Báo cáo tham vấn cộng đồng để góp ý vào Dự thảo luật đất đai sửa đổi tại tỉnh Hòa Bình

10/04/2013

PHẦN I. THÔNG TIN CHUNG

1.1. Mục tiêu

Tham vấn cộng đồng về Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2013 nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý và sử dụng đất cũng như những mong muốn và nguyện vọng của các bên liên quan có tham gia trực tiếp (người dân, doanh nghiệp, chính quyền địa phương), trên cơ sở đó hỗ trợ Viện NCLP đưa ra các khuyến nghị cho dự thảo Luật Đất đai sửa đổi Quá trình tham vấn tập trung thu thập kinh nghiệm và khuyến nghị của nông dân sản xuất quy mô nhỏ, người nghèo, các nhóm yếu thế, nữ chủ hộ và đồng bào dân tộc thiểu số. Nội dung tham vấn chú trọng đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thay đổi trong quyền sử dụng đất, đất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số, định giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Cụ thể, Tham vấn cộng đồng nhằm

- Lắng nghe ý kiến của người dân và các cấp chính quyền về thực trạng quản lý và sử dụng đất hiện nay tại địa phương;

- Có bức tranh tổng thể về những khía cạnh phù hợp và chưa phù hợp của luật pháp liên quan đến quản lý và sử dụng đất;

- Chia sẻ những mong muốn và đề xuất giúp viện NCLP thuộc UBTVQH đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho dự thảo luật đất đai sửa đổi 2013.

Quá trình tham vấn diễn ra tại 05 tỉnh  Yên Bái, Hòa Bình, Quảng Bình, An Giang và Long An. Tại Hòa Bình, các hoạt động tham vấn chính thức diễn ra trong tháng 11-12/2012 tại 6 xã thuộc 3 huyện, bao gồm: Huyện Tân lạc. Lạc Thủy. Kỳ Sơn. Trước khi tham vấn chính thức, tiến trình và phương pháp tham vấn đã được thử nghiệm tại hai xã phường Thịnh Lang và Dân Chủ của TP Hòa Bình.

1.2. Nội dung tham vấn

Hòa Bình là một tỉnh Miền núi có diện tích đất tự nhiên 466.252,86 ha. Trong đó: Diện tích đất nông nghiệp là 66.759 ha; diện tích đất lâm nghiệp là 194.308 ha, diện tích đất chuyên dùng là 27.364 ha; diện tích đất ở là 5.807 ha; diện tích đất chưa sử dụng và sông suối đá là 172.015 ha, đối với đất nông nghiệp có diện tích đất trồng cây hàng năm là 45.046 ha, diện tích trồng lúa là 25.356 hecta, chiếm 60,51% diện tích đất trồng cây hàng năm; diện tích đất trồng cây lâu năm là 4.052 ha, chiếm 6,06%; diện tích đất có mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 900 ha. Dân số trên 83 vạn người, gồm 7 dân tộc cùng chung sống, trong đó dân tộc Mường chiếm hơn 60%, dân tộc Kinh 30%, còn lại là các dân tộc khác. Có 10 huyện, 1 thành phố và 210 xã, phường, thị trấn. 2010 với mục tiêu chung là thu hút vốn đầu tư phát triển thuộc mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước để phát triển sản xuất kinh doanh. Có điều kiện tự nhiên, đất đai, tài nguyên khoáng sản, đặc điểm văn hoá đa dạng và phong phú đã tạo điều kiện cho tỉnh Hoà Bình phát triển mạnh một số lĩnh vực kinh tế như:.  sản xuất vật liệu xây dựng và cung cấp vật liệu xây dựng cho vùng và các tỉnh lân cận. Công nghiệp chế biến nông – lâm sản:  như: đường, tinh bột, chè khô, hoa quả đóng hộp.  Công nghiệp cơ khí, điện tử, may mặc, giày da: dựa trên địa thế tiếp giáp với các trung tâm công nghiệp lớn là Hà Nội, Hà Tây  Đã có 169 cơ sở khai thác khoáng sản như than, quặng kim loại, vàng, sắt atymom . 215 doanh nghiệp và 57 dự án đầu tư sản xuất kinh doanh. Trong báo cáo này tập trung vào một số nội dung liên quan đến việc quản lý và sử dụng đất ở dưới đây :

- Quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất

- Chế độ sử dụng đất

- Định giá đất

- Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

1.3. Phương pháp và tiến trình thực hiện

Sau khi có ý kiến chỉ đạo thống nhất của lãnh đạo tỉnh Hòa Bình, các hoạt động tham vấn đã được thực hiện tại tất cả các cấp, bắt đầu từ cấp thôn, xóm. Cụ thể, có các hoạt động sau đã được thực hiện:

12 cuộc họp dân tại 6 xã, mỗi nhóm họp 15 người dân / cuộc = 360 người/12thôn

- 6 cuộc tham vấn cán bộ xã ( Mỗi cuộc họp 5 - 7 người/ cuộc = 42 người )

- 6 cuộc họp cán bộ xã + dân 2 thôn + DN  ( 30 người/cuộc = 180 người)

- 3 cuộc họp cán bộ huyện ( Mỗi cuộc họp 5 – 7 người = 21 người )

- 1 cuộc họp với cán bộ tỉnh (Mỗi cuộc họp 5 – 7 người )

- 1 cuộc họp với doanh nghiệp ( Mỗi cuộc họp 5 -7 người )

- 1 cuộc họp với cán bộ tỉnh + Huyện + xã + thôn + dân, các cơ quan liên quan, báo trí, truyền hình ( 80 người )

Các câu hỏi đưa ra trong các buổi thảo luận với người dân gồm:

- Việc lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được diễn ra tai thôn, xã, như thế nào? (đối với đất nông nghiệp, đất ở, đất công cộng, đất rừng, đất đầu tư khu công nghiệp v.v ).

- Cấp nào lập quy hoạch? Thời gian quy hoạch?

- Hiện nay quy hoạch đất  nông nghiệp,  đất ở, đất công cộng, đất rừng, đất đầu tư khu công nghiệp, v.v có phù hợp không? Vì sao?

- Những thông tin về quy hoạch có được công khai cụ thể rõ ràng không? Ai tham gia quy hoạch?

- Người dân có biết gì về quy trình lập quy hoạch sử dụng đất hiện nay? biết khi nào? biết qua nguồn nào?   Người dân có được hỏi ý kiến không?

- Nông dân muốn tham gia vào lập quy hoạch đất không?  vì sao ? 

- Từ khi thông báo về quy hoạch đến khi thực hiện mất bao nhiêu thời gian?

- Người dân có đủ thời gian chuẩn bị thực hiện theo QH  không?

- Đã có trường hợp nào khiếu nại về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất? Ai khiếu nại?  vì sao khiếu nại ? Sự việc diễn ra thời gian nào?  Hiện nay được giải quyết như thế nào? có thỏa đáng không? người dân có hài lòng không ?

- Chế độ sử dụng đất được diễn ra ở thôn, xã như thế nào đối với: đất nông nghiệp; đất lâm  nghiệp; đất thổ cư; đất 5%..,  đất khai hoang ?

- Người dân có thấy  hài lòng với chế độ sử dụng đất hiện nay không ? vì sao ?

- Người dân nghĩ gì về hiệu quả sử dụng đất ( từng loại đất)?

- Người dân được giao đất  với những điều kiện gì ( từng loại.đất …)

- Việc định giá đất được diễn ra như thế nào? ( đất NN, đất ở, đất công cộng, đất rừng, đất đầu tư khu công nghiệp v.v ). 

- Người dân có biết khung giá đất của tỉnh không? biết từ đâu?

- Khung giá đất có phù hợp không. Có hài lòng không ? vì sao ?

- Gần đây thôn, xã , huyện ta có thu hồi đất không ?  thu hồi vì mục đích gì ?

- Trình tự thu hồi đất được diễn ra như thế nào?

- Người dân có biết những thông tin liên quan đến thu hồi đất không ? biết bằng cách nào? biết như vậy đã đủ chưa ? cần thêm những thông tin gì?

- Có trường hợp nào bị cưỡng chế thu hồi đất không? vì sao bị cưỡng chế ? người dân có được thông báo trước khi cưỡng chế không ? biết bao giờ ?

- Việc cưỡng chế, được diễn ra như thế nào?  Anh chị thấy cách thực hiện cưỡng chế như vậy có được không? vì sao?

- Người dân có biết về trình tự và thủ tục giải quyết khiếu nại về thu hồi đất  không? Biết qua nguồn nào? Người dân đánh giá như thế nào về việc giải quyết khiếu nại hiện nay

Câu hỏi phỏng vấn cán bộ xã, cán bộ huyện, doanh nghiệp, các cơ quan liên quan

- Vai trò trách nhiệm hiện nay của họ trong quản lý và sử dụng đất

- Những khó khăn thách thức đang gặp phải

- Giải đáp đối với một số trường hợp đang gây tranh cãi hoặc bức xúc (nếu có)

- Đã làm gì để giải quyết thắc mắc ?

- Thời gian tới nên làm gì ?

- Đề xuất giải pháp để quản lý và sử dụng đất hiệu quả hơn.

1.4. Địa bàn và thời gian thực hiện tham vấn

Từ : 13-15 /11 Tham vấn  4 thôn thuộc 2 xã Thịnh Lang và  xã dân chủ TP HB ( thí điểm)

Từ 19-25/11 Tham vấn  5 thôn thuộc 3 xã : Quy Hậu . Phong Phú, Thanh Hối Tân Lạc

Từ 25-30/11 Tham vấn 4 thôn thuộc 2 xã Khoan Dụ , Đồng Tâm huyện Lạc Thủy

Từ 3- 8/12 Tham vấn 4 Thôn thuộc 2 xã Mông Hóa, Phúc Tiến huyện Kỳ Sơn

Ngày 21/1/2013 Hội thảo tham vấn cấp tỉnh

Huyện Tân  Lạc  có diện tích tự nhiên là 53204 ha, , đất phi nông nghiệp 7 582 ha, đất chưa sử dụng 824 ha, đất nông nghiệp 44797 ha trong đó diện tích sản xuất nông nghiệp 8636 ha, đất lâm nghiệp 35890 ha, đất nuôi trồng thủy sản là 177 ha. Năm 2011 toàn huyện có 219 công trình thủy lợi kiên cố, 58 hồ chứa nước tưới. 11 công trình khai thác nguồn nước tự chảy.  Đến nay các công trình này đã dần xuống cấp và không cung cấp đủ lượng nước tưới cho sản xuất nông nghiệp. Để đảm bảo có thêm nguồn nước tưới cho sản xuất năm 20

Xã Quy Hậu

Vị trí địa lý: Xã Quy Hậu Phía Bắc giáp Tây Phong (Cao Phong), phía Nam giáp Thị trấn Mường Khến (Tân Lạc); phía Đông giáp Nam Phong (Cao Phong), phía Tây giáp Mỹ Hòa (Tân Lạc). Dân sốcủa xã là 1.123 hộ, 4.500 nhân khẩu, có 178 hộ nghèo = 16%. Thu nhập bình quân 13,5 triệu/người/năm, lương thực bình quân là 360 kg/người/năm.

Những sự kiện gần đây liên quan đến đất đai:

- Thu hồi đất làm đập gữi nước, kênh dẫn nước hồ Trọng Công trình Hồ trọng được triển khai năm 2008 Mục đích là hồ điều tiết nước phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp của các xã: Phong phú, Tuân Lộ, Quy Hậu, Mường Khến, Quy Mỹ, Địch Giáo.  Tổng diện tích gần 70ha; quá trình thu hồi được diễn ra làm 2 lần. Liên quan đến đất lúa, đất thổ cư và  đất rừng.

- Năm 2010 xây dựng kênh dẫn nước từ  hồ Lao Ca  về tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp xã Quy Hậu

- Làm đường dây 220 và 500 kw năm 1997

Xã Phong Phú

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã:  1.313,67 ha. đất NN: 1.013,48ha; đất rừng 736 ha; trồng lúa 154,99 ha; đất trồng các loại cây khác 49 ha. Đất phi nông nghiệp 330,6ha; đất chưa sử dụng 19,59 ha;. Xã Phong phú  được quy hoạch lại vào năm 2000. Hiện nay đang chỉnh sửa theo quy hoạch của Nông thôn mới.

Những sự kiện gần đây liên quan đến đất đai:

- Xây dựng đập giữ nước, kênh dẫn nước

- Tranh chấp đất sản xuất giữa Lâm trường, nông trường quốc doanh .và người dân địa phương.

Huyện Lạc Thủy

Người dân chưa được tham gia ý kiến vào XD quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất. Quá trình quản lý đất nông nghiệp và đất 02 chưa rõ ràng. Khi xây dựng Công trình chưa đền bù cho người dân đã tiến hành xây dựng công trình. Việc giao đất cho người dân sản xuất nông nghiệp 20 năm dẫn đến người chết thì có đất, người sống không có. Mức giá đền bù  đất đai trong cùng một tuyến khác nhau. Khả năng thực hiện dự án của các nhà đầu tư

Xã Đồng Tâm

Xã Đồng Tâm nằm phía Đông Nam của huyện Lạc Thuỷ giáp danh với 7 xã của 4 huyện thuộc 2 tỉnh Hà Nam và Ninh Bình, có đường quốc lộ 21A chạy qua với diện tích tự nhiên là 6.087 ha, xã có 18 thôn với 1.636 hộ 5.643 khẩu, có 2 dân tộc chính đó là dân tộc Kinh chiếm 87%, dân tộc Mường chiếm 10%, các dân tộc khác chiếm 3%.

Những sự kiện gần đây liên quan đến đất đai

- Công ty AVE phá rừng khi thực hiện dự án Du lịch sinh thái ở khu vực hồ Đồng Tâm ….

- Công ty TH chậm thực hiện đền bù theo thỏa thuận

Xã Khoan Dụ

Xã có 6 thôn. Tổng diện tích đất tự nhiên 1214,62 ha. Đất nông nghiệp 1015,26 ha, đất phi nông nghiệp 130,96 ha, đất chưa sử dụng 68,4 ha. Diện tích đất tự nhiên, đất sản xuất phân chia làm 2 khu, khu ngoài dọc Sông Bôi là đất màu bãi, đất cấy lúa nhiều phù sa, thuận tiện cho việc phát triển trồng cây hoa màu, cây công nghiệp.

Những sự kiện gần đây liên quan đến đất đai

- Giao đất nông nghiệp và đất 02 chưa rõ ràng.

- Công trình kè 2 bên bờ sông Bôi đã tiến hành xây dựng trước khi thực hiện đền bù cho dân

Huyện Kỳ Sơn

Kỳ Sơn là một huyện miền núi thấp của tỉnh Hòa Bình, nằm ở vị trí 22o07' - 26o00' vĩ bắc, 105o48' - 106o25'  kinh đông, có tổng diện tích tự nhiên là 202 km2 (chiếm 4,3% diện tích toàn tỉnh), dân số trung bình 34.800 người (4,4% dân số cả tỉnh), số người trong độ tuổi lao động trên 20.000 người, chiếm trên 60%; tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trên 5.200 người, chiếm 27%. Trên địa bàn huyện có 2 KCN mới thành lập, trên 60 doanh nghiệp đã và đang hoạt động với nhiều ngành nghề khác nhau mật độ dân số 172 người/km2. Huyện Kỳ Sơn phía bắc giáp huyện Ba Vì (tỉnh Hà Tây), phía đông giáp huyện Lương Sơn và huyện Kim Bôi,  phía nam giáp thị xã Hoà Bình, phía tây giáp thị xã Hoà Bình và huyện Đà Bắc. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20.204,36 ha, trong đó, đất nông nghiệp là 2.906,48 ha (14,4%), đất lâm nghiệp là 5.675,26 ha (28,1%), đất chưa sử dụng là 10.744,59 ha (53,2%).

Trong những năm gần đây công tác quy hoạch, lập kế hoạch quản lý sử dụng đất của địa phương còn nhiều vấn đề  bất cập lãnh đạo địa phương khi tiến hành lập người dân chưa được tham gia ý kiến dẫn đến bức xúc ảnh hưởng đến đời sống sinh kế bền vững. Công tác thu hồi đền bù tái định cư cho người dân để xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp… chưa thỏa đáng. Ví dụ :Làm đường cao tốc Láng – Hòa Lạc – Hòa Bình. Xây dựng các khu Công nghiệp, Công ty, doanh nghiệp trong huyện

 

Xã Mông Hóa

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 1.865,8 ha. Trong đó: Đất NN: 1.408,34 ha (Rừng: 1.212,43; trồng cây hàng năm, lúa 194,65; thủy sản: 1,26; đất 5%: 8,7ha).  Đất thổ cư: 269,92 ha; Đất phi NN: 426,22 ha; Đất chưa sử dụng: 31,24 – đồi núi, núi đá; Đất chuyên dùng: 103,51 – giao thông thủy lợi. Những sự kiện gần đây liên quan đến đất đai:

- Làm đường cao tốc Láng – Hòa Lạc – Hòa Bình

- Tranh chấp đất đai, giao đất trồng đất….

Xã Phúc Tiến

Tổng diện tích đất toàn xã là 1865ha, trong đó đất nông nghiệp Lâm nghiệp 1627,36 ha,, đất chuyên dùng 50,44 ha, đất nghĩa địa 4,15 ha  và đất nhà ở 76,41  ha. Các xóm căn cứ vào số diện tích hiện có và số khẩu để phân chia các loại đất theo cách tính bình quân. Đối với đất nông nghiệp đã giao hết cho các hộ dân sử dụng từ năm 1995 -1997 (Theo nghị định 64) khoảng 400m2/khẩu, đã được cấp bìa đỏ, thời gian quản lý sử dụng và khai thác là 20 năm đối với đất nông nghiệp.

Những sự kiện gần đây liên quan đến đất đai:

- Làm đường cao tốc Láng – Hòa Lạc – Hòa Bình

- Xây dựng khu Công nghiệp, Công ty, doanh nghiệp tại xã Phúc Tiến ….

PHẦN II: KẾT QUẢ THAM VẤN

2.1. Quy hoạch sử dụng đất

Ý kiến của người dân và chính quyền xã, phường

Người dân không được biết thông tin rõ ràng về việc lập quy hoạch và tiến trình thực hiện quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch cho các dự án có liên quan đến việc thu hồi đất.  Điều này dẫn đến tình trạng hoang mang, không an tâm sản xuất, thậm chí có những phản ứng gay gắt với chính quyền địa phương cũng như các cơ quan liên quan.

Trong dự án thủy lợi hồ Trọng, người dân ở thôn Khang 2  (xã Quy Hậu ) đã không được thông báo về việc xây dựng và thu hồi đất, bồi thường mất đất như thế nào. Khi thấy cán bộ địa chính xã và các nhà thầu tự tiến hành đo đạc mà không rõ để làm gì, người dân đã ngăn cản các công nhân xây dựng làm việc trên đất của mình. Trong khi đó, ở làng Man xã Phong Phú một số người dân đã được thông báo về việc xây dựng, nhưng chỉ 7 ngày trước khi bắt đầu, còn một số người thì không biết.. Ông Hạnh, một người dân làng Man kể “Khi họ bắt đầu xây dựng, gia đình tôi không biết gì hết. Lúc họ đánh dấu cho kênh tưới tiêu, nó không dính đến đất của chúng tôi, nhưng khi xây dựng, họ đào đất của chúng tôi, sau đó chúng tôi ngăn họ lại, nhưng họ gần như đã đào xong, đội xây dựng muốn chúng tôi để họ hoàn thành nhánh này của kênh tưới tiêu , và họ cho chúng tôi một tờ giấy để ký mất đất”

 

Trong một số trường hợp, ngay chính quyền địa phương cũng không có được thông tin rõ ràng về quy hoạch. Người dân xã Mông Hóa, huyện Kỳ Sơn cho biết một vài lần thấy có người “vác gậy về đo đạc” nhưng không rõ mục đích là để làm gì và cũng không được ai thông báo gì về việc đo đất. Theo UBND xã, đây là những doanh nghiệp tư nhân dự định vào địa bàn và họ thuê người về đo đạc nhưng xã cũng không được biết rõ vì huyện chưa phê duyệt quy hoạch sử dụng đất của xã năm 2010 – 2020. Thực trạng này đã dẫn đến việc người dân thì bức xúc với việc có người đến đo đất mà không biết mục đích, còn cán bộ xã thì lúng túng trong việc đưa ra kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Anh Tần ở xóm

Tình trạng tương tự cũng được nêu ra ở xã Phúc Tiến, huyện Kỳ Sơn. Do thông tin về quy hoạch hầu hết là những lời “đồn thổi” và không có thông tin chính thức từ doanh nghiệp hoặc chính quyền địa phương nên người dân hoang mang, lo lắng, thường có xung đột với các công ty doanh nghiệp dẫn đến việc chính quyền địa phương phải đứng ra giải quyết. Anh Tần ở xóm Đoàn Kết cho biết ““Thấy có C. ty Plazza Anh Kỳ đưa cán bộ về đo không thông báo cho người dân, 1 số hộ dân thông cảm vẫn cho vào đo, còn 1 số hộ không biết thông tin tại sao họ đến đất nhà mình đo đạc với mục đích gì đã đuổi và đánh không cho đo. Mong muốn của người dân là khi có công ty nào về phải triển khai từ xã, họp dân rồi mới được thực hiện các hoạt động như đo đạc”

Ở nhiều địa phương, người dân không được tham gia ý kiến vào việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Điều này đã dẫn đến việc nhiều dự án quy hoạch không phù hợp với thực tế và không đảm bảo quyền lợi của người dân, khiến người dân không đồng thuận với việc thực hiện quy hoạch.

Hầu hết quá trình quy hoạch, lập kế hoạch sử dụng đất phụ thuộc vào tư vấn bên ngoài và đơn vị thi công, trong khi đó những người tư vấn thực hiện lại không hoàn toàn hiểu rõ địa bàn cũng như thổ nhưỡng đất của địa phương. Trong dự án Hồ Trọng và hồ Lao Ca, việc quy hoạch đất có sai lệch so với thực tế bên ngoài. Hậu quả của việc không tham khảo ý kiến​​, không có sự giám sát của người dân là việc xây dựng thủy lợi, hệ thống tưới tiêu hoàn toàn không phù hợp với nhu cầu và điều kiện địa phương, chất lượng công trình kém, gây ra lũ lụt ở một bên của kênh và hạn hán ở phía khác, "kênh chưa hoàn thành và chưa bàn giao, nhưng nó đã bị hỏng ","xây dựng kênh đào để tưới nước cho ruộng, vậy mà có chỗ có nước, có chỗ không, chúng tôi chẳng biết ruộng nào được cấp nước cả!” Nó được xây dựng năm 2009, nhưng cho đến nay vẫn chưa hoàn thành, và bây giờ  phải dừng lại, kênh sâu hơn so với ruộng gây ra lũ lụt cho các ruộng dọc theo kênh, phá hoại mùa màng của chúng tôi "- dân làng Công nói.

Sự kiện công ty AVE thực hiện dự án Du lịch sinh thái ở khu vực hồ Đồng Tâm là một ví dụ khác cho thấy việc người dân không được tham gia ý kiến vào quy hoạch có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề. Việc công ty AVE được cho phép khai thác mặt nước và ven hồ Đồng Tâm làm du lịch sinh thái thì người dân xã Đồng Tâm hoàn toàn không được biết. Mọi chuyện chỉ lộ ra khi công ty bắt đầu “phá rừng”, chặt những cây to hàng trăm năm tuổi quanh hồ. Vì hồ Đồng Tâm là nguồn nước duy nhất cho người dân 9 thôn thuộc xã Đồng Tâm sản xuất và sinh hoạt, nên người dân ở đây rất quan tâm đến sự việc này và đã có những phản ứng mạnh mẽ để ngăn chặn việc phá rừng và làm tổn hại đến nguồn nước duy nhất của mình. Ông Thọ ở thôn Đồng Hòa, xã Đồng Tâm chia sẻ “Người dân hiểu đất đai, môi trường và điều kiện phát triển kinh tế- văn hóa- xã hội.  Nhưng người dân cũng ít có cơ hội tiếp xúc để tham gia ý kiến”

Việc quy hoạch còn manh mún, không đồng bộ nên dẫn đến việc sản xuất của người dân trên phần đất nông nghiệp còn lại nằm giữa những khu quy hoạch gặp khó khăn.

Thực trạng này nổi rõ nhất tại những khu vực đang được đô thị hóa. Tại phường Thịnh Lang, thành phố Hòa Bình, từ 2004 đến nay đã thực hiện thu hồi, giải phóng mặt bằng cho 31 dự án, trong đó có 25 dự án lấy vào đất sản xuất nông nghiệp. Đa số các hộ không bị thu hồi toàn bộ đất nông nghiệp, nhưng do công tác quy hoạch tổng thể không đồng bộ, không lấy toàn bộ một khu vực mà lại mỗi khu lấy một chút cho một dự án nên gây rất nhiều khó khăn cho bà con trong việc tiếp tục sử dụng những phần đất còn lại để tiếp tục sản xuất.  Rất nhiều hộ gia đình đang trong tình trạng có đất mà không canh tác sản xuất gì được. Lý do là vì phần đất đó của họ nằm kẹt giữa các dự án, các quy hoạch khác nhau, có những trường hợp sau khi bị vài dự án mỗi dự án lấy một phần thì mảnh đất còn lại quá nhỏ. Hơn nữa, hệ thống kênh mương thủy lợi phục vụ sản xuất trước đây cũng đã bị phá hủy trong quá trình xây dựng các dự án.

Ông Võ Văn Định, Phó Chủ tịch UBND phường Thịnh Lang kể “Bà Nguyễn Thị Lan ở tổ 12 có mảnh đất 450m2. Dự án quy hoạch khu dân cư Thịnh Lang đã thu hồi 300m2, sau đó Dự án Trường Văn hóa nghệ thuật Tây Bắc lại tiếp tục lấy 100m2. Đất của nhà bà còn lại 50m2 nằm kẹt ở góc khe của hai dự án. Từ nhiều năm nay (từ 2004) mảnh đất này vẫn để không, không trồng cấy gì được vì đường vào thì khó, cũng không có nước tưới do hệ thống kênh mương đã bị các dự án lấy đất hoặc làm hỏng.”

 

Quy hoạch không rõ ràng về trách nhiệm quản lý dẫn đến nhiều tranh chấp giữa người dân với nông, lâm trường, khiếu kiện kéo dài tới nhiều cấp chính quyền, đồng thời ảnh hưởng tới tài sản của nhiều bên.

Theo lời kể của người dân xóm Nhót, xã Thanh Hối, huyện Tân Lạc,  năm 1985, một phần đất rừng (43 ha) của xóm được chuyển giao từ hợp tác xã thôn sang lâm trường ở Tân Lạc quản lý. Mọi người dân trong làng (đặc biệt là những người già) cho rằng đây đơn thuần là việc xóm cho Lâm trường mượn đất. Vào năm 2008, người dân xóm Nhót phát hiện lâm trường cho người đi đo đất và lập bản đồ khu vực đất này. Bản đồ này được ký không có sự tham gia của người dân. Theo phản ánh của người dân, Lâm trường đã lạm dụng quản lý 100 ha đất của thôn, bao gồm 20 ha rừng tái sinh giúp bảo vệ nguồn nước phục vụ sinh hoạt của người dân xóm Nhót. Cùng năm đó, Lâm trường đã phá hủy rừng tái sinh, và chặt những cây già. Ngay sau khi rừng bị phá hủy, người dân xóm Nhót đã khiếu nại tới chính quyền xã Thanh Hối và huyện Tân Lạc về việc này và yêu cầu các cấp chính quyền giải quyết. Đồng thời, người dân cũng yêu cầu lãnh đạo Lâm trường trả lại 43 ha đất rừng mà xóm đã cho Lâm trường mượn từ năm 1985. Chính quyền xã Thanh Hối và huyện Tân Lạc đã không giải quyết được khiếu nại. Sau đó, người dân xóm Nhót tiếp tục gửi đơn khiếu nại đến UBND tỉnh Hòa Bình. Năm 2009, UBND tỉnh Hòa Bình đã trả lời khiếu nại của người dân thôn Nhót bằng một công văn yêu cầu UBND huyện Tân Lạc xem xét giải quyết dứt điểm khiếu nại! Tiếp đó, UBND huyện Tân Lạc và UBND xã Thanh Hối đã tổ chức nhiều cuộc họp với Lâm trường bàn biện pháp giải quyết nhưng lại chưa hề có buổi đối thoại trực tiếp nào với người dân thôn Nhót.

Từ năm 2008 đến nay, do khiếu nại của người dân xóm Nhót không được giải quyết dứt điểm và để kéo dài đã gây ra căng thẳng ngày càng gay gắt giữa người dân xóm  Nhót với Lâm trường. Khi Lâm trường thuê lao động ở vùng khác đến làm việc ở khu vực đất đang tranh chấp gặp phải sự ngăn cản của người dân xóm Nhót. Kết quả là Lâm trường  không thể sử dụng phần đất tranh chấp. Ngược lại, hiện cây do người dân trồng trên diện tích đất tranh chấp đã lớn nhưng họ cũng không thể thu hoạch được.

 

Người dân xã Phúc Tiến và lâm trường cũng đang tranh chấp về diện tích khoảng 60ha đất ở ven đường. Lâm trường thì không đưa ra được bằng chứng bằng văn bản cho thấy phần diện tích tranh chấp này đã được giao cho lâm trường. Người dân thì cũng không chấp nhận được lý lẽ “chỗ nào trồng rừng là đất lâm trường”.  Việc phân định không rõ ràng về quyền quản lý đất cũng dẫn đến những trường hợp hai hoặc nhiều hộ dân đồng thời được giao cùng một mảnh đất. Cụ thể như ở xã Mông Hóa, gia đình ông Bùi Đình Như được UBND huyện Kỳ Sơn cấp quyền sử dụng đất cho một thửa đất rừng phòng hộ từ năm 1998,  mãi gần đây lại phát hiện ra cũng có một hộ gia đình khác (gia đình ông Đinh Hồng Hạnh) cũng được Xí nghiệp lâm nghiệp Kỳ Sơn giao cho thửa đất này năm 2003 để phát rừng trồng cây lâm nghiệp. Diện tích cấp chồng nhau là 11ha, trên đó ông Hạnh đã trồng và khai thác được một chu kỳ 8 năm . Năm 2011 đại diện người dân xóm 3 đã gửi đơn đề nghị xã giải quyết nhưng đến nay nhiều lần hỏi thì được Lãnh đạo xã trả lời là làm việc với Xí nghiệp lâm nghiệp và huyện Kỳ Sơn. Việc tranh chấp này mãi đến nay vẫn chưa giải quyết xong.

Nhiều dự án quy hoạch treo gây khó khăn cho cuộc sống người dân

Người dân ở một số địa phương tham gia tham vấn đang gặp khó khăn với vấn đề “quy hoạch treo”, cả trong trường hợp quy hoạch mới chỉ được thông báo lẫn trường hợp quy hoạch đã thông báo, đã đo đạc kiểm đếm và thống nhất bồi thường nhưng không thực hiện đúng thời hạn.

Tại phường Thịnh Lang thành phố Hòa Bình, có dự án Quy hoạch Công viên Hồ Thịnh Lang với tổng kinh phí thực hiện là khoảng 90 tỷ ðồng ðýợc phê duyệt từ nãm 2008. Theo quy ðịnh, trên diện tích nằm trong quy hoạch thì không được tiến hành xây dựng hoặc cơi nới, sửa chữa quan trọng. Từ đó đến nay đã gần 5 năm mà quy hoạch vẫn để đó chưa thực hiện, có những hộ gia đình nhà cửa xuống cấp hoặc các gia đình có điều kiện muốn xây mới, sửa chữa nhà cửa đã đề nghị rất nhiều lần nhưng chính quyền địa phương vẫn không giải quyết vì sợ sai quy định. Điều kiện sống không đảm bảo khiến người dân đã nhiều lần phản ứng với chính quyền địa phương.

Cụ thể như trường hợp nhà ông Nguyễn Văn Tùng ở tổ 5 phường Thịnh Lang phải sống trong một căn nhà công trường cấp 4 xây dựng từ trước năm 1986. Căn nhà của gia đình ông nằm trong quy hoạch Công viên Hồ Thịnh Lang. Năm 2009, vì ngôi nhà đang trong tình trạng xuống cấp (tường rạn nứt) cộng thêm việc con cái trưởng thành mà nhà ở thì chật chội (30m2) nên gia đình ông Tùng muốn xây lại ngôi nhà. Nhưng do nằm trong quy hoạch nên gia đình ông không được phép xây dựng, cũng không được cơi nới sửa chữa lớn. Từ năm 2009 đến nay đã 3 năm, gia đình ông vẫn tiếp tục phải sống trong căn nhà cấp 4 xuống cấp đó. Mùa mưa trong nhà lúc nào cũng ẩm ướt vì dột và tường bị ngấm, mùa hè thì nóng nực vì mái nhà thấp trong khi con cháu thì đông. Ông Võ Văn Định, Phó Chủ tịch UBND chia sẻ “Thấy bà con khổ như thế, chúng tôi là cán bộ địa phương đi làm công tác giải phóng mặt bằng cũng không thoải mái tí nào, mặc dù đó là công việc của mình”

Quy hoạch dự án 1/500 (Khu vui chơi giải trí cao cấp, dự án sinh thái kết hợp nuôi trồng thủy sản) tại xă Đồng Tâm, huyện Lạc Thủy thì lại “treo” kiểu khác. Dự án này thu hồi một phần diện tích đất lâm nghiệp (đất 54) ở phía Tây Bắc hồ Đồng Tâm. Dự án đã hoàn thành việc kiểm đếm vào đầu năm 2012, và dự định trả tiền bồi thường vào tháng 8.2012 nhưng cho tới giờ vẫn chưa thấy có động tĩnh gì. Theo quy định, sau khi đã kiểm đếm thì người dân không được tiếp tục sản xuất, khai thác trên đất đã kiểm đếm. Người dân không được tiếp tục sản xuất thì không có thu nhập nhưng cho đến giờ vẫn chưa nhận được đền bù. Hơn thế nữa, trên đất lúc kiểm đếm đó có rất nhiều hoa màu cây trồng. Đợt bão số Tám nhiều cây bị gãy đổ, nhưng người dân không được phép bán mà phải để nguyên đó. Ông Bùi Đình Thi, thôn Đồng Hòa bức xúc “Dự án lấy thì không lấy, mà cũng không cho dân sử dụng và canh tác. Người dân thấy đất để đó, hoa màu thì bị chết dần mà thấy xót xa trong khi mình không có thu nhập.”

Ý kiến của lãnh đạo tỉnh, huyện

Phát biểu trong Hội thảo tổng kết kết quả tham vấn cấp tỉnh, ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã ghi nhận và đồng ý với thực trạng về quy hoạch đất đai trong tỉnh được người dân nêu ra. Ngoài ra, ông có nhấn mạnh thêm một số điểm bất cập sau về quy hoạch:

- Quy hoạch sử dụng đất chưa đồng bộ với các quy hoạch chuyên ngành, việc quản lý, thực hiện quy hoạch còn yếu

- Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và cấp xã đã được phê duyệt nhưng chất lượng chưa cao, chậm được rà soát điều chỉnh. QH đất cấp tỉnh đã được điều chỉnh nhưng chưa cập nhật được với một số quy hoạch của TƯ trên địa bàn tỉnh

- Một số dự án đầu tư của TƯ chưa được đăng ký danh mục đầu tư, chưa có phương án trong nội dung QH, KH SDD đã phê duyệt

- Địa phương thiếu kinh phí giải phóng mặt bằng nên tiến độ thực hiện dự án đầu tư thường bị chậm.

Đề xuất/ Khuyến nghị

- Thông tin rõ ràng cho người dân ngay khi có quyết định về quy hoạch. Khi công bố quy hoạch, phải công bố rõ cả lộ trình và thời gian thực hiện dự án để người dân trong vùng dự án có thể theo dõi, giám sát và phản hồi khi phát hiện thấy có sai lệch. Việc cung cấp thông tin cần được thực hiện một cách chính thống (chính quyền thông báo).

- Việc quy hoạch phải đồng bộ, không manh mún, đảm bảo việc sản xuất của người dân trên những diện tích đất còn lại

- Có cơ chế lấy ý kiến người dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

- Khi quy hoạch các dự án, nên bố trí các doanh nghiệp vào những vùng đất không phải đất nông nghiệp để bà con khỏi mất đất

- Việc lập và thực hiện quy hoạch cần có người dân và các ban ngành đoàn thể tham gia giám sát.

- Quy định rõ ràng trường hợp quy hoạch không triển khai như kế hoạch thì bà con trong vùng dự án phải được quyền sinh sống bình thường như những vùng không quy hoạch (xây dựng, canh tác, quy hoạch, v.v)

2.2. Chế độ sử dụng đất

Ý kiến của người dân và chính quyền xã, phường

Đất đai do các nông lâm trường quản lý rộng, không sử dụng hết phải đem cho dân thuê hoặc cho người khác thầu khoán, trong khi người dân không có đất để sản xuất. Điều này là một nghịch lý trong quản lý và sử dụng đất, và đã làm phát sinh nhiều mâu thuẫn, xung đột giữa người dân với các nông, lâm trường.

Lâm trường Tân Lạc được thành lập năm 1979, trực thuộc Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình. Công ty này quản lý 10.000 ha đất rừng của huyện Tân Lạc với đội ngũ cán bộ ít ỏi. Sau một thời gian, do thiếu lao động và năng lực quản lý đất và rừng, Lâm trường Tân Lạc dần dần trả lại đất cho cộng đồng địa phương quản lý. Hiện tại, Lâm trường còn giữ 2.150 ha đất rừng thuộc 8 xã của huyện Tân Lạc, trong khi chỉ có 10 cán bộ quản lý và 3 công nhân. Do thiếu lao động để sản xuất và bảo vệ rừng nên từ năm 1986 đến năm 2001, Lâm trường Tân Lạc đã huy động người dân địa phương tham gia vào Dự án trồng rừng 327. Nhiều hộ gia đình đã tham gia trồng và bảo vệ cây lấy gỗ và được nhận tiền công. Từ năm 2002, Lâm trường Tân Lạc đã “giao khoán” đất của lâm trường cho người dân  địa phương để trồng và bảo vệ rừng. Lâm trường kí kết “Hợp đồng nguyên tắc trồng rừng nguyên liệu” và “Hợp đồng vay vốn trồng rừng nguyên liệu” với người dân (khoảng 250 - 300 hộ gia đình) trong huyện Tân Lạc. Hợp đồng vay vốn có thời hạn 07 năm (từ năm 2002 - năm 2008), tương ứng với thời gian trưởng thành của cây lấy gỗ. Theo Hợp đồng này, người trồng rừng đã nhận được giống, phân bón và hỗ trợ kĩ thuật từ Lâm trường. Họ chỉ cần đầu tư công sức lao động. Khi hợp đồng kết thúc, những người trồng rừng phải trả cho Lâm trường các sản phẩm gỗ.

Theo ông Nguyễn Văn Thịnh - Giám đốc Lâm trường Tân Lạc - lâm trường đang phải đối mặt với những tranh chấp về đất đai với người dân tại 5 xã trên tổng số 8 xã mà Lâm trường có dịên tích đất đan xen Kể từ năm 2008, những tranh chấp  lớn về đất bắt đầu phát sinh, người dân từ chối kí hợp đồng trồng rừng với lâm trường và ngăn cản công nhân lâm trường sử dụng trên phần đất tranh chấp. Các cấp chính quyền xã và huyện Tân Lạc đã can thiệp, nhưng không thể giải quyết được. Giám đốc Lâm trường Tân Lạc cho biết: “Do những xung đột như vậy, vào năm 2012, Lâm trường chỉ hoàn thành việc trồng 21 ha rừng/tổng số 200 ha đất lâm nghiệp mà Lâm trường quản lý”.   Lâm trường Tân Lạc rất lo lắng về căng thẳng đang xảy ra trong khi năng lực quản lý của Lâm trường đối với một vùng đất lớn lại rất hạn chế. Lâm trường cũng đang thảo luận với chính quyền huyện Tân Lạc để trả lại 1.000 ha cho chính quyền địa phương (bao gồm  rừng phòng hộ, rừng sản xuất, và rừng tâm linh), Lâm trường sẽ giữ hơn 1.000 ha còn lại.

Lâm trường Thanh Hà (thuộc Công ty TNHH một thành viên Thanh Hà) quản lý diện tích đất khoảng 2000 ha nằm trên địa bàn 13 xã của huyện Lạc Thủy ( xã Phú Lão, Phú Thành, Cố Nghĩa, Hưng Thi, Lạc Long, Liên Hòa, Khoan Dụ, Đồng Môn, Đồng Tâm, An lạc, An Bình, Thanh Nông, và Thị trấn Thanh Hà). Những tranh chấp về địa giới đất rừng của người dân với lâm trường này đã kéo dài suốt 4 năm nay mà chưa giải quyết xong. Thực tế, diện tích đất do lâm trường quản lý rất lớn, trong khi cán bộ nông trường rất ít (chỉ khoảng 20 người  gồm cả cán bộ quản lý và công nhân không đủ khả năng để quản lý cũng như sản xuất trên địa bàn rộng như vậy. Với số lượng công nhân 11 người, lâm trường chỉ trực tiếp sản xuất trên khoảng 1/3 diện tích họ quản lý. Trên diện tích còn lại, lâm trường thuê người dân trồng rừng theo hình thức giao đất cho người dân trồng những loại cây theo quy định của lâm trường, sau đó hàng năm người dân phải nộp lại cho lâm trường một số lượng sản phẩm nhất định (nếu không đủ thì nộp số tiền tương đương). Hiện nay có hơn 1000 hộ dân tham gia nhận khoán đất với nông trường.

Ngoài việc bất bình với chế độ thuê đất bằng sản phẩm mà người dân gọi là “phát canh, thu tô” này, người dân còn không yên tâm với việc sản xuất theo hợp đồng 5 năm. Lý do là vì việc phát triển  kinh tế trang trại, cải tạo rừng đều liên quan đến chu kỳ đầu tư vốn và cải tạo đất. Nếu người dân chỉ nhận được hợp đồng 5 năm thì không hợp lý vì sau khi cải tạo, mới đi vào ổn định và đem lại lợi nhuận. Từ đó cũng dẫn đến việc người dân không dám đầu tư vốn và vật tư sản xuất để có năng suất và hiệu quả cao, đồng thời cũng khiến đất rừng rơi vào tình trạng liên tục bị khai thác mà không được đầu tư trở lại.

Có nhiều trường hợp hộ dân nhận giao khoán đất của nông, lâm trường là những người trước đây là công nhân lâm trường được chuyển về cho địa phương quản lý. Nhưng người thì về địa phương, đất vẫn do nông, lâm trường giữ trong khi quỹ đất địa phương không có thêm nên những người này không được chia đất. Họ chỉ có thể trông chờ vào đất nhận khoán của lâm trường để ở và sản xuất. Trong khi đó, người dân nhận đất khoán không có quyền sử dụng đất như đất được địa phương giao. Họ không có chứng nhận quyền SDĐ (bìa đỏ) mà chỉ có hợp đồng nhận khoán (bìa xanh) của lâm trường cấp, không thể sử dụng để vay vốn ngân hàng. Nếu những phần đất lâm trường mà họ nhận khoán nằm trong quy hoạch bị thu hồi thì khi đó họ sẽ không còn chỗ nương thân vì không có điều kiện để được nhận bồi thường.

Về thời hạn giao đất, hầu hết người dân tham gia đóng góp ý kiến đều cho rằng thời hạn 20 năm đối với đất nông nghiệp và 50 năm đối với đất lâm nghiệp là phù hợp để đầu tư sản xuất các loại cây phù hợp với những loại đất này.

Trong khi đó, cũng có một số ý kiến cho rằng thời hạn 20 năm là quá ngắn, do lo ngại rằng nếu tính 20 năm là chỉ còn vài năm nữa sẽ chia lại đất nên ngại không dám tiếp tục đầu tư sản xuất, tái tạo màu cho đất. (Ý kiến của đại diện xã Mông Hóa đưa ra tại Hội thảo tỉnh).

Ngược lại với ý kiến này, có nhiều ý kiến ủng hộ việc giữ nguyên thời hạn 20 năm vì cho rằng chỉ khi chia lại đất thì mới đảm bảo những nhân khẩu mới phát sinh có đất, và đất của những nhân khẩu đã qua đời hoặc chuyển đi nơi khác sẽ được thu lại và phân chia hợp lý. Cách suy nghĩ này cũng đồng thời phản ánh sự quan tâm chung của người dân đối với việc đất đai đang được giao không đồng đều – có những người đã mất từ lâu hoặc có những gia đình đã bỏ đi khỏi địa phương từ lâu nhưng vẫn sở hữu quyền sử dụng đất, trong khi đó có nhiều hộ gia đình hoặc nhiều nhân khẩu mới sinh ra hoặc nhập cư về địa phương lại không có đất sản xuất.

Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kéo dài, gây trở ngại cho người dân khi muốn thực hiện các thủ tục vay tiền đầu tư sản xuất, hoặc chứng minh tính hợp pháp trong việc sử dụng đất của mình.

Tại thôn Cộng 2 xã Quy Hậu, nhiều hộ gia đình đã làm thủ tục xin cấp  chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất vườn và đất ở nhưng cho đến nay vẫn chưa được cấp. Điều này khiến người dân gặp rất nhiều khó khăn trong việc hoàn thành thủ tục vay vốn của ngân hàng cũng như một số quy định thủ tục khác, gây trở ngại cho việc đầu tư sản xuất của người dân. Người dân ở đây rất bức xúc vì đất của họ không phải đất mới mà là đất khai hoang từ trước năm 1993, và thôn Cộng 2 thực tế là tách ra từ thôn Cộng 1 – nơi người dân không gặp trở ngại gì trong việc xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh Hiệu ở xóm Cộng 2 nói “Sau khi quy hoạch, chúng tôi 3 lần đóng tiền để làm sổ đỏ (mỗi lần 15.000đ, đóng cho trưởng xóm vì họ là người đứng đầu xóm, năm 1989 đóng lần 1; 1991 lần 2; 2002 lần 3), chỉ được trả lời là cuối năm, sang năm. Chúng tôi rất muốn xã bảo cho chúng tôi biết: Dân phải làm như thế nào? Địa chính đến đo đạc 3 lần, thu mỗi người 140 nghìn năm 1994, 1999, 2008. Chúng tôi không biết Nhà nước cần chúng tôi làm gì nữa mới cấp sổ đỏ”

Các quy định và trình tự thủ tục cấp giấy CNSDD rắc rối và không đảm bảo đủ công khai và minh bạch. Điều này khiến người dân mất khá nhiều công sức đi đi lại lại giữa các cơ quan để hoàn thành thủ tục cũng như “hỏi thăm” tiến độ cấp giấy chứng nhận SDĐ của gia đình mình. Có những trường hợp do không được giải thích rõ ràng nên người dân lo ngại dẫn đến những phản ứng không phù hợp.  

Mặc dù nhà nước đã quy định ghi tên cả vợ và chồng vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng giấy chứng nhận của nhiều hộ gia đình hiện nay ở xã Mông Hóa vẫn chỉ có tên của chồng mà không có tên vợ. Điều này dẫn đến tình trạng trớ trêu là có trường hợp, khi người chồng không may chết đi, người vợ muốn làm thủ tục thế chấp vay ngân hàng lại cứ phải ra UBND xã để xin xác nhận. Chưa kể, trong những trường hợp có tranh chấp đất đai, người phụ nữ sẽ phải gánh chịu nhiều thiệt thòi khi không chính thức có tên trên giấy chứng nhận quyền SDĐ.

Tình trạng thường thấy ở địa phương hiện nay là các hộ gia đình sau khi tách hộ, chia đất cho con cháu thì xây luôn nhà ở trên đất vườn mà không làm các thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất cũng như chuyển quyền sử dụng đất. Cán bộ địa chính xã và người dân cho rằng việc này xảy ra là do hạn mức sử dụng đất thổ cư thấp so với khu vực nông thôn, nơi người dân thường xây nhà ở trên diện tích lớn hơn so với ở khu vực thành thị, dẫn đến việc không đủ để có thể chia tách hoặc chuyển nhượng. Bên cạnh đó, số tiền phải nộp khi chuyển đổi mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất thổ cư khá cao so với mức thu nhập nên người dân không muốn làm các thủ tục này mà cứ thế làm nhà và ở trên đất nông nghiệp.

Đề xuất/ Khuyến nghị

- Xúc tiến nhanh việc cấp giấy chứng nhận QSD đất cho những người đủ tiêu chuẩn (khai hoang trước 1993)

- Giấy CN quyền SD đất phải có cả tên vợ và chồng

- Rút ngắn thời gian làm thủ tục cấp chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Cung cấp thông tin rõ ràng cho người dân về trình tự thủ tục cấp chứng nhận QSD đất

- Điều chỉnh phù hợp để những người không có đất được cấp đất (từ quỹ đất 5%, đất cho thuê khoán, đất nông lâm trường)

- Quy hoạch đất rừng sản xuất và rừng phòng hộ rõ ràng và giao cho người dân quản lý

- Rà soát và thu hồi những phần đất nông lâm trường sử dụng không hết để giao cho người dân sản xuất

- Bổ sung Bổ trách nhiệm quản lý rõ ràng của UBND xã đối với việc quản lý đất của địa phương

- Định hướng thực hiện phù hợp cho những trường hợp cấp chứng nhận quyền SDĐ đối với những trường hợp công nhân lâm trường đã ở lâu trên đất nông lâm trường mới được chuyển về địa phương quản lý.

- Xem xét sửa đổi bổ sung Luật so với việc điều chỉnh cơ cấu tổ chức HĐND các cấp để đảm bảo thống nhất trong việc lập và xét duyệt quy hoạch SDD cấp huyện xã

- Bổ sung quy định liên quan đến việc những hộ sử dụng đất ở làm đất kinh doanh, hoặc những hộ chuyển đổi mục đích kinh doanh so với ban đầu

2.3. Định giá đất

Ý kiến của người dân và chính quyền xã, phường

Ý kiến chung của người dân là cách tính giá đất đang có nhiều điểm không hợp lý, cụ thể như sau

Mức bồi thường thu hồi đất thấp hơn so với thuế đăng ký đất theo quy định của nhà nước. Ví dụ như cách tính mức bồi thường đất nông nghiệp cho dự án Hồ Trọng.  "Khi tôi nộp đơn xin sổ đỏ cho đất vườn, tôi phải trả tiền thuế cho 55.000 đồng/m2, nhưng nhà nước bồi thường cho đất nông nghiệp lại chỉ có 36.000 đồng/m2-  một cái giá rất rẻ.” (Ông Dũng, xóm Cộng 2, xã Quy Hậu)

Cơ sở quyết định giá không rõ ràng. Trong dự án Hồ Trọng, mức bồi thường được dựa trên bảng giá đất trên huyện và xã được thông báo vào ngày mùng 1 hàng năm. Theo nhân viên địa chính xã, tỷ lệ bồi thường là thấp hơn giá thị trường. Ví dụ, giá thị trường của đất nông nghiệp dọc theo đường cao tốc số 6 là 150,000-180,000 đồng/m2, nhưng giá đất của huyện là chỉ có 65.000 đồng/m2. Hàng năm, cán bộ địa chính xã (Quy Hậu) tiến hành khảo sát giá đất trong khu vực bằng cách hỏi giá những người nông dân đã bán đất và ông đã lấy mẫu giá tại 3 địa điểm của xã, sau đó ông gửi kết quả khảo sát lên huyện làm cơ sở để xác định giá đất. Tuy nhiên giá đất huyện luôn luôn là thấp hơn so với điều tra của ông, đặc biệt là giá đất gần trung tâm xã. Ông thậm chí còn nói rằng lãnh đạo đã yêu cầu ông điều chỉnh giá khảo sát thấp hơn  để khớp với giá của chính quyền và nguyên nhân vì sao phải làm vậy thì ông cũng không được biết.

Giá đất phụ thuộc và giá trị mà nó tạo ra, vậy mà giá đất nông nghiệp khi đền bù giải phóng mặt bằng rất thấp không thay đổi từ nhiều năm nay, trong khi giá cả sản phẩm từ đất đã tăng rất nhiều lần. Mức giá được áp dụng suốt từ năm 2009 đến nay là 65,000 đồng/ 1 m2 cho đất nông nghiệp loại 1 và 55,000 đồng/ 1 m2 cho đất loại 2. Trong thời gian này, giá cả các sản phẩm nông nghiệp trồng trên những loại đất này đã tăng không biết bao nhiêu lần. Nếu tính giá trị thu hoạch hoa màu mỗi năm trên đất hiện nay thì người nông dân phải chịu thiệt tḥi rất nhiều khi mất đất.

Nói chung, người dân đều có chung ý kiến rằng cách tính giá đền bù giải phóng mặt bằng hiện nay là không phù hợp, không đủ đảm bảo cho bà con sau khi bị thu hồi đất có thể có nơi ở mới ổn định. Giá đền bù đất thổ cư, dù được xếp vào loại đất nào thì với số tiền đền bù người dân cũng khó mà mua được một mảnh đất tương đương, chưa kể đến việc còn phải xây lại nhà để ở. Với đất sản xuất cũng vậy, cách tính giá hiện nay không cho phép các hộ nhận đền bù có thể mua lại đất tương đương để tiếp tục sản xuất

Giá đất đề bù, giải phóng mặt bằng ở địa phương chúng tôi áp dụng từ năm 2009. Đất một vụ lúa là 55.000đ/m2. Đất hai vụ lúa là 65.000đ/m2. Mức giá này không có mấy thay đổi so với những năm qua, trong khi giá thị trường thay đổi chóng mặt, từ 3 đến 4 lần”. Ông Vũ văn Định Phó chủ tịch UBND phường Thịnh Lang ( TP Hòa Bình ) chia sẻ. Ông Định là người đại diện cho nông dân phường Thịnh Lang nêu ý kiến “ Nông dân sống nhờ vào đất và những thứ làm ra từ đất” chỉ tính sơ bộ từ 1m2 đất , nông dân thu được 4 đến 5 mớ rau/ lứa. Mỗi năm trồng 10 lứa, ít nhất mỗi năm cũng thu được 30 mớ rau. Bán được ít nhất 150000đ. Đó là chưa kể giá trị sản xuất trong nhiều năm. Vậy khi áp giá chỉ có 55.000đ/m2 là không khoa học tí nào .”

Ngoài ra, cũng có những ý kiến cho rằng quy định về vị trí đất ở nông thôn có nhiều điểm  chưa hợp lý. Ví dụ cùng trên một tuyến đường quốc lộ, tỉnh lộ lại có giá khác nhau, hoặc đất ở những khu trung tâm, gần khu du lịch sinh thái có giá trị cao hơn nhưng lại chỉ được tính tương đương với những chỗ khác khiến người dân không chấp nhận.

Ý kiến bổ sung của lãnh đạo UBND tỉnh (ông Nguyễn Văn Dũng, PCT UBND tỉnh)

Các DA được triển khai theo hình thức nhà đầu tư tự thỏa thuận với dân bị khó vì người sử dụng đất thường đòi giá cao hơn so với thị trường, Diện tích manh mún không tập trung nên khó đầu tư. Bên cạnh đó, giá thỏa thuận cao hơn giá UBND tỉnh quy định nên gây khó khăn cho các dự án khác triển khai bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn vì giá chênh lệch nhau.

Các loại VBPL về giải phóng mặt bằng và hỗ trợ TĐC chưa được đồng nhất, cụ thể nên khiến một số dự án thời gian thực hiện bồi thường GPMB bị kéo dài, không đúng tiến độ, có trường hợp phải áp dụng cưỡng chế

Đề xuất/ Khuyến nghị

- Tính giá đất, đặc biệt là giá đền bù cần phù hợp với giá trị của đất

- Giá đền bù đất nông nghiệp phải tính trên cơ sở giá trị sản phẩm trồng trên đất đó vào thời điểm thu hồi.

- Sửa đổi quy định UBND cấp tỉnh quyết định giá đất theo hướng ban hành bảng ổn định 5 năm, trường hợp có biến động thì CT UBND tỉnh ban hành QĐ điều chỉnh giá đất khu vực đó cho phù hợp.

- Thông báo và đảm bảo có sự đồng thuận của người dân đối với mức giá đền bù trước khi quyết định.

2.4. Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Ý kiến của người dân và chính quyền xã, phường

Nhiều dự án thông báo thu hồi, đã thực hiện kiểm đếm nhưng rất lâu vẫn chưa trả tiền đền bù hoặc chỉ trả được một phần. Người dân mất nguồn sinh kế nhưng cũng không thể đi nơi khác ổn định cuộc sống.

Dự án 1/500 trên địa bàn xã Đồng Tâm đã hoàn thành việc kiểm đếm vào đầu năm 2012, và dự định trả tiền bồi thường vào tháng 8.2012 nhưng cho tới giờ vẫn chưa thấy có động tĩnh gì. Theo quy định, sau khi đã kiểm đếm thì người dân không được tiếp tục sản xuất, khai thác trên đất kiểm đếm. Như vậy, những hộ gia đình thuộc diện thu hồi đất hiện đang không có nguồn thu nhập do không có đất sản xuất và cũng vẫn chưa nhận được đền bù để tái sản xuất ở nơi khác. Cùng lúc đó, những hoa màu cây trồng trên đất đã kiểm đếm bị gãy đổ sau đợt bão số Tám mà người dân cũng không thể đem bán để có thu nhập.

Còn người dân xóm Cộng 2, xã Quy Hậu thì lại rơi vào tình trạng dự án đã thực hiện nhưng chưa nhận được đền bù. Đây là quy hoạch thu hồi đất nông nghiệp làm kênh dẫn nước Hồ Trọng và hồ Lao ca, đã thực hiện từ năm 2008 nhưng đến nay có 11 hộ vẫn chưa được đền bù. Chị Nhâm, xóm Cộng 2, kể “Khi lấy đất làm kênh dẫn nước, bên thi công chưa đền bù mà đã cho máy đến múc rồi, tôi cũng ra đấu tranh không cho làm nhưng họ vẫn cứ làm. Địa chính xã bảo cứ cho làm và bảo tôi ký vào biên bản, tôi hỏi lấy tiền đền bù ở đâu thì được trả lời: cứ đòi tôi, từ đó đến giờ vẫn chưa lấy được tiền. Tết tôi hỏi thì bảo tháng 3,4; đến tháng 3,4 tôi hỏi thì bảo chờ đập Lao ca.”

Ở xã Khoan Dụ, huyện Lạc Thủy, một số hộ gia đình bị thu hồi đất phục vụ cho công trình kè 2 bên bờ sông Bôi, do công ty Hoàng Sơn thực hiện. Việc thông báo cho người dân về quy hoạch đã được thực hiện đầy đủ, dự án cũng đã hoàn thành việc kiểm đếm vào đầu năm 2010. Bên thi công đã bắt đầu thực hiện từ tháng 2 năm 2010 nhưng cho tới nay vẫn chưa có tiền chi trả bồi thường cho dân. Tại xã Phong Phú, Tỉnh đội, huyện đội lấy đất vườn, ruộng, đất thổ cư, đất 5% để làm đường phòng thủ trị an của Bộ quốc phòng chiều dài gần 2km, rộng 13 km đi qua một vài xóm, mục đích vừa dùng để diễn tập và gắn với đường xây dựng nông thôn mới. Trước khi lấy đất xóm có tổ chức cuộc họp thông báo tới người dân và ông trưởng xóm nói “ lấy đất 5% của xã sẽ đổi cho các hộ mất đất từ 50m trở lên”. Sau đó khoảng 1 tuần, khi san đường có người đến từng hộ ( xã đội và bộ đội ) đưa danh sách cho các hộ ký và nói “ký vào để xác nhận đất do gia đình bị mất ”.  xóm Mận có 11 hộ ký; 1 hộ k ký vì thấy văn bản không rõ ràng. hộ nhiều nhất 900m2, ít nhất 50m2. Hiện nay con đường đang thi công, người dân thì không biết có được đền bù hay không, Địa chính xã trả lời con đường phục vụ an ninh quốc phòng nên không được đền bù.

Người dân bị thu hồi đất mất việc làm, mất nguồn sinh kế.

Đất đai là nguồn sống của người nông dân. Khi bị thu hồi đất, người dân cũng mất đi nguồn sinh kế của mình.

Người dân xã Phúc Tiến bị thu hồi đất cho dự án đường cao tốc lo rằng sau khi mua đất tái định cư, ổn định nhà ở thì người nông dân cũng hết tiền và hết đường sống. Ban giải phóng mặt bằng  có thông báo đăng ký học nghề với Trưởng thôn và người dân (lái xe, sửa chữa, chăn nuôi, trồng trọt...) nhưng đến nay vẫn chưa mở được lớp nào. Người dân cũng còn nỗi lo nữa là học nghề rồi liệu có kiếm được việc mà làm không.

Giá cả đền bù cho việc di dời mộ quá thấp, trong khi việc di dời mộ rất tốn kém và nhiều thủ tục.

Dự án đường cao tốc Láng Hòa Lạc – Hòa Binh đoạn qua xóm Ba và xóm Bãi Sấu xã Mông Hóa đi vào nghĩa địa thuộc địa phận hai xóm. Do đó người dân ở đây phải di dời hơn 400 ngôi mộ. Bản thân bà con rất không muốn di dời mộ, vì đó là việc tâm linh. Đã như vậy, mức giá đền bù lại quá thấp, khiến bà con gặp khó khăn vì phải tốn thêm rất nhiều chi phí. Để di dời một ngôi mộ, cần rất nhiều thủ tục và chi phí, cụ thể như mời thầy về cúng, làm cơm cúng mời họ hàng bà con, thuê người bốc mộ và di chuyển tới khu nghĩa trang mới, chi phí xây dựng mộ từ  7 triệu - 10 triệu đồng/mộ. Trong khi đó, giá đền bù cho việc di dời một ngôi mộ xây là 5,000,000 VNĐ và một ngôi mộ chưa xây chỉ có 3,500,000 VNĐ. Trong khi đó tổng chi phí cho việc di chuyển ngôi mộ lên tới 15.000.000đ đến 20.000.000đ ( Bao gồm phải mua đất để đặt mộ, làm lễ theo văn hóa địa phương, v.v ) Với chi phí như vậy, người dân  không biết lấy tiền đâu mới có thể đưa ông bà tổ tiên đến nơi ở mới.

Những hộ dân mất đất nông nghiệp được hứa sẽ có hỗ trợ gạo nhưng sau vài năm vẫn chưa nhận được hỗ trợ

Cũng trong dự án đường cao tốc Láng Hòa Lạc – Hòa Bình, hội đồng đền bù thông báo là những hộ bị thu hồi 100% đất nông nghiệp được hỗ trợ gạo với mức là 30kg/ tháng mỗi người và trong thời gian 36 tháng. Hộ mất 70% đất được hỗ trợ cũng với mức đó trong 24 tháng và mất 30% được hỗ trợ trong 6 tháng. Nhưng từ khi thông báo đến giờ đã hơn 2 năm, đất đã bị thu hồi không còn chỗ sản xuất mà tiền đền bù thì người dân cũng chưa nhận được, gạo cũng chưa được nhận. Chị Thìn, trưởng xóm Ba xã Mông Hóa bức xúc “Người dân đã mất đất nông nghiệp thì làm gì còn gì sản xuất để sống, dự án bảo hỗ trợ gạo mà phải đợi từ đó đến giờ không có gạo ăn thì dân chết đói à? Nhiều người ở đây đã phải đi vay mượn loanh quanh để ăn rồi”

Quy định về chế độ hỗ trợ gạo đối với người dân mất đất nông nghiệp chưa phù hợp.

Quy định của nhà nước là hộ gia đình mất từ 30% đất nông nghiệp trở lên được hỗ trợ gạo. Thực tế, đất nông nghiệp được nói đến ở đây là gồm cả đất đồi sản xuất (đất 02) lẫn đất ruộng, mà phương pháp sản xuất trên hai loại đất này là hoàn toàn khác nhau. Đất ruộng – đất trồng lúa đảm bảo cái ăn cái mặc hàng ngày của người dân, còn đất đồi sản xuất thì chủ yếu trồng các loại cây từ 7 – 10 năm. Ông Nguyễn Văn Dũng, Phó Chủ tịch UBND xã Phúc Tiến nhận xét “Như vậy, nếu người dân mất chưa đến 30% diện tích đất sản xuất nhưng trong đó lại mất toàn bộ đất ruộng thì cuộc sống bị ảnh hưởng ngay lập tức vì sẽ không có thu hoạch trong thời gian ngắn, không đảm bảo cuộc sống hàng ngày”

Có những dự án đã triển khai, đã lấy thu hồi đất nhưng vẫn  chưa hoàn thành khu tái định cư để người dân có chỗ ở.

Công trình Hồ Trọng được triển khai năm 2008 thu hồi đất ruộng, vườn và nhà ở của nhiều hộ gia đình xã Phong Phú. Theo kế hoạch, công trình bao gồm khu tái định cư ở xóm Vặn, cách Hồ Trọng hơn 2km cho hơn 30 gia đình. Quá trình thực hiện rất chậm  việc thu hồi đất tháng 10/2009, nhưng đến năm 2011 mới triển khai khu tái dịnh cư.  Cho tới nay công trình khu tái định cư vẫn chưa xong vì nhà thầu nói không có nguồn kinh phí (C.ty Dương Tiến Phát thực hiện). Trừ một số gia đình tự tìm đất ở nơi khác, nhiều gia đình phải dựng lán, nhà tạm ở gần diện tích thu hồi. Cuộc sống của những hộ gia đình này rất tạm bợ…Công trình đang xây dựng, nhưng khu tái định cư chưa song, 15 hộ gia đình phải làm nhà tạm để ở, cuộc sống rất khó khăn do diện tích đất sản xuất nông nghiệp  rất ít 1 số hộ  còn 500-600m2 ruộng, 500- 1000 m2 sắn, trong đó có 3 hộ không còn đất sản xuất hộ ông Điểm, ông Tháp, ông Nhị . Nhiều hộ phải đi làm thuê do tiền đền bù không đủ sinh sống, Người ta thuê việc  gì làm việc đó : đào rãnh trồng mía, làm cỏ, phụ xây… nếu làm đủ 30 ngày công được trả 3 triệu, đối với lao động khỏe, còn những người sức yếu được 1,5 - 2 triệu/tháng, nếu trừ chi phí ăn, ở, đi lại cũng không còn bao nhiêu. Tuy nhiên công việc như vậy ở gần xã không có nhiều họ phải đi làm thuê ở các tỉnh Hà Nội, sơn la… tằn tiện chi tiêu thì gửi về được 1triệu -2 triệu cho gia đình, đối với những người cao tuổi yếu sức thì tận dụng diện tích đất còn lại và tiền đền bù  mua con trâu, con bò để chăn dắt, trông ít rau để sinh sống. Chính vì vậy cuộc sống như vậy không đảm đảo cho người dân ổn định cuộc sống lâu dài, chứ chưa nói đến phát triển kinh tế làm giầu.

Khi thu hồi đất có những trường hợp phát sinh (VD do nước dâng, chiếm nhiều đất lòng hồ hơn) nhưng không được kiểm đếm kịp thời và người dân cũng không được chứng kiến. Việc này xảy ra cũng với quy hoạch Hồ Trọng, khi công trình hoàn thành nước dâng lên ngập ra ngoài cả những diện tích đã kiểm kê, chiếm vào phần đất theo quy hoạch thì người dân không bị thu hồi. Tuy nhiên, việc kiểm kê bổ sung đã không được thực hiện vào thời điểm đó và người dân lo ngại rằng sẽ không được đền bù thỏa đáng với diện tích bị mất mới phát sinh này.

Ý kiến của đại diện Sở Tài nguyên môi trường

- Đơn giá đất đai, tài sản thay đổi hàng năm trong khi dự án thực hiện kéo dài dẫn đến hiện tượng khiếu kiện.

- Các VBPL được điều chỉnh, bổ sung hoặc thay thế có sự khác nhau về chế độ, chính sách nên khó áp dụng.

Đề xuất/ Khuyến nghị

- Luật cần quy định rõ thời gian thực hiện quy hoạch, thời gian thực hiện thu hồi, thanh toán đền bù hỗ trợ, tái định cư cho người dân.

- Người dân hiến đất cho các công trình quốc gia không lấy tiền đền bù cần được có những chính sách riêng (giảm thuế và điều chỉnh sổ đỏ)

- Thay đổi quy định liên quan đến việc mất từ 30% đất SX trở lên mới được hỗ trợ (gạo), cần phân định rõ tỷ lệ đối với đất ruộng và đất đồi rừng.

- Tăng mức bồi thường cho việc di dời mộ

- Hỗ trợ cho người bị thu hồi đất phải thực hiện ngay để đảm bảo cuộc sống cho người dân.

- Hỗ trợ cần đảm bảo bà con có nơi ở mới trong trường hợp phải di dời (bị thu hồi đất)

- Cần hỗ trợ việc làm cho người bị thu hồi đất

- Mỗi khi thu hồi có những phát sinh/ thay đổi về diện tích thì cần kiểm đếm ngay với sự có mặt của người dân

- Việc XD khu tái định cư cần hoàn thành trước khi thực hiện quy hoạch để người dân có chỗ ở khi bị thu hồi đất

- Bổ sung quy định về trách nhiệm và sự thống nhất của các ngành trong việc lập quy hoạch đảm bảo đồng bộ và thống nhất cao, vì thực tế QH SDD và quy hoạch đô thị thường không được lập đồng thời và có một số điểm không khớp nhau

- Bỏ cơ chế tự thỏa thuận bồi thường để thực hiện dự án để tránh tạo ra sự khác nhau về mức bồi thường giữa các dự án.

- Nên quy định huyện thực hiện thu hồi của các hộ gia đình, vì tỉnh không thể quản lý đến từng hộ gia đình sẽ dẫn đến thời gian thực hiện kéo dài

- Hiện tại ở địa phương (thực hiện CT nông thôn mới) đang vận động bà con hiến đất, nhưng trong luật chỉ quy định “trả lại đất”. Người dân mong muốn có thêm khái niệm “hiến đất” trong luật.

Nhóm Nghiên cứu viên thuộc tổ chức Oxfam

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống