Nâng cao chất lượng quyết định Các vấn đề quan trọng của đất nước

16/09/2013
Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước là một chức năng cơ bản của Quốc hội. Trong các nhiệm kỳ qua, Quốc hội thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng này. Tuy nhiên, cử tri cả nước cũng như Quốc hội nhận thấy rằng, cần phải tiếp tục nâng cao chất lượng các quyết định của Quốc hội theo hướng thực chất, hiệu lực và hiệu quả hơn. Trên cơ sở Kết luận số 144-TB/ TW ngày 28.3.2008 của Bộ Chính trị, Đảng đoàn Quốc hội đã triển khai nghiên cứu Đề án “Nâng cao chất lượng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước”. Bài viết này giới thiệu tóm tắt một số nội dung và kết quả nghiên cứu của Đề án.

1. Nội dung và cách thức Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

Về nội dung, theo quy định của pháp luật hiện hành, những vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội bao gồm ba nhóm nội dung chủ yếu:

- Các vấn đề về tổ chức và nhân sự cấp cao của Nhà nước: Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên HĐDT, Chủ nhiệm, Phó Chủ nhiệm, Ủy viên các Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về thành lập Hội đồng Quốc phòng và An ninh; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bầu và miễn nhiệm Tổng Kiểm toán Nhà nước. Quốc hội quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
- Các nhiệm vụ kinh tế – xã hội: Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm và hàng năm; quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước; quyết định chủ trương đầu tư các dự án, công trình quan trọng quốc gia; quyết định chính sách tài chính quốc gia, quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quyết định chính sách tiền tệ quốc gia.

- Các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, chính sách tôn giáo, dân tộc, vấn đề đại xá: Quốc hội quyết định các chính sách, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, dân tộc, tôn giáo thông qua các nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và hàng năm, nghị quyết về ngân sách nhà nước hàng năm. Thẩm quyền của Quốc hội về quyết định đại xá được quy định tại khoản 10
Điều 84 của Hiến pháp 1992 và Luật tổ chức Quốc hội.

Về quy trình, thủ tục, Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước dưới hình thức Nghị quyết về nhiệm vụ kinh tế - xã hội, Nghị quyết chuyên đề đều tuân theo quy trình đầy đủ, bảo đảm yêu cầu về các bước, thủ tục... về cơ bản tương tự như quy trình lập pháp. Đối với các dự án, công trình quan trọng quốc gia, quy trình Quốc hội xem xét, quyết định đã được cụ thể hóa trong Nghị quyết 49/2010/QH12. Những nội dung cụ thể về quy trình Quốc hội xem xét, quyết định được cụ thể hóa trong Nội quy kỳ họp.

Nhìn chung, quy định pháp luật về quy trình Quốc hội xem xét, quyết định khá chặt chẽ, đầy đủ các bước, các khâu, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, về cơ bản bảo đảm phản ánh đầy đủ ý kiến của các ĐBQH, các cơ quan, tổ chức hữu quan, bảo đảm chất lượng các quyết định; quy trình thường xuyên được cải tiến hoàn thiện hơn. Tuy nhiên, trong việc xem xét một số vấn đề cụ thể, thì quy trình xem xét, quyết định của Quốc hội gặp một số khó khăn, vướng mắc và hạn chế như: Chưa có quy định cụ thể về quy trình Quốc hội xem xét, quyết định vấn đề quan trọng của đất nước trong một số lĩnh vực cụ thể. Chưa có quy định cụ thể về thời gian Chính phủ phải trình các dự thảo sang các cơ quan thẩm tra của Quốc hội, thời gian trình UBTVQH cho ý kiến. Thời gian để Quốc hội thảo luận các vấn đề còn ít, nhất là các vấn đề nhân sự, kinh tế-xã hội, ngân sách. Quy trình thảo luận, quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và NSNN còn chưa hợp lý, thể hiện ở việc tiếp thu, giải trình và thông qua nghị quyết.

2. Đánh giá mặt được, mặt hạn chế trong việc Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước trong thời gian qua

Các nghị quyết định của Quốc hội về các vấn đề quan trọng của đất nước về cơ bản đã cụ thể hoá kịp thời và đúng đắn đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng. Chất lượng các báo cáo thẩm tra của các cơ quan Quốc hội ngày càng được nâng cao, có chính kiến rõ ràng hơn, mang tính phản biện hơn làm cơ sở các ĐBQH thảo luận, biểu quyết; nhiều nội dung được đưa vào trong các Nghị quyết của Quốc hội. Các ĐBQH đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình,thể hiện trách nhiệm cao trước cử tri cả nước. Quốc hội thực hiện chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước ngày càng đầy đủ hơn những nội dung thuộc thẩm quyền, có tính chất thường xuyên hơn và dần đi vào nền nếp. Quy trình thảo luận, xem xét, quyết định bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số. Chất lượng các quyết định của Quốc hội được nâng lên. Các quyết định của Quốc hội được các ngành, các cấp nghiêm chỉnh triển khai và có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực sự là cơ sở quan trọng để Quốc hội thực hiện chức năng giám sát, góp sức cùng các cơ quan trọng bộ máy nhà nước thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.

Tuy nhiên, so với yêu cầu của nâng cao chất lượng hoạt động và mong muốn của cử tri cả nước thì vẫn còn những hạn chế như:

- Một số vấn đề quy định trong Hiến pháp và luật thuộc nhiệm vụ của Quốc hội nhưng chưa được trình Quốc hội quyết định hoặc quyết định chưa đầy đủ, như: chưa có quyết định nào về chính sách tài chính, chính sách tiền tệ quốc gia cụ thể ở tầm chiến lược; nội dung chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội chưa được các Luật cụ thể hóa đầy đủ, rõ ràng; trái phiếu Chính phủ, một số khoản thu, chi chưa đưa vào cân đối NSNN, do đó tính khoa học và thực chất của dự toán NSNN, phân bổ NSTW mà Quốc hội quyết định còn hạn chế; chưa có quy định cụ thể hóa điều kiện, hoàn cảnh, quy trình quyết định đại xá theo quy định của Hiến pháp 1992 v.v...

- Có trường hợp, việc xem xét, quyết định vấn đề quan trọng của đất nước còn chậm (ví dụ kế hoạch sử dụng đất của cả nước giai đoạn 2001 - 2005 được trình Quốc hội thông qua năm 2004), thời điểm quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cả nước còn hạn chế về tính khoa học, không kịp thời do phụ thuộc vào Nghị quyết của Đại hội Đảng theo nhiệm kỳ.

- Một số vấn đề Quốc hội quyết định có tính khả thi chưa cao như việc quyết định một số chỉ tiêu, nhiệm vụ trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và NSNN hàng năm; một số dự án, công trình quan trọng quốc gia như Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng, Nhà máy lọc dầu Dung Quất.

- Một số vấn đề Quốc hội quyết định mang tính thủ tục như phê chuẩn các điều ước quốc tế theo đề nghị của Chủ tịch nước, phê chuẩn quyết toán NSNN... chưa được làm rõ về ý nghĩa pháp lý nên thường được cho là không thực chất.

3. Một số nhiệm vụ và giải pháp chính nhằm nâng cao chất lượng các quyết định của Quốc hội

Từ các kết quả nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích và đánh giá thực trạng Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, Đề án đã nêu ra những đề xuất, kiến nghị theo 3 nhóm chủ yếu sau đây:

Nhóm các kiến nghị chung:

Đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội: Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Quốc hội nói chung và đối với việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước nói riêng.. Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của Quốc hội, khẳng định vai trò của Quốc hội trong việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Xác định đúng những vấn đề quan trọng của đất nước cần được Quốc hội quyết định, những vấn đề thuộc chức năng chấp hành, điều hành của Chính phủ. Hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về các vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội, phân định rạch ròi với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội, Chính phủ và chính quyền cấp tỉnh. Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan trình, cơ quan thẩm tra và vai trò của các ĐBQH. Sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Quốc hội, Nội quy kỳ họp và các luật có liên quan đến quy trình, thủ tục, trong đó có việc quy định rõ sự phân công, phân cấp, phối hợp giữa các cơ quan của Quốc hội trong việc thẩm tra các báo cáo, dự án liên quan đến các vấn đề quan trọng quốc gia. Ngoài ra, cần có quy trình, thủ tục mang tính đặc thù theo yêu cầu, tính chất phức tạp của từng vấn đề để bảo đảm chất lượng thẩm tra của các cơ quan Quốc hội và chất lượng xem xét, quyết định của Quốc hội.

Nhóm giải pháp theo từng lĩnh vực cụ thể:

- Về quyết định tổ chức bộ máy, nhân sự cấp cao của Nhà nước: Sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Chính phủ theo hướng quy định cụ thể cơ cấu tổ chức của Chính phủ, tiêu chí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng Bộ, cơ quan ngang Bộ làm căn cứ cho việc Quốc hội quyết định thành lập hoặc bãi bỏ. Quy định cụ thể trình tự thẩm tra nhân sự đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, theo đó, các cơ quan chuyên môn của Quốc hội có quyền tiến hành đối thoại với các ứng viên trước khi Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

- Về quyết định thành lập mới, chia tách, sáp nhập, điều chỉnh đơn vị hành chính, thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt: Ban hành Luật về tổ chức đơn vị hành chính các cấp, quy định các tiêu chí, quy mô và cơ cấu tổ chức của các đơn vị hành chính làm cơ sở để Quốc hội xem xét, quyết định việc chia tách, sáp nhập, điều chỉnh địa giới hành chính các tỉnh, thành phố trực thuộc TW cũng như việc chuyển tỉnh thành thành phố trực thuộc TW; việc thành lập đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (hoặc đặc khu kinh tế) theo quy định của Hiến pháp. Việc chia tách, sáp nhập, thành lập mới đơn vị hành chính cấp huyện cũng nên được Quốc hội hoặc UBTVQH xem xét, quyết định...

- Về chính sách dân tộc, tôn giáo, đại xá: Nghiên cứu ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật theo hướng quy định những chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo cần trình Quốc hội xem xét, quyết định. Nghiên cứu ban hành quy định cụ thể về đại xá, như điều kiện, hoàn cảnh xem xét đại xá; về cơ quan có quyền đề nghị Quốc hội quyết định đại xá; quy trình, thủ tục quyết định đại xá. Các quy định cụ thể về vấn đề trên có thể quy định trong Luật tổ chức Quốc hội, hoặc một đạo luật riêng về đại xá.

- Về quy hoạch, kế hoạch: Khẩn trương đổi mới, hoàn thiện các quy định của pháp luật về quy hoạch, kế hoạch để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các loại quy hoạch. Quy định cụ thể những nội dung của quy hoạch, kế hoạch, loại quy hoạch, kế hoạch thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Có sự phân công, phân cấp giữa Quốc hội và Chính phủ trong việc quyết định các loại quy hoạch, kế hoạch dựa trên cơ sở tính chất quan trọng của từng loại. Đối với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, kế hoach sử dụng đất đai của cả nước, có ảnh hưởng, tác động lớn đến toàn xã hội cần được Quốc hội quyết định. Các loại quy hoạch, kế hoạch khác được xây dựng trên cơ sở quy hoạch, kế hoạch mà Quốc hội đã quyết định như quy hoạch phát triển kinh tế
- xã hội các vùng, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực thì giao Chính phủ quyết định. Nghiên cứu ban hành Luật về quy hoạch, kế hoạch để thể hiện sự đổi mới về tư duy, lý luận về quy hoạch, kế hoạch và vai trò, chức năng nhiệm vụ của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường; quy định cụ thể về quan điểm, nội dung và trình tự thủ tục, hình thức xây dựng, thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội...
- Về chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia: Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia theo hướng quy định cụ thể nội dung chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Nghiên cứu mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật ngân sách nhà nước hiện hành để quy định cụ thể nội dung chính sách tài chính quốc gia và các nội dung tài chính ngoài ngân sách như các quỹ tài chính nhà nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Nâng cao thẩm quyền của Quốc hội trong việc quyết định NSNN. Đổi mới quy trình quyết định ngân sách theo hướng thời gian dành cho các cơ quan của Quốc hội thẩm tra ngân sách dài hơn, có thể vài tháng.

- Về dự án, công trình quan trọng quốc gia: Bổ sung, hoàn thiện hệ thống các tiêu chí về dự án, công trình quan trọng quốc gia, làm cơ sở để Quốc hội xem xét, quyết định chủ trương đầu tư cho phù hợp với tình hình mới. Việc đưa ra những tiêu chí này phải dựa trên những căn cứ khoa học đúng đắn, cách hiểu thống nhất và bảo đảm tính khả thi, tính toán đến khả năng thực hiện và cân đối ngân sách nhà nước.

Nhóm các giải pháp tổ chức thực hiện:

Tiếp tục kiện toàn tổ chức và nhân sự của Quốc hội: đổi mới cơ cấu, thành phần ĐBQH theo hướng bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng đại biểu với cơ cấu hợp lý; giảm đại biểu các cơ quan trong bộ máy hành chính, tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách ở trung ương; ưu tiên cơ cấu những người có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn sâu, có nhiều kinh nghiệm. Đổi mới, hoàn thiện cơ chế tài chính để tăng cường chất lượng hoạt động của ĐBQH. Về tổ chức và hoạt động của các cơ quan của Quốc hội; Đoàn ĐBQH, bộ máy tham mưu giúp việc: Tạo điều kiện cho đại biểu tham gia rộng rãi vào HĐDT và các Ủy ban. Phân định thẩm quyền của các cơ quan của Quốc hội một cách khoa học để có thể bao quát được hết hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Nghiên cứu cải tiến mô hình các Ban thuộc UBTVQH. Tạo điều kiện phát huy vai trò các Tiểu ban chuyên môn. Đề cao vai trò Thường trực Hội đồng dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội trong bối cảnh chưa có đủ số đại biểu chuyên trách. Tiếp tục kiện toàn hoạt động của Đoàn ĐBQH. Kiện toàn Văn phòng Quốc hội là cơ quan tham mưu, tổng hợp và giúp việc chung đủ mạnh, có điều kiện phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động của Quốc hội, tăng cường bộ máy tham mưu, giúp việc trực tiếp Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Có thể tổ chức thành Văn phòng thuộc Hội đồng dân tộc, các Ủy ban, trong đó các các bộ phận chuyên môn, có bộ phận phục vụ. Thường trực Hội đồng dân tộc và các Ủy ban có quyền quyết định về việc tuyển dụng, bố trí, sắp xếp đội ngũ cán bộ giúp việc cho mình. Đề án cũng kiến nghị tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cách thức tổ chức và quy trình, thủ tục tại các kỳ họp Quốc hội. Đề cao trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trình Quốc hội xem xét, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan thực hiện các chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp./.

ThS. Nguyễn Văn Phúc
ThS. Lê Văn Bình

Nguồn tin: Viện Nghiên cứu lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống