Sử dụng thông tin kinh tế - tài chính trong thảo luận và quyết định ngân sách nhà nước

16/09/2013
Triển khai nhiệm vụ nghiên cứu năm 2009, Viện NCLP đã chủ trì nghiên cứu Đề tài cấp cơ sở “Thông tin kinh tế - tài chính và việc sử dụng thông tin kinh tế - tài chính trong thảo luận và quyết định ngân sách nhà nước” do TS. Hoàng Văn Tú, Phó Viện trưởng làm Chủ nhiệm. Đề tài góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, phân tích thực trạng và đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cung cấp và sử dụng các thông tin kinh tế - tài chính phục vụ Quốc hội thảo luận và quyết định ngân sách nhà nước

1. Thông tin kinh tế - tài chính

Quyết định các vấn đề kinh tế - xã hội, các vấn đề tài chính, ngân sách nhà nước thuộc thẩm quyền của Quốc hội. Việc xem xét và quyết định ngân sách nhà nước (NSNN) là sự bảo đảm các nguồn thu và các khoản chi của nhà nước đúng mục đích, có hiệu quả, phục vụ tốt nhất cho các nhiệm vụ chính trị, vì lợi ích của nhân dân, của đất nước. Để các quyết định của Quốc hội về NSNN có chất lượng, một trong các vấn đề quan trọng là thông tin nói chung và thông tin kinh tế - tài chính nói riêng phải đầy đủ, toàn diện, kịp thời và có độ tin cậy. Các thông tin này là những căn cứ quan trọng cho các đánh giá, các ý kiến và các quyết định của Quốc hội.

Về nguyên tắc, mọi thông tin kinh tế - tài chính đều phải bảo đảm tính chính xác và khách quan. Thông tin kinh tế - tài chính phục vụ Quốc hội thảo luận và quyết định dự toán ngân sách đến từ nhiều nguồn: Báo cáo của Chính phủ; Báo cáo của cơ quan kiểm toán; Kênh thông tin có được từ hoạt động giám sát các cơ quan hành pháp; Thông tin từ các tổ chức nghiên cứu, chuyên gia và ý kiến cử tri về các vấn đề kinh tế, tài chính - ngân sách.

Ở những nước đang phát triển, thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu phục vụ Quốc hội thảo luận và quyết định dự toán ngân sách do Chính phủ báo cáo như: Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội và ngân sách năm hiện hành; Dự báo về tình hình kinh tế, tình hình thu, chi ngân sách cho khoảng thời gian còn lại của năm hiện hành và năm tiếp theo; Định hướng xây dựng dự toán năm tiếp theo. Với các nước phát triển, Quốc hội làm việc chuyên nghiệp, nguồn thông tin từ Báo cáo của cơ quan kiểm toán và kênh thông tin riêng từ hoạt động theo dõi, giám sát của cơ quan lập pháp và công tác tham mưu của bộ phận giúp việc là nguồn thông tin rất quan trọng phục vụ Quốc hội thảo luận và quyết định dự toán ngân sách, là căn cứ để Quốc hội đối chiếu, phản biện báo cáo của Chính phủ.

Ở nước ta, nội dung thông tin kinh tế - tài chính cơ bản của các cơ quan chuẩn bị dự án trình phải cung cấp cho Quốc hội, đó là: (1) Báo cáo tình hình thực hiện NSNN năm hiện hành và dự toán NSNN năm sau; (2) Báo cáo tình hình thực hiện ngân sách trung ương năm hiện hành và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm sau; (3) Báo cáo ý kiến của cơ quan Kiểm toán nhà nước trong công tác thẩm tra dự toán NSNN. Ngoài ra, để có đủ căn cứ, cơ sở thảo luận và quyết định NSNN, các cơ quan còn phải cung cấp cho Quốc hội một số nội dung có liên quan khác như: Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội hàng năm; Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Thông tin kinh tế - tài chính được cung cấp cho Quốc hội trong việc thảo luận và quyết định NSNN, thường được tiếp cận, sử dụng theo ba nhóm phương pháp chủ yếu là: (1) Nghiên cứu tài liệu có liên quan đến kinh tế - tài chính hoặc phỏng vấn để kế thừa những thành tựu đã được nghiên cứu; (2) Quan sát, theo dõi các chỉ tiêu kinh tế, tài chính mà ĐBQH quan tâm; (3) Phân tích các thông số có liên quan đến kinh tế, tài chính đã được thu thập.

Nghiên cứu, phân tích thực tiễn một số nước trong việc cung cấp, sử dụng thông tin kinh tế, tài chính phục vụ Quốc hội, ĐBQH thảo luận, quyết định NSNN có thể rút ra một số bài học. Thứ nhất, các thông tin kinh tế-tài chính được cung cấp cho Quốc hội đến từ rất nhiều nguồn khác nhau, nhưng căn cứ chính để thảo luận và quyết định NSNN vẫn dựa vào Báo cáo của Chính phủ, Báo cáo của Kiểm toán nhà nước và Báo cáo của các cơ quan thẩm tra. Thứ hai, thông tin kinh tế - tài chính của kiểm toán Nhà nước là hết sức quan trọng và cần thiết. Thứ ba, các cán bộ, chuyên gia, Viện nghiên cứu, trường Đại học có vai trò hết sức quan trọng trong việc phân tích, xử lý và cung cấp thông tin. Thứ tư, các thông tin kinh tế - tài chính được cung cấp từ hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri và các báo, đài rất hữu ích cho việc quyết định NSNN.

2. Thực trạng cung cấp và sử dụng thông tin kinh tế - tài chính trong thảo luận và quyết định NSNN

Nội dung những vấn đề kinh tế - tài chính trình ra Quốc hội thảo luận và quyết định ngày càng toàn diện, từ những vấn đề mang tính vĩ mô của nền kinh tế như tốc độ và chất lượng tăng trưởng, cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các cân đối kinh tế - tài chính cho đến những vấn đề cụ thể như thu, chi NSNN, thu chi ngân sách của từng ngành, từng tỉnh, thành phố được công khai để trao đổi, thảo luận. Các báo cáo của cơ quan Kiểm toán nhà nước cũng ngày càng có chất lượng, kiến nghị các vấn đề có trọng tâm, trọng điểm về các hoạt động tài chính, phân bổ và sử dụng NSNN, các báo cáo kiểm toán theo chuyên đề giám sát của Quốc hội có liên quan đến việc sử dụng NSNN...

ĐBQH đã từng bước chú trọng đến việc sử dụng, khai thác các thông tin kinh tế - tài chính để thảo luận và quyết định NSNN. Các báo cáo của cơ quan thẩm tra ngày càng có chất lượng, có độ tin cậy cao, phản ánh nhiều vấn đề bức xúc, các báo cáo này được hình thành trên cơ sở nghiên cứu báo cáo của Chính phủ, các cuộc giám sát qua báo cáo, trên thực tế, tổ chức sưu tầm, thu thập và đánh giá thông tin kinh tế-tài chính… do đó, ngày càng được nhiều ĐBQH sử dụng làm căn cứ để thảo luận, so sánh và quyết định NSNN.

Tuy nhiên, việc sử dụng và độ tin cậy của thông tin kinh tế-tài chính cho Quốc hội thảo luận và quyết định NSNN cũng có những hạn chế nhất định: (1) Các vấn đề tài chính, NSNN được báo cáo công khai ra Quốc hội khá chi tiết, rất cần Quốc hội bày tỏ chính kiến và thái độ, nhưng ý kiến của ĐBQH rất ít, nếu có chỉ là vài ý kiến nhỏ lẻ. (2) Một số thông tin kinh tế-tài chính cung cấp cho các ĐBQH có độ chính xác chưa cao nhất là các thông tin có liên quan đến việc dự toán nguồn thu cho NSNN (3) Nhiều trường hợp thông tin kinh tế-tài chính cung cấp cho ĐBQH rất chậm, đến tận ngày khai mạc Quốc hội, các ĐBQH mới nhận được các báo cáo của Chính phủ với độ dầy tương đối, nên đã hạn chế về thời gian nghiên cứu, tham vấn các chuyên gia chuyên sâu nên mức độ đóng góp còn hạn chế.

Qua việc phân tích, đánh giá thực trạng cung cấp thông tin kinh tế - tài chính cho Quốc hội thảo luận và quyết định NSNN có thể rút ra một số nhận xét:

Thứ nhất, việc cung cấp thông tin kinh tế-tài chính cho các ĐBQH thảo luận và quyết định NSNN tuy đã có nhiều cố gắng, tương đối đầy đủ, chất lượng ngày càng được nâng lên,… nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là liên quan đến tiến độ cung cấp, khả năng tiếp cận trực tiếp từ đầu của ĐBQH, khả năng phân tích, dự báo…

Thứ hai, mặc dù có nhiều đa số ĐBQH đã sử dụng các thông tin kinh tế - tài chính để phân tích, so sánh và đưa ra chính kiến của mình có liên quan đến quyết định về NSNN, tuy nhiên cũng còn không ít ĐBQH chỉ xem thông tin kinh tế - tài chính chỉ là những thông tin cung cấp để biết, chưa khai thác triệt để.

Thứ ba, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, phục vụ từng bước được nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; các chuyên gia, các nhà khoa học, các Viện, trường đã bắt đầu phối hợp, hỗ trợ các cơ quan của Quốc hội trong việc nghiên cứu, phân tích, xử lý các vấn đề có liên quan đến kinh tế, tài chính… nhưng mức độ vẫn còn hạn chế, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng.

3. Nâng cao chất lượng công tác cung cấp, sử dụng thông tin kinh tế - tài chính phục vụ Quốc hội thảo luận, quyết định NSNN

Thông tin kinh tế - tài chính được cung cấp cho Quốc hội để làm căn cứ sử dụng trong việc thảo luận và quyết định NSNN phải kịp thời, minh bạch, có độ tin cậy cao và gắn với trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin. Việc sử dụng các thông tin kinh tế - tài chính phải thực sự hiệu quả, đúng mục đích thể hiện thông qua chất lượng quyết định dự toán NSNN và quyết toán NSNN ngày càng cao.

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề tài đã đề xuất, kiến nghị 7 giải pháp cụ thể để nâng cao chất lượng, hiệu quả cung cấp thông tin kinh tế - tài chính phục vụ Quốc hội thảo luận, quyết định NSNN:

Một là, hoàn thiện các quy định mang tính pháp lý về cung cấp và sử dụng thông tin kinh tế - tài chính. Nghiên cứu, xây dựng trình Quốc hội Luật về tiếp cận thông tin, trong đó cần quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của các đối tượng (tổ chức, cá nhân) cung cấp thông tin và người sử dụng thông tin.

Hai là, tăng cường tính minh bạch, độc lập và độ tin cậy của thông tin kinh tế-tài chính cho Quốc hội trong việc quyết định NSNN. Tăng cường tính minh bạch của ngân sách trong giai đoạn lập dự toán, đặc biệt là các tiêu chí và cơ sở dữ liệu dùng cho việc dự tính các nguồn thu và nhiệm vụ chi. Áp dụng kế toán dồn tích thay cho phương pháp kế toán thực thu thực xuất quỹ hiện nay, phản ánh xác thực hơn tình hình tài chính Quốc gia và NSNN theo nguyên tắc thừa nhận quyền và nghĩa vụ ngân sách gắn với năm ngân sách, chứ không phải là số thực thu và thực xuất quỹ. Số liệu cung cấp cho ĐBQH phải có xác nhận và đánh giá của cơ quan kiểm toán Nhà nước.

Ba là, sử dụng có hiệu quả báo cáo của Kiểm toán nhà nước trong việc thảo luận và quyết định NSNN. Quyết định của Quốc hội được xem xét trên nhiều căn cứ, không chỉ các tiêu chí về kinh tế - tài chính, mà còn cả các căn cứ chính trị, xã hội. Nhưng những căn cứ mang tính chuyên môn, có bằng chứng pháp lý của Kiểm toán nhà nước rất quan trọng. Quốc hội chỉ có thể thực hiện tốt chức năng, bảo đảm được quyền trong các quyết định ngân sách và giám sát tình hình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về NSNN khi và chỉ khi Quốc hội được sự trợ giúp đắc lực của cơ quan chuyên môn trong việc thẩm tra, đánh giá kết quả các thông tin kinh tế - tài chính trình ra Quốc hội.

Bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả của hệ thống thông tin kinh tế - tài chính cho Quốc hội. Cần phân loại thu, chi ngân sách theo đúng bản chất kinh tế của từng khoản chi và thống nhất các chỉ tiêu phân loại, áp dụng thống nhất cho các cấp ngân sách và các đơn vị dự toán. Các hoạt động ngoài cân đối ngân sách phải trở thành đối tượng đánh giá và thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội và cần được thể hiện rõ trong các tài liệu ngân sách và các báo cáo kế toán. Các hoạt động tài chính của Chính phủ cần phản ánh toàn bộ, đầy đủ và kịp thời trong cân đối NSNN. Hoạt động kiểm soát của Kho bạc cần được thiết lập đối với cả các tài khoản đặc biệt, tổng hợp các giao dịch về viện trợ, các khoản thu chi ngoài cân đối ngân sách vào các báo cáo của kho bạc và đánh giá hiện trạng việc sử dụng các nguồn tài chính ngoài cân đối ngân sách. Các tài liệu ngân sách bao gồm cả các báo cáo về nợ của Chính phủ, các công trình dự án sử dụng vốn vay của Chính phủ.

Năm là, nâng cao năng lực của ĐBQH trong việc sử dụng thông tin kinh tế - tài chính cho thảo luận và quyết định NSNN. Triển khai có hiệu quả công tác bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng sử dụng thông tin về kinh tế - tài chính cho ĐBQH. Công việc này cần phải được làm thường xuyên, có kế hoạch bồi dưỡng hết sức cụ thể, chi tiết.

Sáu là, tăng cường nguồn nhân lực, đa dạng hóa các loại hình thu thập và xử lý thông tin kinh tế - tài chính. Ngoài các thông tin kinh tế - tài chính chính thức được cung cấp từ Chính phủ, các Bộ, ngành, Kiểm toán nhà nước và các thông tin kinh tế - tài chính được các ĐBQH cập nhật qua các đợt giám sát, tiếp xúc cử tri… thì một kênh thông tin kinh tế - tài chính cực kỳ quan trọng và cần thiết cho các ĐBQH là thông tin kinh tế - tài chính từ ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, các viện, trường đại học, các tổ chức trong nước và quốc tế. Chính vì vậy, trong thời gian tới cần có cơ chế, chính sách rõ ràng để thu hút lực lượng này, trong đó việc quan trọng là cần phải có cơ chế, chính sách để lực lượng này tiếp cận thông tin kinh tế - tài chính từ các cơ quan như Bộ tài chính (Tổng cục Hải quan, Tổng Cục thuế), Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê), Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước… Ngoài ra, bên cạnh bộ máy giúp việc chung của cả Quốc hội như hệ thống thông tin, thư viện, vai trò tham mưu, hỗ trợ của các cán bộ giúp việc của cá nhân đại biểu là vô cùng quan trọng. Do đó, đội ngũ cán bộ giúp việc của cần được tăng cường về nguồn lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

Bảy là, trách nhiệm của Viện Nghiên cứu lập pháp trong việc xây dựng ngân hàng dữ liệu và cung cấp thông tin. Viện Nghiên cứu lập pháp cần đẩy mạnh việc xây dựng ngân hàng dữ liệu. Việc cung cấp thông tin cho đại biểu được thực hiện qua 2 loại hình dịch vụ nghiên cứu chính đó là: Loại thứ nhất, nghiên cứu theo yêu cầu của ĐBQH và cán bộ giúp việc, gồm các loại như: cung cấp thông tin kinh tế - tài chính và những yêu cầu phân tích, đánh giá chính sách và những hỗ trợ chuyên môn khác liên quan đến công việc của ĐBQH. Loại thứ hai, là nghiên cứu chủ động, được bộ phận nghiên cứu thực hiện trên cơ sở nội dung, chương trình hoạt động của Quốc hội và dự báo những vấn đề mà ĐBQH quan tâm để tiến hành nghiên cứu, cung cấp thông tin kinh tế - tài chính cho đại biểu để phục vụ cho việc thảo luận, quyết định NSNN tại Quốc hội hoặc các Ủy ban của Quốc hội. Đồng thời, về đội ngũ nhân lực, cần tăng cường biên chế cán bộ có trình độ chuyên môn về lĩnh vực kinh tế - tài chính cho Viện Nghiên cứu lập pháp./.

TS. Hoàng Văn Tú

Nguồn tin: Viện Nghiên cứu lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống