Báo cáo tham vấn cộng đồng để góp ý vào dự thảo Luật đất đai sửa đổi tại Tỉnh Long An

09/04/2013

PHẦN I: THÔNG TIN CHUNG

1.1. Mục tiêu

Sáng kiến Tham vấn cộng đồng về Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2013 nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý và sử dụng đất cũng như những mong muốn và nguyện vọng của các bên liên quan có tham gia trực tiếp (người dân, doanh nghiệp, chính quyền địa phương), trên cơ sở đó hỗ trợ Viện NCLP đưa ra các khuyến nghị cho dự thảo Luật Đất đai sửa đổi. Quá trình tham vấn tập trung thu thập kinh nghiệm và khuyến nghị của nông dân sản xuất quy mô nhỏ, người nghèo, các nhóm yếu thế, nữ chủ hộ và đồng bào dân tộc thiểu số. Nội dung tham vấn chú trọng đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thay đổi trong quyền sử dụng đất, đất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số, định giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Cụ thể, Tham vấn cộng đồng nhằm:

§ Lắng nghe ý kiến của người dân và các cấp chính quyền về thực trạng quản lý và sử dụng đất hiện nay tại địa phương;

§ Có bức tranh tổng thể về những khía cạnh phù hợp và chưa phù hợp của luật pháp liên quan đến quản lý và sử dụng đất;

§ Chia sẻ những mong muốn và đề xuất giúp viện NCLP thuộc UBTVQH đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2013.

Quá trình tham vấn diễn ra tại 04 tỉnh Yên Bái, Hòa Bình, Quảng Bình và Long An. Tại tỉnh Long An, Trung ương Hội LHPN Việt Nam phối hợp cùng Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam (PHANO) thực hiện.

1.2. Nội dung tham vấn

Long An có tổng diện tích là 4492.4 km2, chiếm tỷ lệ 1,3% so với diện tích cả nước và bằng 8,74% diện tích của vùng Đồng bằng Sông Cữu Long. Tỉnh Long An tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tiỉnh Tây Ninh ở phía Đông, phía bắc giáp với tỉnh Svay Riêng – Vương quốc Campuchia, phía tây giáp với tiỉnh Đồng Tháp và giáp tỉnh Tiền Giang về phía Nam. Sở hữu vị trí địa lý khá đặc biệt tiỉnh Long An thuộc Vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía Nam, được xác định là vùng kinh tế động lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam.

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh gần 1.449.600 người (nam: 719.900 người, nữ 729.700 người); trong đó 258.000 người dân sống tại thành thị và 1.191.600 người sống tại nông thôn. Mật độ dân số đạt 323 người/km2.

Trong những năm gần đây, thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng bộ tỉnh về định hướng phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 – 2015; Long An tập trung phát triển 02 vùng kinh tế trọng điểm của tỉnh, là vùng sản xuất nông nghiệp và vùng phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ; trong đó huyện Tân Thạnh, Mộc Hóa đóng vai trò động lực, tạo sự lan tỏa vùng phát triển nông nghiệp; các huyện Đức Hòa, Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc đóng vai trò động lực, tạo sự lan tỏa vùng phát triển công nghiệp - thương mại - dịch vụ. Từ định hướng về phát triển kinh tế đó, trong công tác quản lý, sử dụng đất trên địa bàn tỉnh có nhiều biến động; rõ nét nhất là việc thu hồi đất phục vụ cho các dự án phát triển khu, cụm công nghiệp, cho các công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp. Do những đặc thù như trên, việc tham vấn cộng đồng về dự thảo Luật Đất đai sửa đổi tại Long An tập trung vàonhững nội dung về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; về chế độ sử dụng đất; về định giá đất và về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

1.3. Phương pháp và tiến trình thực hiện

Căn cứ Kế hoạch số 179/KH-CSLP, ngày 09/11/2012 của Đoàn Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam thực hiện tham vấn cộng đồng về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Căn cứ văn bản số 1536-CV/VPTU, ngày 30 tháng 11 năm 2012 của Văn phòng Tỉnh ủy Long An về thông báo ý kiến của Thường trực Tỉnh ủy về thống nhất chủ trương, giao BTV Hội LHPN tỉnh triển khai thực hiện theo hướng dẫn của Trung ương Hội LHPN Việt Nam.

Được sự hỗ trợ của Ủy ban nhân dân tỉnh, các ban, ngành tỉnh, các doanh nghiệp, UBND huyện Mộc Hóa, huyện Đức Hòa, phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Mộc Hóa, huyện Đức Hòa và UBND các xã, thị trấn, trong thời giantừ 11 tháng 12 năm 2012 đến 31 tháng 01 năm 2013, Đoàn tham vấn đã tổ chức các hoạt động tham vấn tại các ấp, cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh. Cụ thể như sau:

Hoạt động tại xã/thị trấn:có 03 hoạt động: họp dân, phỏng vấn cán bộ xã/thị trấn và họp xã cán bộ lãnh đạo xã/thị trấn với một số dân được chọn cử tại cuộc họp dân.

§ Về họp dân; mỗi xã, thị trấn tổ chức 02 cuộc họp.Bình quân mỗi cuộc họp có 22 người dân trong các ấp của xã; tỷ lệ phụ nữ tham dự khoảng 68%.

§ Về phỏng vấn cán bộ xã/thị trấn: Đoàn đã phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với 20 đại biểu gồm lãnh đạo Chính quyền, cán bộ địa chính và Chủ tịch Hội LHPN các xã/ thị trấn; trong đó, đối với lãnh đạo Chính quyền: Đoàn đã phỏng vấn 02 đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân (xã Tân Mỹ và xã Thạnh Trị); 01 đ/c Chủ tịch UBND xã Đức Hòa Hạ và 01 đ/c Phó Chủ tịch HĐND thị trấn Mộc Hóa.

§ Về họp xã: thành phần tham dự gồm cán bộ lãnh đạo xã/thị trấn với các hộ dân được dân chọn cử. Bình quân có 8 người dân tham dự tại cuộc họp xã/thị trấn.

Hoạt động tại huyện:gồm02 hoạt động: phỏng vấn cán bộ huyện và phỏng vấn doanh nghiệp.

§ Đối vớiphỏng vấn cán bộ huyện: Đoàn đã phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với Phó Chủ tịchUBND (phụ trách quản lý đất đai và xây dựng cơ bản); Trưởng hoặc Phó Phòng Tài nguyên Môi trường; Trưởng hoặc Phó Phòng Tư Pháp; Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch MTTQ, Chủ tịch Hội LHPN huyện.

§ Đối với phỏng vấn doanh nghiệp: Đoàn tham vấn đã đến thăm và làm việc với Doanh nghiệp tư nhân Nguyễn Văn Theo, Công ty cổ phần Ngọc MêKông (Mộc Hóa); Khu công nghiệp Hải Sơn; Doanh nghiệp Bùi Văn Ngọ (Đức Hòa).

Hoạt động cấp tỉnh:

§ Phỏng vấn cán bộ tỉnh:Đoàn tham vấn đã phỏng vấn bằng bảng hỏi đối với cán bộ các ngành tỉnh như Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Trung tâm phát triển quỹ đất, Chi cục quản lý đất đai, Văn phòng Đoàn ĐBQH & HĐND tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Hội LHPN tỉnh.

§ Hội thảo Tổng kết kết quả tham vấn cấp tỉnh:

Hội thảo diễn ra trong ngày 31/01/2013 có sự tham gia của lãnh đạo HĐND tỉnh, UBND tỉnh, các Sở, ngành, Đoàn thể cấp tỉnh; lãnh đạo UBND và phòng Tài nguyên-Môi trường huyện Đức Hòa, huyện Mộc Hóa; lãnh đạo UBND 4 xã/thị trấn và 13 hộ dân.

Tại Hội thảo đại diện các hộ dân của 4 xã/thị trấn trình bày ý kiến về những vấn đề có liên quan đến thực trạng về quản lý, sử dụng đất ở địa phương và những đề xuất, kiến nghị. Ngoài ra, Hội thảo còn được nghe ý kiến của: lãnh đạo UBND huyện Đức Hòa, lãnh đạo Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh, Mặt trận tổ quốc tỉnh, Hội Nông dân tỉnh, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh.

Các ý kiến đều thống nhất cơ bản về thực trạng quản lý và sử dụng đất trên địa bàn tỉnh nói chung, các huyện Mộc Hóa, Đức Hòa nói riêng. Qua đó có những ý kiến đóng góp giúp Viện nghiên cứu lập pháp của Quốc Hội làm cơ sở tham gia xây dựng dự thảo sửa đổi Luật Đất đai năm 2003.

1.4. Địa bàn thực hiện

Xã Thạnh Trị và thị trấn Mộc Hóa của huyện Mộc Hóa:

Xã Thạnh Trị:

 

Xã có 03 ấp, tổng dân số của xã là 790 hộ với 2.877 nhân khẩu. Tổng diện tích tự nhiên của Thạnh Trị là 3.123 ha. Trong đó đất nông nghiệp chiếm 84,86% và đất phi nông nghiệp là 15,14%.

Địa hình đất của xã khá bằng phẳng, song vẫn có một phần diện tích tự nhiên có địa hình trũng. Hàng năm xã phải chịu 3 tháng ngập mặn (đây là đặc trưng chung của khu vực Đồng Tháp Mười).

Kinh tế của Thạnh Trị, chủ yếu là nông nghiệp kết hợp với dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp. Nông nghiệp chiếm 22,26% tổng giá trị sản xuất của xã; thương mại dịch vụ chiếm tới 74,55%; tiểu thủ công nghiệp chỉ chiếm có 3,19%. Toàn xã có một cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp (theo số liệu có đến tháng 11/2012).

Tổng thu nhập toàn xã năm 2011 là : 563.400.000 đồng, thu nhập bình quân trên đầu người là 9.600.000 đồng/người; các hộ có thu nhập cao (trung bình 5 triệu đồng/lao động/tháng) chiếm tỷ lệ 55,06%, hộ trung bình là 37,72% và số hộ thu nhập thấp chiếm 7,22%.

Trong vài năm trở lại đây, xã có 02 dự án liên quan tới quản lý và sử dụng đất đai. Đó là:

§ Dự án khu dân cư vượt lũ (năm 2001) có tổng diện tích là 6,3ha; trong đó đất công là 1,6 ha (đất trụ sở và đồn bót của Chính quyền cũ) và 4,7 ha đất thu hồi của dân.

§ Dự án Đê bao lững (năm 2012) có tổng diện tích là 15,7ha; trong đó đất công là 9 ha, đất do 35 hộ dân tự nguyện hiến là 6,7 ha.

Thị trấn Mộc Hóa:

Thị trấn được chia làm 10 khu phố, với 4.746 hộ và 19.345 nhân khẩu. Diện tích tự nhiên của thị trấn là 1.752,72 ha; trong đó diện tích đất nông nghiệp là 1.246,99 ha chiếm 71,15%, đất phi nông nghiệp 505,73 ha chiếm 28,85%. Tổng thu nhập toàn thị trấn: 432 tỷ/năm; thu nhập bình quân trên đầu người: 21.600.000đ/năm.

Hiện thị trấn Mộc Hóa có 1 khu công nghiệp với diện tích 20 ha, 1 nhà máy với diện tích 20 ha; 3 khu dân cư, bến xe ( Lê Lợi nối dài); ao lục bình; kinh quận.

Xã Tân Mỹ và xã Đức Hòa Hạ huyện Đức Hòa

Xã Tân Mỹ

Xã có 06 ấp, với 13.346 nhân khẩu và 3.174 hộ. Diện tích tự nhiên của xã: 3.647,99ha; trong đó diện tích đất nông nghiệp là 3.014,64 ha, chiếm 82,64%, đất phi nông nghiệp là 633,35 ha, chiếm 17,36%.

Về vị trí địa lý: Tân Mỹ có 2 mặt là phía bắc và phía đông giáp thành phố Hồ Chí Minh nên rất thuận lợi cho giao thông và kinh tế phát triển. Trên địa bàn xã tính đến thời điểm này hiện có 13 dự án công trình công nghiệp–tiểu thủ công nghiệp được cấp phép đầu tư.

Trong số các dự án được cấp phép và hiện đang triển khai thì lớn nhất là “DỰ ÁN THỦY LỢI PHƯỚC HÒA” . Đây được đánh giá là một trong những dự án quan trọng và có quy mô lớn nhất không chỉ trong phạm vi xã Tân Mỹ mà còn của tỉnh Long An nói chung. Ngoài ra trên địa bàn xã còn có dự án sân Golf đã hoàn thành công tác đền bù giải phóng mặt bằng nhưng do chủ đầu tư thiếu kinh phí nên bỏ hoang từ năm 2008 đến nay.

Đối với xã Đức Hòa Hạ

Xã có 04 ấp với tổng số nhân khẩu là 14,244 nhân khẩu và 3.858 hộ. Ngoài ra do xã nằm tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh, nằm gần khu công nghiệp I huyện Đức Hòa nên trên địa bàn xã có trên 8.000 nhân khẩu sống tạm trú. Thu nhập bình quân trên đầu người trong năm 2011 của xã đạt: 18triệu đồng/người/năm.

Do đặc điểm về vị trí địa lý Đức Hòa Hạ có phía đông giáp thành phố Hồ Chí Minh nên rất thuận lợi cho giao thông và kinh tế phát triển.

Trong số những dự án đã được cấp phép hoặc đang trong giai đoạn triển khai hay đã đi vào hoạt động trên địa bàn xã thì có 03 dự án lớn là Dự án Toàn Gia Thịnh (tên dự án: khu dân cư đô thị, thương mại Đức Hòa); Dự án Hải Sơn và dự án Tân Đức.

1.5. Các đối tượng tham gia

Xã Đức Hòa Hạ:

Cuộc họp dân lần thứ nhất vào sáng ngày 19.12.2012 có sự tham gia của: 17 người dân thuộc 04 ấp (12/17 người tham dự là nữ); 03 cán bộ tham vấn (02 của TW và 01 của HPN Long An). 100% người dân đi họp không là cán bộ chủ chốt tại địa phương. Không có ai là người dân tộc thiểu số trong số những người dân đi họp.

Cuộc họp dân lần thứ 2 vào sáng ngày 19.12.2012 có sự tham gia của 18 người dân thuộc 04 ấp (11/18 người tham dự là nữ); 02 cán bộ tham vấn (HPN tỉnh).

Xã Tân Mỹ

Cuộc họp dân lần thứ nhất vào sáng ngày 17.12.2012 có sự tham gia của 27 người dân của 06 ấp thuộc xã Tân Mỹ (17/27 người tham dự là nữ); 04 cán bộ tham vấn; 01cán bộ hỗ trợ của huyện Đức Hòa. 100% người dân đi họp hiện là những người không là cán bộ chủ chốt tại địa phương.

Cuộc họp dân lần thứ 2 vào chiều ngày 17.12.2012 có sự tham gia của 17 người dân của 06 ấp thuộc xã Tân Mỹ (13/17 người tham dự là nữ); 04 cán bộ tham vấn; 01 cán bộ của HPN của huyện Đức Hòa.

Xã Thạnh Trị:

Cuộc họp dân lần thứ nhất vào sáng ngày 11.12.2012 có sự tham gia của 17 người dân của 02 ấp (trong đó 15 người tham dự là nữ), 04 cán bộ tham vấn, 01 cán bộ hỗ trợ của huyện Mộc Hóa. 100% người tham dự cuộc họp dân là những người không giữ vai trò cán bộ chủ chốt tại địa phương.

Cuộc họp dân lần thứ 2 vào chiều ngày 11.12.2012 có sự tham gia của 15 người dân của 02 ấp thuộc xã Thạnh Trị (trong đó 12 người tham dự là nữ), 04 cán bộ tham vấn và 01 cán bộ của HPN của huyện Mộc Hóa.

Thị trấn Mộc Hóa:

Cuộc họp dân lần thứ nhất vào sáng ngày 13.12.2012 có sự tham gia của 28 người dân thuộc thị trấn Mộc Hóa (17/28 người tham dự là nữ), 04 cán bộ tham vấn, 01cán bộ hỗ trợ của huyện Mộc Hóa. 100% người dân đi họp hiện là những người không là cán bộ chủ chốt tại địa phương.

Cuộc họp dân lần thứ 2 cũng vào sáng ngày 13.12.2012 có sự tham gia của 30 người dân của 06 ấp thuộc thị trấn Mộc Hóa (17/30 người tham dự là nữ), 04 cán bộ tham vấn, 01 cán bộ của HPN huyện Mộc Hóa.


PHẦN II: KẾT QUẢ THAM VẤN

2.1. Quy hoạch sử dụng đất

Ý kiến của người dân và chính quyền xã, phường

Người dân không được biết những thông tin đầy đủ, rõ ràng và chính xác về việc lập quy hoạch và tiến trình quy hoạch. Điều này dẫn đến việc người dân hoang mang, không yên tâm sản xuất còn có thể dẫn đến việc phản ứng lại gay gắt với chính quyền địa phương.

Trong dự án thuỷ lợi Phước Hoà ở tại xã Tân Mỹ, tại cuộc họp dân, người dân được thông báo và đồng ý với việc dự án sẽ triển khai 03 bãi vật liệu với quy mô của từng bãi như sau: bãi 1: 40ha; bãi 2:16 ha và bãi 3:18 ha trên địa bàn xã. Tuy nhiên, sau khi đã nhận đền bù, dự án đi vào thực hiện thì người dân mới nhận ra 3 bãi vật liệu không phải là nơi chứa vật liệu như bà con nghĩ mà thực chất là những hầm đất để đào lấy đất chở đi nơi khác. Đặc biệt, bãi vật liệu số 3 còn rất gần khu dân cư nên việc thi công rất ảnh hưởng đến cuộc sống của bà con.

 Việc quy hoạch còn manh mún, không đồng bộ nên dẫn đến việc sản xuất của người dân trên phần đất nông nghiệp còn lại nằm giữa những khu quy hoạch gặp khó khăn.

Điển hình cho thực trạng này là câu chuyện của gia đình anh Võ Phú Tràng (thị trấn Mộc Hóa – huyện Mộc Hóa). Trong dự án làm tuyến dân cư Lê Lợi, gia đình anh Tràng bị thu hồi 1.300m2 trên tổng diện tích đất nông nghiệp là 2.000 m2. Như vậy sau khi thu hồi đất thì mảnh ruộng của anh còn lại 700m2. Mảnh ruộng này bị kẹt giữa khu dân cư nên không có hệ thống tưới tiêu nước để sản xuất. Do đó, mảnh ruộng 700m2 đất này nhà anh phải bỏ hoang đó từ 10 năm nay.

Việc chậm thực hiện quy hoạch  gây lãng phí đất và làm cuộc sống của người dân mất ổn định

 Tại những xã thực hiện tham vấn, tính đến thời điểm này còn khá nhiều quy hoạch, dự án treo. Cụ thể, dự án sân golf ở xã Tân Mỹ huyện Đức Hoà do công ty CSQ làm chủ đầu tư đã được cấp giấy phép đầu tư năm 2007. Đến năm 2008, dự án đã thực hiện chi tiền bồi thường xong cho nhân dân với diện tích khoảng 184ha, nhưng đến nay mới chỉ thực hiện trồng cây trên diện tích khoảng hơn 1ha, toàn bộ diện tích còn lại vẫn y nguyên như lúc quy hoạch .khiến cho người dân bức xúc vì đất bị bỏ hoang , chưa kể đến việc dự án để đất hoang hoá khiến chuột bọ phát triển và phá ruộng xung quanh của người dân. Theo người dân xã Tân Mỹ, vụ hè thu vừa rồi (2012) chỉ thu được khoảng 20% so với các vụ khác.

Chưa đồng bộ giữa quy hoạch với khâu đầu tư thực hiện quy hoạch.

Trong dự án Khu dân cư xã Thạnh Trị - huyện Mộc Hóa, khi quy hoạch thì có đầy đủ các hạng mục công trình về kết cấu hạ tầng (đường, điện, nước,…) song khi thực hiện thì nguồn lực đầu tư các hạng mục công trình này thì hạn chế, chủ yếu sử dụng nguồn lực đầu tư từ nguồn sinh lợi của các lô đất bán được. Hiện nay trong khu dân cư chưa có đường giao thông, chưa đảm bảo nước sinh hoạt. Chính vì vậy chỉ có 25 hộ cất nhà trên khu dân cư (tỷ lệ hộ dân vào khu dân cư đạt khoảng 20%).

Đề xuất, khuyến nghị

Ø Trước khi quy hoạch phải họp dân và lấy ý kiến dân; Người dân phải được tham gia và có ý kiến khi quy hoạch những dự án hoặc xây dựng công trình có ảnh hưởng đến đời sống của dân cư về mọi mặt ;

Ø Có cơ chế để người dân tham gia ngay từ khâu xúc tiến quy hoạch (lấy ý kiến trực tiếp của những hộ dân trong khu dự kiến quy hoạch và thông báo tại các cuộc họp dân đối với các hộ không có liên quan trực tiếp); thông báo trên loa đài, pano, áp-phích, niêm yết tại xã,...

Ø Quy hoạch có tính đến đặc điểm của địa phương, tránh tình trạng quy hoạch “treo”. Khi có thay đổi về quy hoạch liên quan đến đất đai thì người dân phải được thông tin và giải thích một cách cụ thể chi tiết để hiểu và có các kế hoạch phù hợp trong cuộc sống và sản xuất.

Ø Cần quy định thời gian thực hiện quy hoạch: cấp TW tối đa 10 năm, cấp tỉnh tối đa 3 năm, huyện tối đa 2 năm nhằm hạn chế quy hoạch “treo”. TW quy hoạch tổng thể; tỉnh, huyện quy hoạch cụ thể.

Ø Phải kiên quyết xử lý thu hồi dự án “treo” trả lại đất canh tác cho người dân. Trong trường hợp nhà đầu tư vẫn đang tìm hướng giải quyết tài chính và việc bỏ hoang chỉ là tạm thời thì nên giao cho bà con canh tác hoa màu ngắn vụ. Khi nhà đầu tư sử dụng thì thông báo trước ít nhất 02 tháng để bà con kịp thu hoạch và trả lại đất.

Ø Nên sử dụng đất phi nông nghiệp để quy hoạch các khu công nghiệp.

Ø Quy hoạch nên nghiên cứu về môi trường, kết cấu hạ tầng để hạn chế ảnh hưởng đến người dân. Nên sử dụng đất phi nông nghiệp để quy hoạch các khu công nghiệp.

Ø Quy hoạch đến đâu giải quyết dứt điểm các vấn đề liên quan đến đó.

Ø Có cơ chế để hạn chế tối đa việc chủ đầu tư được cấp phép xong thì thay đổi, điều chỉnh quy hoạch.

2.2. Chế độ sử dụng đất

Chưa có cơ chế và giải pháp để thực hiện việc điều chỉnh biến động trong quá trình sử dụng đất của người dân, phát sinh những vấn đề khó trong công tác quản lý đất ở địa phương.

Tại xã Thạnh Trị huyện Mộc Hoá, một số hộ dân đã cam kết tự nguyện hiến đất để thực hiện dự án xây dựng đê bao lửng của xã như: ông Tô văn Điệp, sinh năm 1940, cư ngụ tại ấp 2, xã Thạnh Trị, huyện Mộc Hóa; Gia đình ông có diện tích đất ở là 8.000m2 và diện tích đất trồng lúa là 2,7 ha, đã tự nguyện hiến 3.000m2 đất (03 công đất) .Hoặc Bà Nguyễn Thị Ví, sinh năm 1933, cư ngụ tại ấp 3 xã Thạnh Trị, huyện Mộc Hóa.Cả nhà có 03 nhân khẩu, sống chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với diện tích 5,3 ha đất trồng lúa nhưng cũng đã tự nguyện hiến 05, 4 công đất (5.400m2). Song các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ này đều đang được thế chấp ở Ngân hàng nhưng họ không đủ tiền trả Ngân hàng để lấy lại Giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất làm thủ tục điều chỉnh diện tích đất đã hiến.Nếu để kéo dài sẽ phát sinh những vấn đề khó trong công tác quản lý đất ở địa phương.

Đề xuất, khuyến nghị

Ø Thời gian giao quyền sử dụng đất nông nghiệp cho người dân ít nhất 30 năm hoặc là sử dụng lâu dài. Mức hạn điền là 5 ha. Để đảm bảo sự ổn định trong sử dụng đất của dân và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế nông nghiệp.

Ø Có cơ chế/quy định để xử lý việc điều chỉnh diện tích đất của các hộ dân đã tự nguyện hiến trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các hộ này.

Ø Có quy định cụ thể trách nhiệm thông tin đến dân về việc cho thuê đất với nhiều hình thức loa đài, triển khai trong họp dân, niêm yết tại xã.

2.3. Định giá

Giá thuê đất công chưa hợp lý giữa các loại đất và khu vực Giá cho thuê đất còn thực hiện theo khung chung, không phân biệt đất do dân khai hoang hay đất do Chính quyền khai hoang hoặc đất đã khai hoang lâu với đất mới khai hoang. Với khung giá chung đó tạo ra sự bất hợp lý, chưa thật sự công bằng đối với hộ dân tham gia thuê đất. Ngoài ra giá cho thuê đất khu vực biên giới cũng bằng giá cho thuê đất lâm trường trong khi ở khu vực biên giới điều kiện canh tác khó khăn hơn do đất khô hạn hơn và việc thực hiện tưới tiêu cũng khó khăn hơn.

Cơ sở định giá chưa rõ ràng và minh bạch và hợp lý dẫn đến sự chêch lệch bồi thường và bồi thường không công bằng giữa các diện tích bị thu hồi.

Theo ý kiến của người dân xã Tân Mỹ huyện Đức Hoà thì có một số hiện tượng liên quan đến việc bồi thường chưa hợp lý. Cụ thể, cùng là đất thu hồi làm bãi vật liệu nhưng lại khác nhau về mức giá 50m đầu: bãi số 1 là 298.000/m2, bãi số 2 là 400.000/m2. Hoặc đất liền kề mặt lộ nhưng khi đền bù lại không tính theo giá đất liền lộ mà lại tính theo giá đất đằng sau, đất có mặt tiền đường 4m lại được đền bù lớn hơn đất có mặt tiền đường 6m.

Đề xuất, khuyến nghị

Ø Cần thuê đơn vị tư vấn độc lập để định giá đất nhằm đảm bảo hài hoà lợi ích giữa dân và nhà nước.

Ø Giá đất của địa phương có giáp ranh với nhau không được chênh lệch quá cao (khoảng 5% là hợp lý);

Ø Có khung giá đất giống nhau giữa các diện tích có cùng đặc điểm;

Ø 5 năm công bố giá đất/lần, tạo ổn định về khung giá đất. Vì nếu giá đất được điều chỉnh hàng năm sẽ tạo ra áp lực rất lớn trong định giá đất khi thu hồi.Cụ thể như: thông thường việc kê biên, áp giá bồi thường và thẩm định giá bồi hoàn thành trong tháng 9. Sau đó công bố giá với dân trong tháng 10. Dân lại chờ giá đất do UBND tỉnh công bố vào đầu năm sau (kéo dài việc thương lượng giá).

Ø Khung giá đất điều chỉnh theo giá thị trường. Giá đất đạt được thỏa thuận khi có 80% người dân tham dự cuộc họp thống nhất và cuộc họp có ít nhất 80% người dân được mời đến tham dự cuộc họp.

Ø Giá đất cho thuê dựa theo chất lượng đất thay vì giá như nhau để tạo công bằng.

2.4. Thu hồi, bồi thường, tái định cư:

Chính sách hỗ trợ tái định cư chưa thực sự “ hỗ trợ” dẫn đến việc cuộc sống của người dân gặp nhiều khó khăn và không được ổn định.

Trong dự án tuyến dân cư Lê Lợi,nhiều người dân thuộc diện thu hồi đất cho đến giờ (sau 12 năm) vẫn chưa mua được đất tái định cư theo cam kết ban đầu dẫn đến nhiều gia đình không có nơi ở ổn định. Một số hộ phải “nhảy dù” vào ở tạm trên những phần đất chưa sử dụng. Bên cạnh đó, việc tăng giá liên tiếp đối với những lô đất “tái định cư” vốn đáng lẽ phải được ưu tiên bán cho người dân đã tự nguyện bàn giao đất (như thỏa thuận), khiến người dân không còn đủ khả năng để có được đất ở. Theo thông báo mới nhất tháng 6/2012, giá đất đã cao hơn 2 lần so với năm 2005 (nếu so với giá bồi thường thì còn cao hơn nhiều lần)

Việc thực hiện bán đất tái định cư không minh bạch khiến người dân chưa đồng tình.

Anh Nguyễn Văn Nguyên cư trú tại khu phố 9, thị trấn Mộc Hóa, huyện Mộc Hóa tỉnh Long An. Năm 2000 UBND huyện Mộc Hóa triển khai thực hiện dự án tuyến dân cư vượt lũ – tuyến dân cư Lê Lợi. Trong triển khai thực hiện triển khai cho người dân về công tác bồi thường, đền bù thì Chính quyền có vận động các hộ bị thu hồi đất rằng: Nếu tự nguyện thực hiện sẽ được chính quyền dành ưu tiên mua 1 lô đất tại khu vực dân cư trên chính đất thu hồi. Nghĩ rằng nếu mua được lô đất này thì có thể dễ dàng tiếp tục canh tác trên diện tích còn lại sau khi thu hồi (vì có lối đi vào chỗ đất sản xuất) nên anh Nguyên đã tự nguyện bàn giao 3.000m2 mặt bằng cho dự án. Nhiều hộ dân khác cũng quyết định như vậy. Giá tại thời điểm đó là 5.000 đồng/m2, tương ứng 50 triệu/ha.

Đến năm 2003, sau 03 năm thực hiện giao đất các hộ dân và anh Nguyên vẫn chưa được mua lô nào ở khu dân cư như lời hứa của Chính quyền. Trên thực tế khu đất đó đã được bán hết. Anh lên UBND trị trấn hỏi về việc này, song chưa được giải quyết thì ông Chủ tịch UBND thị trấn đã thay đổi (Chủ tịch UBND cũ đã nghỉ). Anh lại lên UBND huyện hỏi thì được trả lời : các hộ dân sẽ được bố trí mua ở tại nơi khác. Anh và bà con tiếp tục tin tưởng và chờ đợi. 

Đến 2005, UBND huyện niêm yết giá bán là 54triệu đ/lô đất (với diện tích là 64m2). Tuy đã công bố giá bán nhưng thực tế đất vẫn chưa có.

Năm 2007, UBND huyện tiếp tục đưa ra mức giá mới: 64 triệu đ/lô đất, tính trượt giá 20% so với giá năm 2005. Nhưng cũng vẫn chưa có đất để bán cho 28 hộ.

Anh Nguyên và các hộ dân khác lên UBND khiếu nại và yêu cầu giải quyết thì được UBND cho biết sẽ tổ chức bốc thăm để bán. Anh và các hộ dân đã thực hiện bốc thăm mua đất theo đúng yêu cầu của UBND, nhưng bốc thăm xong thì cũng vẫn phải chờ.

Đến ngày 05/6/2012 Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Mộc Hóa đã gửi Thông báo số 31/TB-TCKH với nội dung “Thông báo về việc nộp tiền sử dụng đất thuộc tuyến dân cư Lê Lợi”. Theo đó các hộ, trong đó có gia đình anh phải nộp 108.800.000 đồng để mua lô đất diện tích 64m2 (1.700.000 đồng/m2).

Có 18 hộ dân, trong đó có gia đình anh Nguyên vẫn đang tiếp tục gửi đơn khiếu nại lên các cấp có thẩm quyền yêu cầu hạ mức giá về thời điểm 2005 là 54 triệu/lô. Theo anh chính vì nguyên nhân chậm trễ của chính quyền trong việc bàn giao mặt bằng mà dẫn đến tình trạng giá đất tăng quá cao so với thời điểm ban đầu (thu hồi). Anh Nguyên và các hộ dân bàn giao đất đúng theo cam kết với chính quyền, vì vậy họ mong muốn chính quyền cũng phải có nghĩa vụ thực hiện đúng lời hứa với dân là ưu tiên bán đất cho các hộ bị thu hồi đất.

Đề xuất, khuyến nghị

Ø Khi thu hồi đất Nhà nước áp dụng hình thức trưng thu, trưng mua. Nếu có đầu tư, Nhà nước nên mua trước và đấu thầu lại cho các doanh nghiệp.

Ø Khi thu hồi đất có phương án hiệu quả hỗ trợ người dân bị thu hồi đất ổn định cuộc sống (tái định cư, học nghề, việc làm, sinh kế...)

Ø Chính sách cho hộ tái định cư phải chính xác, rỏ ràng, phù hợp với các hộ dân nghèo. Có sự quan tâm đến chính sách việc làm cho những hộ tái định cư. Nên có chính sách cho các hộ nghèo, cận nghèo ít nhất là 3 năm.

Ø Khi có phát sinh việc thu hồi đất để phục vụ công trình công cộng (cầu, đường, trường học, trạm xá,,…) thì Chính quyền có thể vận động người dân hiến đất. Trong trường hợp có phát sinh việc thu hồi đất để làm các dự án sinh lợi thì không vận động người dân hiến đất.

Ø Người dân phải được tham gia vào phương án thu hồi đất trước khi triển khai. Hình thức để người dân tham gia là họp lấy ý kiến trực tiếp đối với các hộ liên quan.Trong trường hợp có thu hồi đất thì giá phải được thỏa thuận với người dân.

Ø Việc dân bàn giao đất và việc giao đất tái định cư cho dân phải thực hiện song trùng, không kéo dài thời gian giao đất dẫn đến trượt giá khó khăn cho việc mua đất tái định cư của người dân.

 Một số đề xuất khác:

Ø Giao quyền chủ động cho Chính quyền thị trấn trong toàn bộ công tác quản lý sử dụng đất tại địa phương. Vì thực tế đất thị trấn bao gồm cả đất đô thị và đất nông thôn, song khi có sai phạm trong sử dụng và vi phạm quy định đất đai thuộc đất đô thị lại không do thị trấn xử lý mà do UBND huyện xử lý. Việc này khiến cho công tác quản lý của chính quyền địa phương gặp khó khăn.

Ø Việc thực hiện quản lý đất đai phải được điều chỉnh chủ yếu bằng Luật, hạn chế các văn bản dưới Luật.

Ø Đối với những từ chuyên môn không mang tính hiểu đại chúng phải có giải thích kèm theo bằng từ địa phương, tránh việc người dân hiểu nhầm nghĩa;

Ø Công tác tuyên truyền phổ biến cho người dân đầy đủ hơn về nội dung cụ thể của dự án, những ảnh hưởng của dự án đối với đời sống; thực hiện tốt công tác đối thoại giữa người dân với nhà đầu tư và chính quyền để có những biện pháp hợp lý có lợi cho cả 3 bên;

Ø Có sự kết hợp bản đồ của địa phương với đo vẽ trên thực tế và bản vẽ của tỉnh khi xác định đền bù.

Ø Cần quy định về trách nhiệm của đơn vị cấp giấy phép đầu tư khi xảy ra những thiệt hại cho dân.

Ø Có cơ chế giám sát việc thực hiện của nhà đầu tư trên thực tế và người dân cũng phải được tham gia vào quá trình giám sát này.

Ø Luật phải quy định cụ thể về nghĩa vụ và các chế tài mà nhà đầu tư phải chịu nếu như không thực hiện đúng cam kết gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân.

Ø Nên chọn nhà đầu tư thông qua hình thức đấu thầu, trong đó các nhà thầu ngoài việc chứng minh khả năng tài chính còn cần có phương án bồi thường, tái định cư, di dời cụ thể để người dân lấy ý kiến lựa chọn.

 Nhóm báo cáo tham vấn

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống