Tổ chức, hoạt động của Quốc hội khóa XII và phương hướng đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội khóa XIII

10/06/2012

Năm 2011, Viện NCLP đã chủ trì nghiên cứu đề tài cấp bộ “Tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII và phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XIII”, do TS. Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện NCLP làm Chủ nhiệm. Kết quả nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội khóa XII. Những đề xuất, kiến nghị được đánh giá là có giá trị tham khảo góp phần nghiên cứu để tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của Quốc hội khóa XIII và các khóa tiếp theo.

1.  Thực tiễn tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII 

Quốc hội khóa XII được bầu ra và hoạt động trong điều kiện sau 20 năm đổi mới, đất nước ta đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng đây cũng là thời điểm kinh tế - xã hội trong nước và trên thế giới vừa thuận lợi, vừa khó khăn, tiềm ẩn những yếu tố phức tạp. Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là kinh tế thế giới có nhiều biến động tiêu cực; quan hệ đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế được mở rộng; khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ; xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN trở thành một nhiệm vụ chiến lược; cả nước bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm (2006-2010) và chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm đầu thế kỷ XXI; cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động của Quốc hội được hoàn thiện một bước; hoạt động lập pháp được đẩy mạnh... Có 3 yêu cầu lớn đặt ra cho Quốc hội khóa XII là tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế. Bối cảnh lịch sử và yêu cầu nhiệm vụ đã tác động sâu sắc tới tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII. 

Tổ chức của Quốc hội khóa XII tiếp tục được đổi mới. Số lượng ĐBQH chuyên trách tăng lên gần đạt 30% tổng số ĐBQH, tạo điều kiện bố trí các thành viên chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội. Chất lượng đại biểu được chú trọng. Số lượng thành viên UBTVQH đã được cơ cấu theo hướng tăng lên so với nhiệm kỳ khóa XI. Tổng số các cơ quan của Quốc hội nhiều hơn do chia tách Ủy ban Kinh tế và Ủy ban pháp luật (khóa XI) thành 4 Ủy ban. Tổ chức bộ máy giúp việc được kiện toàn, chất lượng tham mưu, giúp việc của VPQH, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND các tỉnh, thành phố được cải thiện rõ nét... 

Hoạt động của Quốc hội trên các lĩnh vực lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và hoạt động đối ngoại có những bước tiến mới. Hoạt động lập pháp được chú trọng hơn về chất lượng, quy trình lập pháp tiếp tục được cải tiến ở một số khâu phù hợp. Hoạt động giám sát có trọng tâm, trọng điểm, tăng cường về nội dung, đổi mới cách thức thực hiện, tập trung vào những vấn đề bức xúc của thực tiễn, được đông đảo quần chúng nhân dân quan tâm. Việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước ngày càng có hiệu quả, thực chất hơn. Bên cạnh đó, hoạt động ngoại giao nghị viện trong nhiệm kỳ qua đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần hiệu quả vào công tác đối ngoại chung, nâng cao vị thế, hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Phương thức, chế độ làm việc của Quốc hội ngày càng trở nên khoa học, nề nếp, phát huy dân chủ, chủ động, sáng tạo trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ. Hoạt động của Quốc hội ngày càng thu hút sự quan tâm của nhân dân cả nước, qua đó góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Quốc hội nói riêng và hệ thống chính trị nói chung.

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm này, cơ cấu tổ chức của Quốc hội cũng còn một số điểm bất cập. Cụ thể như: số đại biểu chuyên trách tăng lên nhưng vẫn còn thiếu so với yêu cầu, nhiệm vụ; phạm vi chức năng, nhiệm vụ của các Ủy ban còn rộng; vị trí, địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH chưa được xác định thật cụ thể; tính chuyên môn hóa của bộ máy giúp việc chưa cao. Các điều kiện bảo đảm hoạt động còn thiếu. Hoạt động của Quốc hội vẫn còn một số tồn tại nhất định trong từng lĩnh vực lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước…

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII cũng là khoảng thời gian cả nước bắt đầu thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng thông qua. Bối cảnh quốc tế cũng đang có những thay đổi sâu sắc và sẽ có những tác động đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính trị nói chung, của Quốc hội nói riêng. Để Quốc hội khóa XIII có thể hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, việc tiếp nối, kế thừa những kết quả đã đạt được, cũng như tìm kiếm các giải pháp xử lý những vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII có ý nghĩa rất quan trọng.

2. Đổi mới cơ cấu, tổ chức của Quốc hội 

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng, nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, yêu cầu thực tiễn, đề tài đã đề xuất một số kiến nghị nhằm đổi mới cơ cấu, tổ chức của Quốc hội. Trong đó, tập trung vào hai vấn đề lớn: 

2.1. Tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về sự phân công chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong cơ cấu tổ chức Quốc hội 

Xác định rõ ràng hơn phạm vi hoạt động, thẩm quyền của các cơ quan của Quốc hội và ĐBQH, đặc biệt là ĐBQH chuyên trách trong các lĩnh vực cụ thể để tránh chồng chéo khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn. Nghiên cứu phân định rõ và quy định đầy đủ hơn mối quan hệ giữa các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH với các cơ quan nhà nước. Hoàn thiện các quy định về trình tự, thủ tục, các bước tiến hành trong hoạt động của Quốc hội.

2.2. Nghiên cứu thành lập mới, tách một số uỷ ban của Quốc hội theo từng lĩnh vực hoạt động chuyên sâu. 

Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi) năm 2007 mới giải quyết được việc tách 2 y ban thành 4 y ban với lý do cho rằng cần kiểm nghiệm thực tiễn, khi chín muồi sẽ xem xét, quyết định việc tiếp tục tách hay thành lập thêm các ủy ban khác. Qua thực tiễn hoạt động của Quốc hội cho thấy, bên cạnh việc nâng cao chất lượng ĐBQH, tăng cường số lượng đại biểu chuyên trách, còn cần phải đổi mới, củng cố về tổ chức bộ máy nhằm bảo đảm tính chuyên sâu. Có như vậy, các Ủy ban (với tính chất là những “trụ cột” chính trong hoạt động của Quốc hội) mới có điều kiện đi sâu vào việc xem xét những vấn đề cụ thể, tham mưu, giúp Quốc hội thực sự có chất lượng, hiệu quả.

Đề tài đề xuất việc tiếp tục nghiên cứu cụ thể việc chia, tách và thành lập mới một số uỷ ban. Theo đó, nghiên cứu tách Uỷ ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng thành 02 uỷ ban là: Ủy ban Văn hóa, Giáo dục và Ủy ban Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng. Nghiên cứu tách Ủy ban Kinh tế hiện nay thành 03  ủy ban là: Ủy ban gắn với các lĩnh vực kế hoạch - đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng và đô thị; Ủy ban gắn với các lĩnh vực nông nghiệp, nông dân và nông thôn; Ủy ban gắn với lĩnh vực công nghiệp và thương mại và các lĩnh vực kinh tế khác. Nghiên cứu tách Ủy ban về các vấn đề xã hội thành 2 ủy ban là: Ủy ban lao động và việc làm; Ủy ban chính sách xã hội. Nghiên cứu tách Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường thành 2 ủy ban là: Ủy ban Khoa học và Công nghệ; Ủy ban Tài nguyên và Môi trường. Nghiên cứu thành lập các Ủy ban gồm: Uỷ ban công tác dân nguyện trên cơ sở Ban Dân nguyện của UBTVQH; Ủy ban  về công tác kiều bào của Quốc hội; nghiên cứu chuyển Viện NCLP thuộc UBTVQH thành cơ quan của Quốc hội.

Việc nghiên cứu đổi mới về cơ cấu, tổ chức của Quốc hội là một quá trình lâu dài, không thể nóng vội và cần được đặt trong tổng thể chủ trương đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước của Đảng ta. Do đó, những nghiên cứu đề xuất nêu trên cần được nhìn nhận với tính cách là những nghiên cứu, kiến nghị mang tính bước đầu trong tiến trình đổi mới, hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quốc hội. 

3. Đổi mới hoạt động của Quốc hội 

Các giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội được xác định theo từng lĩnh vực cụ thể.  

Đối với hoạt động lập pháp, Đề tài đã tập trung trình bày ba giải pháp:  

- Một là, tăng cường pháp chế trong hoạt động lập pháp. Để thực hiện định hướng này cần tiến hành nghiên cứu sửa đổi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm quy định cụ thể hơn trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền trong các công đoạn của quy trình lập pháp. Tăng cường trách nhiệm của cơ quan soạn thảo trong việc xây dựng hệ thống chính sách của dự án luật và đánh giá sự tác động của các chính sách. Từ đó, nâng cao trách nhiệm, minh bạch hoá được các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, góp phần tăng cường pháp chế trong hoạt động lập pháp.

- Hai là, tiếp tục đổi mới tư duy nâng cao năng lực lập pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo chiều sâu. Lấy việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các đạo luật hiện có làm nhiệm vụ trung tâm. Đồng thời đi sâu xây dựng một số đạo luật mới để lấp kín các khoảng trống chưa có luật điều chỉnh. Tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao năng lực lập pháp của các cơ quan có thẩm quyền là yếu tố quyết định chất lượng của các đạo luật được thông qua.

- Ba là, phát huy vai trò của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội trong điều kiện Quốc hội không hoạt động thường xuyên có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi vì, với nhiệm vụ và quyền hạn được giao là thẩm tra các dự án luật trước khi trình Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban là chỗ dựa cho ĐBQH xem xét, thảo luận và thông qua dự án luật. Chỗ dựa đó vững chắc thì ĐBQH có định hướng đúng đắn để bày tỏ quan điểm của mình khi thảo luận, xem xét, thông qua hay không thông qua dự án luật.

Đối với hoạt động giám sát, Đề tài đưa ra hai giải pháp chủ yếu: 

- Một là, xác định lại phạm vi và nội dung giám sát tối cao phù hợp hơn với thực tiễn. Chỉ nên quy định nội dung và phương thức giám sát tương thích với khả năng và điều kiện cho phép của một Quốc hội hoạt động không thường xuyên, các ĐBQH chủ yếu hoạt động kiêm nhiệm. Trước mắt, trong công tác giám sát tối cao, nên tập trung làm tốt hoạt động chất vấn và xem xét báo cáo tại các kỳ họp Quốc hội. Đồng thời, từng bước nghiên cứu để có sự điều chỉnh hợp lý về phạm vi hoạt động giám sát tối cao.

- Hai là, đổi mới việc tổ chức thực hiện các hình thức giám sát. Trong hoạt động xem xét báo cáo cần nghiên cứu quy định rõ những nội dung cần thiết; tách bạch rõ trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm của tập thể trong công tác quản lý, điều hành; quy định loại báo cáo nào cần phải được Quốc hội thảo luận tập thể, loại báo cáo nào Quốc hội thảo luận ở tổ, ở Đoàn ĐBQH, loại báo cáo nào gửi đến ĐBQH để tự nghiên cứu; hướng dẫn cụ thể “trường hợp cần thiết” Quốc hội phải ra nghị quyết sau khi xem xét các báo cáo công tác...Đối với chất vấn và trả lời chất vấn, cần củng cố bộ phận tham mưu, giúp việc về hoạt động chất vấn; tăng cường bồi dưỡng kỹ năng hoạt động của ĐBQH, trong đó có kỹ năng chất vấn; quy định rõ một số vấn đề về mặt thủ tục trong hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn; hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc tiến hành hoạt động “chất vấn” tại các cơ quan của Quốc hội...

Đối với hoạt động xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, Đề tài đưa ra ba giải pháp:

- Một là, về kinh tế - xã hội, cần quyết định cả hệ thống chính sách kinh tế - xã hội dài hạn và ngắn hạn. Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong 5 năm, hàng năm chỉ là ngắn hạn. Quốc hội cần nắm chắc và quyết định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm. Đối với các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, Quốc hội cần lựa chọn một số tiêu chí để quyết định phù hợp...

- Hai là, về ngân sách, cần nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về ngân sách nhà nước theo hướng quyết định ngân sách kỳ hạn và dựa vào kết quả đầu ra để bảo đảm tính công khai, minh bạch, dân chủ và hiệu quả hơn trong đầu tư công.

- Ba là, về vấn đề thẩm tra, đối với một số nghị quyết đặc thù, quan trọng như nghị quyết về các công trình quan trọng quốc gia cần phải có một Ủy ban lâm thời gồm các ĐBQH có trình độ chuyên môn phù hợp để tiến hành thẩm tra.

Ngoài một số nội dung cơ bản trên, trong quá trình nghiên cứu, đề tài cũng đã đề cập đến một số nội dung khác xung quanh thực tiễn tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII. Nhìn chung, kết quả nghiên cứu đề tài là những thông tin có giá trị tham khảo, góp phần phục vụ công tác nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong thời gian tới./. 

TS. Đinh Xuân Thảo - Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp

Nguồn tin: Viện Nghiên cứu lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống