Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND Tỉnh - qua kinh nghiệm Tỉnh Lào Cai

10/06/2012

Triển khai nhiệm vụ nghiên cứu khoa học năm 2011, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Lào Cai đã chủ trì tổ chức nghiên cứu Đề tài “Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh – Qua kinh nghiệm của tỉnh Lào Cai” do ông Phan Duy Hạnh, Chánh Văn phòng làm Chủ nhiệm. Bằng cách tiếp cận từ góc độ thực tiễn, vận dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu cụ thể, Đề tài đã thành công trong việc khái quát quá trình hình thành và phát triển; phân tích về pháp luật thực định; đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động; đề xuất một số kiến nghị, giải pháp. Kết quả nghiệm thu đề tài đạt loại xuất sắc.

1. Quá trình hình thành và phát triển của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND cấp tỉnh 

Trên cơ sở các quy định pháp luật và thực tiễn tổ chức và hoạt động của Văn phòng giúp việc Đoàn ĐBQH, HĐND tỉnh có thể chia quá trình hình thành và phát triển của Văn phòng thành 3 giai đoạn cơ bản:

Giai đoạn thứ nhất, từ năm 1945 - 2002.

Ngay sau khi giành được chính quyền, để quản lý và phát triển đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành sắc lệnh về bầu cử Quốc hội và xây dựng hệ thống chính quyền trong tình hình mới. Vào thời điểm này và thời gian dài sau đó, công tác giúp việc cho Quốc hội, HĐND chưa có sự tách bạch rõ ràng do hoàn cảnh đất nước còn trong thời kỳ kháng chiến kiến quốc. Năm 1983, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 1983 đã được ban hành có quy định HĐND cấp tỉnh có bộ máy giúp việc. Tuy nhiên, trên thực tế toàn bộ các công tác tham mưu, giúp việc HĐND đều do Văn phòng UBND tỉnh thực hiện. Ngày 27.3.2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 12/2001/NĐ-CP, Văn phòng UBND tỉnh chuyển thành Văn phòng HĐND và UBND. Trong Văn phòng đã hình thành bộ phận riêng giúp việc chuyên trách cho HĐND, phục vụ Đoàn ĐBQH. Quy chế hoạt động của ĐBQH và Đoàn ĐBQH năm 1993, Quy chế sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã quy định về thư ký chuyên trách giúp việc Đoàn ĐBQH.

Giai đoạn thứ hai, từ năm 2002-2007. 

Quốc hội và HĐND các cấp được đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động. Nhằm đáp ứng yêu cầu công tác tham mưu, phục vụ, UBTVQH đã ban hành Nghị quyết số 416/NQ-UBTVQH11 ngày 25.9.2003 quy định về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức biên chế của Văn phòng Đoàn ĐBQH; Chính phủ ban hành Nghị định số 133/2004/NĐ-CP thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, biên chế của Văn phòng HĐND cấp tỉnh.

Văn phòng Đoàn ĐBQH có từ 5-8 cán bộ, công chức tùy thuộc vào số lượng ĐBQH và thể sử dụng thêm lao động hợp đồng. Kinh phí hoạt động nằm trong kinh phí của Đoàn ĐBQH do VQPH cấp. Văn phòng HĐND tỉnh có 1 - 2 Phó Chánh văn phòng, 02 phòng chuyên môn với số lượng biên chế từ 10-13 người tùy thuộc vào số lượng đại biểu HĐND. Kinh phí hoạt động nằm trong kinh phí của HĐND tỉnh, thuộc ngân sách địa phương.

Giai đoạn thứ ba, từ năm 2008 đến nay.

Tổ chức và hoạt động của cơ quan giúp việc Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh căn cứ theo Nghị quyết số 545/2007/UBTVQH12 ngày 11.12.2007 của UBTVQH. Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND được thành lập trên cơ sở hợp nhất 2 cơ quan là Văn phòng Đoàn ĐBQH và Văn phòng HĐND cấp tỉnh.

Cơ cấu, tổ chức văn phòng có Chánh Văn phòng và không quá 3 Phó Chánh Văn phòng do Thường trực HĐND bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Trưởng Đoàn ĐBQH. Văn phòng có Phòng Công tác ĐBQH, Phòng Công tác HĐND, Phòng Hành chính - Tổ chức - Quản trị. Ngoài ra, căn cứ tình hình thực tế của địa phương có thể thành lập thêm phòng.

Biên chế của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND nằm trong tổng biên chế hành chính của địa phương do UBND tỉnh phân bổ. Kinh phí hoạt động được lấy từ kinh phí hoạt động của Đoàn ĐBQH và HĐND cấp tỉnh.

2. Thực trạng về tổ chức của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Lào Cai và một số địa phương 

Đề tài đã tập trung phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh trên ba phương diện là số lượng biên chế, cơ cấu lãnh đạo và tổ chức bộ máy.

- Về số lượng biên chế. Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Lào Cai có 48 biên chế. Trong đó, có 11 biên chế là các chức danh bầu cử HĐND; 01 biên chế ĐBQH chuyên trách. Số lượng còn lại gồm 36 biên chế là lãnh đạo Văn phòng, lãnh đạo các phòng và chuyên viên tham mưu, phục vụ. Trên phạm vi cả nước, số lượng chỉ tiêu biên chế của Văn phòng ở mỗi địa phương cũng có sự khác nhau. Nhiều nhất là Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND thành phố Hà Nội có 73 chỉ tiêu biên chế được giao (hiện có 64 cán bộ, công chức và lao động hợp đồng có chỉ tiêu). Ngoài ra, một số địa phương khác cũng có số lượng biên chế lớn như: Thành phố Hồ Chí Minh; Hải Phòng; Cần Thơ; Đà nẵng; Nghệ An; Thanh Hóa.... Các địa phương còn lại có khoảng từ 25 đến 35 cán bộ, công chức và lao động hợp đồng. Thực tiễn tổ chức của các Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh hiện nay đang đặt ra những vấn đề cần giải quyết như: Tỷ lệ giữa cán bộ biên chế và hợp đồng của các Văn phòng quá khác nhau; một số địa phương chưa tuyển dụng đủ số lượng biên chế được phân bổ; số lượng biên chế của các phòng có sự chênh lệch; cán bộ, chuyên viên phục vụ chiếm số lượng lớn, mảng công việc tham mưu, giúp việc chuyên môn tương đối mỏng; chưa phân định rạch ròi thẩm quyền lãnh đạo, chỉ đạo của Thường trực HĐND và ĐBQH chuyên trách trong công tác nhân sự, bố trí cán bộ, quản lý và sử dụng...

- Về cơ cấu lãnh đạo Văn phòng, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Lào Cai có Chánh văn phòng và 03 Phó Chánh văn phòng. Chánh Văn phòng phụ trách chung, điều hành mọi công việc, đồng thời trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ, tài chính. Các Phó Chánh văn phòng phụ trách theo từng lĩnh vực công việc: công tác ĐBQH; công tác HĐND; hành chính, quản trị, văn thư, lưu trữ. Công tác tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư do một Phó Chánh văn phòng kiêm nhiệm phụ trách. Mô hình này là tương đối phổi biến hiện nay. Tuy nhiên, cũng có một số địa phương chỉ bố trí Chánh Văn phòng và 2 Phó Chánh văn phòng,

- Về tổ chức bộ máy, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Lào Cai có 4 phòng chuyên môn: Phòng công tác ĐBQH (3 người); Phòng Công tác HĐND (7 người); Phòng Thông tin dân nguyện (4 người); và Phòng Tổ chức – Hành chính – Quản trị (18 người). Khảo sát tổ chức bộ máy văn phòng trên cả nước cho thấy, có 60 địa phương thành lập 3-4 phòng; 1 địa phương thành lập 2 phòng; 1 địa phương thành lập 5 phòng và 01 địa phương thành lập 6 phòng. Các phòng thành lập thêm chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ đến công tác tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư; thông tin, tuyên truyền; công nghệ thông tin... Hạn chế trong tổ chức bộ máy của Văn phòng hiện nay là việc thành lập thêm các phòng chưa thực sự thống nhất; số lượng Phó Trưởng phòng vượt quá quy định; tên gọi các phòng cũng không nhất quán ([1]).

3. Thực trạng hoạt động của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Lào Cai 

Trên cơ sở cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ được giao, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Lào Cai có quy định về cơ chế hoạt động, mối quan hệ công tác nên đã tạo ra cơ chế hoạt động nhịp nhàng; sự chủ động tích cực cho cán bộ, chuyên viên; sự gắn bó chặt chẽ và thường xuyên giữa các phòng và giữa các cá nhân; phân định rạch ròi trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể…

Hoạt động tham mưu xây dựng pháp luật, chuẩn bị thẩm tra các báo cáo, đề án được chú trọng thực hiện và ngày càng có chất lượng. Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, Văn phòng đã tham gia 600 ý kiến vào 67 dự án luật, 26 dự thảo nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật của Quốc hội và UBTVQH. Việc tham mưu, phục vụ hoạt động giám sát đã bám sát yêu cầu thực tiễn, kịp thời phát hiện những bất cập, kiến nghị các giải pháp phù hợp để khắc phục (tham mưu cho Đoàn ĐBQH khóa XII thực hiện 11 cuộc giám sát chuyên đề; phối hợp với các cơ quan của Quốc hội thực hiện 10 cuộc giám sát trên địa bàn tỉnh; đưa ra 123 kiến nghị). Việc tham mưu quyết định các vấn đề quan trọng ngày càng thực chất, phản ánh được ý chí và nguyện vọng của nhân dân, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như của địa phương.

Công tác tham mưu, phục vụ hoạt động tiếp xúc cử tri đạt kết quả tích cực, với nhiều hình thức, nội dung tiếp xúc phong phú, đem lại hiệu quả thiết thực. Công tác phục vụ hoạt động tiếp công dân, tiếp nhận và xử lý đơn thư được tiến hành thường xuyên, đều đặn theo kế hoạch đề ra (mỗi tháng, tiếp từ 20-30 lượt công dân, tiếp nhận và xử lý khoảng 40-50, giải quyết trên 50% đơn). Công tác bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí, hành chính, văn thư, lưu trữ được triển khai chu đáo, cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ hoạt động của Đoàn ĐBQH và HĐND trong và giữa hai kỳ họp.

Bằng cách tiếp cận đặc thù, bám sát thực tiễn, đi từ cái riêng đến cái chung, với những phương pháp nghiên cứu cụ thể, đề tài đã thành công trong việc đánh giá thực trạng hoạt động của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Lào Cai. Qua đó, phản ánh thực trạng hoạt động chung của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Các kết quả nghiên cứu của Đề tài đã chỉ ra rằng, trong những năm qua, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các Văn phòng được nâng lên đáng kể, có sự thay đổi tích cực cả về lượng và chất. Điều này cho thấy mô hình tổ chức Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh theo Nghị quyết số 545/2007/UBTVQH12 là đúng đắn, phù hợp với điều kiện hiện nay.

Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của các Văn phòng còn có những tồn tại và hạn chế nhất định. Nguyên nhân là do thiếu các hướng dẫn kịp thời về tổ chức và hoạt động; địa vị pháp lý của Văn phòng chưa rõ ràng và tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; cơ chế song trùng trực thuộc dẫn đến một số bất cập trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; đội ngũ cán bộ, công chức hạn chế cả số lượng và chất lượng; chế độ, chính sách thiếu đồng bộ; cơ sở vật chất – kỹ thuật, điều kiện hoạt động chưa bảo đảm…

4. Hoàn thiện tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh 

Trên cơ sở luận giải các vấn đề lý luận, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND cấp tỉnh qua thực tiễn của tỉnh Lào Cai, Đề tài đã chỉ ra các quan điểm chỉ đạo và tập trung kiến nghị các nhóm giải pháp sau đây:

Nhóm giải pháp về hoàn thiện tổ chức, bao gồm:

- Thứ nhất, quy định rõ địa vị pháp lý của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh, xác định Văn phòng là một cơ quan trong hệ thống cơ quan của chính quyền địa phương có địa vị pháp lý như các sở, ban, ngành của tỉnh; các tiêu chuẩn, chế độ, chính sách đối với lãnh đạo Văn phòng được áp dụng theo chế độ chung của cơ quan cấp tỉnh ở địa phương. Quy định rõ mối quan hệ công tác của Văn phòng với các cơ quan hữu quan, nhất là đối với các sở, ban, ngành.

- Thứ hai, thống nhất áp dụng mô hình tổ chức bộ máy văn phòng theo chủ thể quản lý, gồm 4 phòng chuyên môn: Phòng Công tác ĐBQH; Phòng Công tác HĐND; Phòng Hành chính – Tổ chức – Quản trị; Phòng Tiếp dân và Thông tin.

- Thứ ba, bố trí đủ số lượng chuyên viên các phòng, theo đó Phòng Công tác đại biểu có ít nhất 4 chuyên viên; Phòng Công tác HĐND có ít nhất 6 chuyên viên; Phòng Tiếp dân và Thông tin có ít nhất 4 chuyên viên; Phòng Tổ chức – Hành chính – Quản trị có ít nhất 7 chuyên viên (không kể lái xe).

- Thứ tư, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; thực hiện công tác tuyển dụng công khai, minh bạch; có cơ chế khuyến khích tuyển dụng những người có kinh nghiệm, có năng lực và trình độ cao; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, điều động, luân chuyển cán bộ. Thực hiện dân chủ cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích hoạt động của các tổ chức đoàn, công đoàn trong cơ quan.

Nhóm giải pháp về nâng cao hiệu quả hoạt động, bao gồm:

- Thứ nhất, áp dụng kinh nghiệm của một số địa phương về quy trình hóa các hoạt động nghiệp vụ. Theo đó, liệt kê danh mục các loại công việc cần quy trình hóa; hình thành trình tự, thủ tục giải quyết đối với từng loại việc; xác định đối tượng chịu trách nhiệm và thời gian giải quyết; cụ thể hóa sản phẩm ở mỗi công đoạn; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng; quy định chế độ kiểm tra, báo cáo…

- Thứ hai, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Văn phòng với các cơ quan, tổ chức hữu quan. Trong đó, cần chú trọng đến mối quan hệ với VPQH trong công tác tham mưu, phục vụ kỳ họp; cải tiến việc gửi và nhận tài liệu; bảo đảm thông tin thường xuyên, hai chiều; tăng cường công tác tham mưu, phục vụ giám sát, hướng dẫn hoạt động của HĐND cấp tỉnh; tổ chức các hội nghị chuyên đề, tập huấn; hướng dẫn áp dụng các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức của Văn phòng…

Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ. Chỉ đạo thống nhất để đảm bảo tính đồng bộ, tạo cơ sở để kết nối lâu dài. Đầu tư kinh phí để triển khai các chương trình tin học quản lý hoạt động giám sát, quản lý đơn thư, quản lý công văn tài liệu…

Các đề xuất, kiến nghị cụ thể đối với các cơ quan hữu quan:

- Đối với Quốc hội, Chính phủ: Sớm xem xét sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội; Luật Tổ chức HĐND và UBND để có quy định bổ sung về Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh. Quan tâm nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí thông qua việc chỉ đạo các địa phương bố trí ngân sách hợp lý cho các hoạt động chuyên môn của Văn phòng.

- Đối với VPQH và Ban Công tác đại biểu: Tăng cường công tác hướng dẫn tổ chức và hoạt động. Trong đó, lưu ý hướng dẫn xây dựng các quy trình tác nghiệp; xây dựng hệ thống phần mềm quản lý chuyên môn thống nhất trong cả nước.

- Đối với Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh: Cho phép triển khai xây dựng các quy trình tác nghiệp; bố trí ngân sách để đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống phần mềm ứng dụng quản lý hoạt động chuyên môn.

Nâng cao chất lượng hoạt động tham mưu, giúp việc là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan dân cử. Các kết quả nghiên cứu của Đề tài có giá trị tham khảo trong việc đổi mới tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND trong điều kiện hiện nay./. 


([1]) Phòng được thành lập thêm ở Lào Cai gọi là Phòng Thông tin Dân nguyện; ở Hà Nội là Phòng Tiếp dân và Thông tin; ở Thái Nguyên là Phòng Thông tin và Dân nguyện; ở Quảng Trị là Phòng Công tác cơ sở; ở Bắc Ninh là Phòng Dân nguyện… 

Ths. Phan Văn Ngọc - Phó giám đốc Trung tâm thông tin khoa học, Viện Nghiên cứu lập pháp

Nguồn tin: Viện Nghiên cứu lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống