào ngân sách lại ít. Mặt khác, trong điều kiện nước ta vẫn đang phải nhập siêu nên một số mặt hàng xa xỉ được nhập cần nghiên cứu bổ sung để thu thuế TTĐB.

- Về thuế suất, nên nghiên cứu xây dựng cơ cấu thuế suất đơn giản, nhằm thuận tiện cho công tác quản lý.

- Về quản lý thuế, đây là loại thuế có độ rủi ro cao, dễ bị thất thu vì thuế suất cao. Do đó, cần phải có biện pháp quản lý "đặc biệt" đối với loại thuế này. Cần quản lý chặt chẽ tại cơ sở sản xuất từ khâu nhập, xuất nguyên liệu hàng hoá đối chiếu với công thức sản xuất để phát hiện trốn lậu thuế, đặc biệt với các doanh nghiệp phải nộp thuế với mức lớn, thuế suất cao.

Đối với Thuế thu nhập cá nhân (TNCN)

Là một loại thuế trực thu, ảnh hưởng trực tiếp đến các tầng lớp dân cư nên tác động và hiệu quả của sắc thuế này đối với kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân là rất lớn. Để chính sách thuế này hoàn thiện hơn thì Nhà nước cần quan tâm cải cách 04 yếu tố cơ bản đó là: đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, khởi điểm thu nhập chịu thuế và giảm trừ gia cảnh.

- Về đối tượng nộp thuế, xét về bản chất kinh tế, thì thu nhập của hộ kinh doanh cá thể hay doanh nghiệp tư nhân đều là thu nhập của cá nhân. Nhưng về mặt pháp lý, trong Luật doanh nghiệp và cả Luật thuế TNCN đều không quy định rõ tiêu chí cần thiết để phân biệt doanh nghiệp tư nhân với hộ kinh doanh cá thể. Do đó để tránh lợi dụng, cần có những quy định rõ ràng về phương thức, cách thức nộp thuế của hai loại hình tổ chức kinh doanh này.

- Về thu nhập chịu thuế, theo quy định, các khoản tiền lương, tiền công và các khoản thu nhập khác đều phải nộp thuế. Tuy nhiên, các khoản thu nhập có tính chất tiền lương, tiền công mà người lao động nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền hiện nay rất phong phú, đa dạng. Do đó, cần có những quy định rõ ràng, phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và thông lệ quốc tế để việc thực hiện được thống nhất. Về thời điểm phát sinh thu nhập, hiện nay luật quy định là thời điểm chuyển giao hàng hoá, hoàn thành dịch vụ hoặc thời điểm xuất hoá đơn. Việc quy định 2 loại thời điểm như vậy là không hợp lý, mà cần quy định chặt chẽ hơn bằng việc xác định một mốc thời gian là "thời điểm thu được tiền" để tránh áp dụng tuỳ tiện.

- Về khởi điểm thu nhập chịu thuế, luật hiện hành quy định mức thuế thấp nhất là 5% áp dụng cho thu nhập đến 5 triệu đồng, đồng thời được trừ gia cảnh 4 triệu đồng/ tháng cho bản thân và 1,6 triệu đồng cho người phụ thuộc. Mức khởi điểm này áp dụng trong thời điểm ban hành Luật là phù hợp, nhưng sẽ trở thành bất hợp lý vào thời gian tới do sự biến động ngày càng tăng của giá cả, lạm phát, sự mất giá của đồng tiền. Vì vậy, cần nghiên cứu xây dựng cơ chế tự điều chỉnh theo hướng có thể thay mức khởi điểm chịu thuế tương đương với 6 hoặc 8 lần lương cơ bản. Khi lạm phát đến ngưỡng nhất định, thì Nhà nước điều chỉnh lương cơ bản, khi đó khởi điểm chịu thuế TNCN sẽ tự điều chỉnh, không cần phải sửa luật.

- Về giảm trừ gia cảnh, luật hiện hành quy định: "Việc xác định mức giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc thực hiện theo nguyên tắc mỗi người chỉ được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế". Tuy nhiên, những đối tượng được tính là người phụ thuộc rất rộng. Khái niệm "nuôi dưỡng" cũng rất chung chung và có thể hiểu theo nhiều mức độ khác nhau. Cần có những quy định hướng dẫn rất cụ thể, rõ ràng để khắc phục tình trạng dồn số người phải nuôi dưỡng cho đối tượng nộp thuế để được giảm trừ. Về thời gian được giảm trừ, việc xác định tình trạng nuôi dưỡng người phụ thuộc có thể đúng vào thời điểm kê khai, đăng ký của người nộp thuế, tuy vậy, trong năm tính thuế sẽ có không ít trường hợp có biến động bất thường. Do đó, cần có những quy định rõ ràng về vấn đề này.

Đối với Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)

Để hoàn thiện chính sách, pháp luật đối với loại thuế này, đề tài kiến nghị Nhà nước cần quan tâm cải cách 04 yếu tố cơ bản đó là đối tượng nộp thuế, thuế suất, chi phí giảm trừ và chính sách ưu đãi.

- Về đối tượng nộp thuế, theo nguyên tắc chung, đối tượng nộp thuế TNDN là những tổ chức có thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, nên nghiên cứu để quy định các mô hình, tổ chức hoạt động hợp pháp trong các lĩnh vực từ thiện, nhân đạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động xã hội khác có thu nhập nhưng không “chia” (gọi tắt là tổ chức có thu nhập không chia) vào diện không nộp thuế TNDN, vì toàn bộ thu nhập của họ có được không phải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, không có lợi nhuận để chia. Cần có ưu đãi, khuyến khích hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp nói chung vì lĩnh vực này còn nhiều khó khăn, nhưng đối với các chủ trang trại có thu nhập lớn thì phải xác định ngưỡng chịu thuế để thu thuế đối với đối tượng này.

- Về thuế suất, Luật hiện hành khống chế các chi phí hợp lý, hợp lệ mà không tính trên chi phí thực tế của doanh nghiệp nên trong thực tế tỷ lệ huy động từ thuế TNDN còn cao hơn nhiều so với quy định. Vì vậy, về lâu dài cần tiếp tục nghiên cứu hạ thấp thuế suất xuống còn 20% - 22%, tạo điều kiện giảm gánh nặng về thuế đối với doanh nghiệp.

- Về chi phí được trừ đối với chi phí quảng cáo, tiếp thị, mức được trừ vào chi phí đối với hoạt động quảng cáo, tiếp thị hiện nay được nâng từ 10% lên 15% cho doanh nghiệp mới thành lập trong 3 năm đầu và vẫn giữ mức 10% cho các doanh nghiệp còn lại. Thực tế cho thấy, quy định khống chế này không phù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay, do đó cần nghiên cứu để bỏ mức khống chế này.

- Về chính sách ưu đãi, hiện nay đã bỏ quy định ưu đãi đối với hoạt động đầu tư mở rộng. Tuy nhiên, trong thời gian tới cần tiếp tục khuyến khích đối với hoạt động đầu tư mở rộng. Theo đó, các doanh nghiệp đang hoạt động có dự án đầu tư mở rộng, đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới, mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất thì tùy theo ngành, nghề, địa bàn đầu tư cũng được miễn, giảm như đối với các doanh nghiệp đầu tư mới. Để khắc phục tình trạng ưu đãi diện rộng, thời gian tới cần tiếp tục cải cách chính sách ưu đãi thuế theo hướng hẹp về lĩnh vực, khuyến khích đầu tư đối với lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu phát triển, xã hội hóa, đảm bảo ưu đãi theo vùng miền.

Đối với Thuế xuất khẩu 

Thuế xuất khẩu chỉ nên áp dụng đối với những sản phẩm thô, tài nguyên khoáng sản phục vụ chế biến sản phẩm công nghiệp trong nước nhằm hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên quốc gia. Trước mắt cần thu hẹp dần các mặt hàng thuộc diện đánh thuế, phù hợp với quá trình hội nhập và thông lệ quốc tế. Cần chú trọng khuyến khích xuất khẩu các mặt hàng có giá trị gia tăng lớn. Biểu thuế và thuế suất thuế xuất khẩu cần được điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế, tiến dần đến loại bỏ hoàn toàn thuế xuất khẩu.

Đối với Thuế nhập khẩu 

Thuế nhập khẩu là công cụ quan trọng trong kiểm soát hoạt động ngoại thương, bảo vệ nền sản xuất trong bối cảnh nước ta ngày càng hội nhập sâu, rộng. Vì vậy, quá trình thực hiện các hiệp định thương mại song phương, khu vực và đa phương thì việc giảm thuế suất ngày càng sâu rộng đối với hàng nhập khẩu là một tất yếu khách quan. Việc cắt giảm các dòng thuế suất này trong thời gian gần đây của nước ta là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng nhập khẩu tăng cao, dẫn đến nhập siêu lớn. Vì vậy, tìm ra các giải pháp mới để quản lý nhập khẩu phù hợp với quy định của WTO là hết sức cần thiết. Trong những năm tới, cần đặc biệt chú trọng đến chức năng bảo hộ của thuế nhập khẩu, nên phải xây dựng biểu thuế nhập khẩu cho phù hợp với định hướng bảo hộ. Về lâu dài, việc điều hành chính sách thuế nhập khẩu nên dựa trên quan điểm coi đó là một công cụ bảo hộ sản xuất trong nước chứ không phải là nguồn thu quan trọng.


([1]) “Chính sách tài chính quốc gia phải động viên hợp lý, phân phối và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội; phân phối lợi ích công bằng. Tiếp tục hoàn thiện chính sách và hệ thống thuế, cơ chế quản lý giá, pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, bảo vệ người tiêu dùng, các chính sách về thu nhập, tiền lương, tiền công. Thực hiện cân đối ngân sách tích cực, bảo đảm tỉ lệ tích luỹ hợp lý cho đầu tư phát triển; phấn đấu giảm dần bội chi ngân sách. Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tài chính đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty. Quản lý chặt chẽ việc vay và trả nợ nước ngoài; giữ mức nợ chính phủ, nợ quốc gia và nợ công trong giới hạn an toàn (Chiến lược phát triển kinh tế 2011-2020)

([2]) Trong điều kiện hiện nay, trong khoảng 5 đến 10 năm tới, nước ta vẫn chưa có điều kiện để thu thuế đối với các sản phẩm nông nghiệp. Mặt khác, theo cam kết với Tổ chức Thương mại thế giới thì nhiều sản  phẩm nông nghiệp vẫn được tiếp tục duy trì chính sách bảo hộ trong thời hạn 5 năm, kể từ khi gia nhập WTO.

([3]) Xem Điều 10 và Điều 11 Luật thuế GTGT (sửa đổi năm 2009)  

ThS. Đỗ Ngọc Tú

Nguồn tin: Viện Nghiên cứu lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống