Báo cáo tham vấn cộng đồng để góp ý vào dự thảo Luật đất đai sửa đổi tại Tỉnh Yên Bái

10/04/2013

PHẦN I: THÔNG TIN CHUNG

1.1. Mục tiêu

Sáng kiến Tham vấn cộng đồng về Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2013 nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý và sử dụng đất cũng như những mong muốn và nguyện vọng của các bên liên quan có tham gia trực tiếp (người dân, doanh nghiệp, chính quyền địa phương), trên cơ sở đó hỗ trợ Viện NCLP đưa ra các khuyến nghị cho dự thảo Luật Đất đai sửa đổi Quá trình tham vấn tập trung thu thập kinh nghiệm và khuyến nghị của nông dân sản xuất quy mô nhỏ, người nghèo, các nhóm yếu thế, nữ chủ hộ và đồng bào dân tộc thiểu số. Nội dung tham vấn chú trọng đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thay đổi trong quyền sử dụng đất, đất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số, định giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Cụ thể, tham vấn cộng đồng nhằm

§ Lắng nghe ý kiến của người dân và các cấp chính quyền về thực trạng quản lý và sử dụng đất hiện nay tại địa phương;

§ Có bức tranh tổng thể về những khía cạnh phù hợp và chưa phù hợp của luật pháp liên quan đến quản lý và sử dụng đất;

§ Chia sẻ những mong muốn và đề xuất giúp viện NCLP thuộc UBTVQH đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho dự thảo luật đất đai sửa đổi 2013.

Quá trình tham vấn diễn ra tại 05 tỉnh Yên Bái, Hòa Bình, Quảng Bình, An Giang và Long An. Tại Yên Bái, các hoạt động tham vấn chính thức diễn ra trong tháng 12/2012 tại 7 xã thuộc 2 huyện, 1 thành phố, bao gồm: phường Yên Thịnh và xã Phúc Lộc (Thành phố Yên Bái); xã An Thịnh và xã Đại Phác (huyện Văn Yên); xã Sơn Thịnh, thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ và xã Nậm Búng (huyện Văn Chấn)

1.2. Nội dung tham vấn

Yên Bái là tỉnh miền núi với 9 đơn vị hành chính (1 thành phố, 1 thị xã và 7 huyện) với tổng số 180 xã, phường, thị trấn (159 xã và 21 phường, thị trấn); trong đó có 70 xã vùng cao và 62 xã đặc biệt khó khăn được đầu tư theo các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, có 2 huyện vùng cao Trạm Tấu, Mù Cang Chải (đồng bào Mông chiếm trên 80%) nằm trong 61 huyện nghèo, đặc biệt khó khăn của cả nước. Theo số liệu thống kê năm 2010, Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 688.627,64 ha, trong đó đất nông nghiệp là 583.717,47 ha, chiếm 84,76% ; đất phi nông nghiệp là 51.713,13 ha chiếm 7,51%; đất chưa sử dụng là 53.197,04 ha chiếm 7,73%. Trên địa bàn tỉnh Yên Bái có tới 30 dân tộc sinh sống, trong đó có 7 dân tộc có dân số trên 10.000 người; 2 dân tộc có từ 2.000 - 5.000 người; 3 dân tộc có từ 500 -2.000 người. Trong đó, người Kinh chiếm 49,6%, người Tày chiếm 18,58%, người Dao chiếm 10,31%, người HMông chiếm 8,9%, người Thái chiếm 6,7%, người Cao Lan chiếm 1%, còn lại là các dân tộc khác.

 Trong những năm gần đây, Yên Bái có nhiều quy hoạch/chương trình phát triển kinh tế liên quan đến việc quản lý và sử dụng đất; cụ thể: (i) Khu công nghiệp Minh Quân; (ii) Dự án cải tạo, sửa chữa, nâng cấp một số tuyến đường nội thị thành phố Yên Bái ); (iii) Dự án đường nối Quốc lộ 70 với Quốc lộ 32C; (iv) Dự ánđường cao tốc Nội Bài - Lào Cai; (v) Dự án đầu tư xây dựng Khu công nghiệp phía Nam tỉnh Yên Bái; (vi) Dự án đường Vĩnh Lạc - Mường Lai, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái; (vii) Dự án đầu tư xây dựng công trình đường Yên Thế - Vĩnh Kiên, tỉnh Yên Bái; (viii) Dự án đường Trạm Tấu - Bắc Yên, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái v.v. Việc quy hoạch sử dụng đất đai trên địa bàn tỉnh được thực hiện theo Quyết định số 19/CP lập quy hoạch sản xuất 5 năm, 10 năm căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Tham vấn cộng đồng về Luật đất đai năm 2003 được thực hiện tại phường Yên Thịnh và xã Phúc Lộc - thành phố Yên Bái; xã An Thịnh và xã Đại Phúc - huyện Văn Yên; xã Sơn Thịnh, thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ và xã Nậm Búng (huyện Văn Chấn)

Do những đặc thù như trên, việc tham vấn cộng đồng về dự thảo luật đất đai sửa đổi tại Yên Bái tập trung vào những nội dung sau:

§ Quy hoạch sử dụng đất

§ Chế độ sử dụng đất

§ Định giá đất

§ Hỗ trợ, bồi thường, tái định cư 

1.3. Phương pháp và tiến trình thực hiện

Sau khi có ý kiến chỉ đạo thống nhất của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Yên Bái các hoạt động tham vấn đã được thực hiện tại tất cả các cấp, bắt đầu từ cấp thôn, xóm. Cụ thể, có các hoạt động sau đã được thực hiện:

§ Thảo luận lấy ý kiến người dân: 13 cuộc thảo luận lấy ý kiến người dân ở 25 thôn/tổ dân phố với tổng số 245 người tham dự, trong đó có 134 nam và 111 nữ

§ Phỏng vấn cán bộ xã: tiến hành 2 cuộc thảo luận nhóm và 16 phỏng vấn sâu với 22 cán bộ cấp xã (Đảng ủy, UBND xã, các ban ngành đoàn thể xã)

§ Họp tổng kết cấp xã: tổ chức 6 cuộc họp tổng hợp kết quả cấp xã với tổng số 90 người tham dự, trong đó 37 đại diện khối cán bộ chính quyễn xã và 53 đại diện các hộ dân

§ Phỏng vấn cán bộ huyện: Tiến hành 1 cuộc thảo luận nhóm và 12 cuộc phỏng vấn sâu với 15 cán bộ cấp huyện: Lãnh đạo UBND huyện; Lãnh đạo HĐND huyện; Lãnh đạo phòng Tài nguyên Môi trường; Ban Giải phóng mặt bằng huyện

§ Phỏng vấn doanh nghiệp, nông lâm trường trên địa bàn: Phỏng vấn 3 doanh nghiệp: Công ty xăng dầu Yên Bái; Công ty TNHH một thành viên Lâm trường Văn Chấn; Công ty cổ phần khai thác khoáng sản Đại Quang.

§ Phỏng vấn lãnh đạo các cơ quan ban ngành có liên quan cấp tỉnh: Tiến hành 3 cuộc phỏng vấn sâu với: Giám đốc Sở TNMT tỉnh; Trưởng phòng quản lý đất đai - Sở TNMT tỉnh ; Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội KHKT Yên Bái/Đại biểu HĐND tỉnh.

§ Hội thảo Tổng kết kết quả tham vấn cấp tỉnh: Sau khi tiến hành các hoạt động tham vấn, tổng hợp sơ bộ kết quả tham vấn ở các cấp, đoàn tham vấn đa tiến hành Hội thảo Tổng kết kết quả tham vấn câp tỉnh với sự tham gia của 40 đại biểu đến từ: Viện Nghiên cứu lập pháp; Đoàn ĐẠi biểu Quốc Hội tỉnh, UBND tỉnh, Sở TNMT, HĐND tỉnh, phòng TNMT 3 huyện, UBND xã và 15 đại diện người dân tại 6 xã tiến hành tham vấn.

1.4. Địa bàn thực hiện

a)     Thành phố Yên Bái

Nằm ở khu vực chuyển tiếp giữa miền Tây Bắc, Việt Bắc và trung du Bắc Bộ, thành phố Yên Bái nằm ở vị trí 21,420B, 104,520Đ, phía Bắc và phía Đông giáp huyện Yên Bình, phía Tây và phía Nam giáp huyện Trấn Yên của tỉnh. Thành phố là trung tâm tỉnh tỉnh Yên Bái diện tích tự nhiên 106,74 km2; dân số 94.716 người, mật độ 887 người/km2  

Thành phố Yên Bái được chính thức thành lập năm 2002 theo nghị định 05/2002/NFF-CP của chính phủ. Trước đó, với vị trí địa lý thuận lợi, Thành phố Yên Bái luôn là trung tâm của tỉnh và của khu vực trong suốt các thời kỳ lịch sử. Đến nay thành phố Yên Bái có diện tích tự nhiên là: 10.815.45ha và 95.892 nhân khẩu với 17 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm 7 phường và 10 xã.

Là một trong những cửa ngõ để tiến sâu vào miền Tây Bắc với một mạng lưới đường sắt, đường bộ, đường thuỷ khá thuận lợi. Thành phố Yên Bái có một vị trí khá quan trọng trong đầu mối giao thông huyết mạch nối vùng Tây Bắc với trung du Bắc Bộ. Tuyến đường sắt liên vận quốc tế từ Hải Phòng - Hà Nội - Yên Bái - Lào Cai - Vân Nam (Trung Quốc). Tuyến đường thuỷ sông Hồng từ thành phố Yên Bái xuôi về Hà Nội rồi đi tiếp đến cảng Hải Phòng. Tuyến ngược cập bến cửa khẩu quốc tế Lào Cai.

Mạng lưới đường giao thông trong nội thành được đầu tư khá hoàn chỉnh. Các đường trục chính như Quốc lộ 37, đường Nguyễn Tất Thành, đường Nguyễn Thái Học, đường Yên Ninh, đường Trần Phú, đường Kim Đồng... đã được xây dựng theo quy hoạch đô thị với hệ thống hành lang, cống thoát nước, đèn chiếu sáng, cây xanh. Hệ thống cầu xây dựng tương đối đồng bộ bắc qua các suối, hồ trong đó có cây cầu lớn nhất bắc qua sông Hồng là cầu Yên Bái tạo điều kiện cho giao thông thuận tiện vào miền Tây Bắc..

Năm 2010, thành phố có diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt là 1.301 ha với sản lượng là 5.671 tấn, trong đó diện tích trồng lúa là 1.011 ha với sản lượng lúa là 4.854 tấn. Do địa hình ở ven sông, đất đai màu mỡ nên thành phố có một vùng chuyên canh rau là 503 ha với sản lượng là 8.019 tấn. Diện tích trồng chè là 775 ha, sản lượng là 5.071 tấn. Tổng đàn trâu là 974 con, đàn bò 533 con và đàn lợn là 27.654 con.

Toàn thành phố có 4.500,15ha đất lâm nghiệp, trong đó đất có rừng sản xuất là 4.331,96 ha, rừng phòng hộ là 168,19 ha chủ yếu là trồng các cây nguyên liệu giấy như bạch đàn, bồ đề, keo, nứa, vầu...

Về giáo dục, 100% xã, phường đạt chuẩn phổ cập trung học cơ sở. Mấy năm gần đây một số cơ sở tư thục mầm non được đầu tư và phát triển. Tỷ lệ trường tiểu học, trung học cơ sở, mầm non đạt chuẩn quốc gia của thành phố đạt cao nhất trong toàn tỉnh.

Các trung tâm y tế của thành phố, trạm y tế xã, phường, đã hoàn thành tốt các chương trình y tế, đảm bảo duy trì tốt công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ ban đầu, khám, chữa bệnh cho nhân dân.

Xã Phúc Lộc

§ Diện tích đất tự nhiên: 552,83ha trong đó đất nông nghiệp 388,99ha (đất sản xuất nông nghiệp 313,7ha và đất ở 7,22ha), đất phi nông nghiệp chiếm 163,84ha.

§ Dân số: 1.430 nhân khẩu

§ Dân tộc: có 4 dân tộc: Dân tộc Kinh chiếm 98%, Các dân tộc khác 2%

§ Cơ sở hạ tầng:

-      100% các thôn có điện thắp sáng

-      Giao thông cơ bản được bê tông hóa là 70%

-      Có đầy đủ các trường học chất lượng đảm bảo cho từ cấp mầm non đến trung học phổ thông. Hiện tại đang xây dựng một trường Cao đẳng Y, đang xây dựng một bệnh viện đa khoa và một bệnh viện Lao phổi.

§ Sinh kế: 85% sản xuất nông nghiệp, 15% làm các nghề dịch vụ, thương mại

§ Tỉ hệ hộ nghèo: 13,2%

§ Thu nhập bình quân theo năm 2012 là 15.000.000 đồng/người/năm

§ Hiện nay trên địa bàn xã một số dự án của tỉnh đã và đang triển khai liên quan đến quản lý và sử dụng đất:

o   Bệnh viện đa khoa 500 thu hồi 14 ha.

o   Bệnh viện lao phổi thu hồi 6 ha

o   Trường cao đẳng Y Yên Bái thu hồi 13 ha

o   Dự án tái định cư Yên Bái: thu hồi 2,8ha

Phường Yên Thịnh

§ Diện tích đất tự nhiên: 422,5ha

§ Dân số: Có 2307 hộ gia đình với 7897 nhân khẩu. Trong đó có 3814 nam, 4083 nữ. Số người đang trong độ tuổi lao động là 3792 người

§ Phường được thành lập năm 1982, có 6 phố và 46 tổ dân phố. Hiện nay trên địa bàn phường đang có 20 cơ quan xí nghiệp đang hoạt động.

§ Toàn phường có 11 dân tộc trong đó trên 95% là người kinh, còn lại là các dân tộc khác

§ Cơ sở hạ tầng: 100% đường đã được bê tông hóa. Điện, đường, trường, trạm đều đạt chuẩn quốc gia

§ Mức độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2012 là 9,7%

§ Thu nhập bình quân theo đầu người là 1.250.000 đồng/người/tháng

§ Sinh kế: Mặc dù là phường thuộc thành phố Yên Bái nhưng sinh kết của người dân vẫn chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp chiếm đa số (khoảng 80%) còn lại làm kinh doanh, dịch vụ

§ Tỉ lệ hộ nghèo: 4,07%, cận nghèo 1,47%

§ Trong những năm gần đây, trên địa bàn phường có các hoạt động/dự án có liên quan đến quản lý sử dụng đất có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế và cuộc song của người dân:

-      Xây dựng kho cấp phát quân nhu 6 tỉnh phía bắc của Tổng cục hậu cần – Bộ công an

-      Xây dựng trụ trở Trung đoàn cảnh sát cơ động

-      Dự án xây dựng khu thể thao của tỉnh Yên Bái

-      Các dự án cải tạo nâng cấp các tuyến đường nội đô

-      Trung tâm dạy nghề Tây Bắc

-      Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Yên Bái

 b)     Huyện Văn Yên

Huyện Văn Yên có Tổng diện tích đất tự nhiên 1.391,54 Km­­2. Huyện Văn Yên cách trung tâm tỉnh lỵ Yên Bái 40 km về phía Bắc. Toàn huyện có 26 xã và 1 thị trấn, với 312 thôn bản, 60 tổ dân phố.

Dân số trung bình dến năm 2007 là 115.614 người. Trong đó nam 57.686 người, chiếm 49,9%; nữ 57.928 người, chiếm 50,1%. Dân số ở khu vực thành thị 10.166 người, chiếm 8,79%; dân số ở khu vực nông thôn là 105.448 người, chiếm 91,21%. Toàn huyện có 12 dân tộc trong đó có các dân tộc chủ yếu sau:

-      Dân tộc Kinh:                   65.117 người = 56,33%

-      Dân tộc Tày:                    17.573 người = 15,2%

-      Dân tộc Dao:                   26.487 người = 22,91%

-      Dân tộc H' mông:               4.480 người = 3,87%

-      Các dân tộc khác:              1.957 người = 1,69%

Trên địa bàn huyện hiện nay có một số quy hoạch/dự án triển khai liên quan đến quản lý sử dụng đất gây với nhiều bất cập về quy hoạch chậm triển khai, khung giá đất, bồi thường tái định cư:

-      Dự án mở rộng di tích đền Đông Cuông

-      Dự án đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai (54km đường đi qua 8 xã của Huyện)

-      Đường sắt mở rộng Yên Bái – Khe Sang

-      Quy hoạch mở rộng đường 32C

-      Trình tự và thời gian cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

 Xã An Thịnh

An Thịnh là xã lớn của huyện Văn Yên, toàn xã có 18 cụm dân cư với 2110 hộ 8.700 khẩu. Tỷ lệ nghèo 28,9%. Xã Có 5 dân tộc cùng chung sống trong đó có dân tộc Kinh là 70%, dân tộc Tày 11%, Còn lại dân tộc Dao, Nùng, Mông ( có 2 người).

Tổng Diện tích đất tự nhiên của xã là 2.650 ha. Trong đó: đất nông nghiệp 475 ha, đất lâm nghiệp 1156 ha.

Trên địa bàn xã đã có các quy hoạch và các dự án chính ảnh hưởng lớn đến đời sống nhândân:

-         Quy hoạch khu kinh tế Tây cầu Mậu A

-         Dự án làm đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai

-         Dự án Khu dân cư mới

-         Dự án mở rộng đường 32C

Trong đó, DA đường cao tốc ảnh hưởng rất lớn đến người dân trong xã. DA có 8 km đi qua xã, ảnh hưởng tới 6 thôn, trong đó có 3 thôn nặng hơn, ảnh hưởng tới hơn 100 hộ gia đình bị thu hồi toàn bộ diện tích đất canh tác và đất ở.

 Xã Đại Phác

 Đại phác là một xã vùng thấp nằm ở phía tây của huyện Văn Yên, cách trung tâm huyện 12 km qua sông Hồng. Xã có 10 thôn bản, 780 hộ tỷ lệ hộ nghèo 17% dân số 3.326 người cơ cấu dân tộc Kinh 64%, Tày 36%.với tổng diện tích đất tự nhiên là 1.136,3 ha. Trong đó đất nông nghiệp 172 ha, đất rừng 450ha còn lại đất khác.

Với 129 ha lúa nước, xã vận động bà con đưa 40% lúa chất lượng cao vào gieo cấy, diện tích còn lại là cấy lúa lai năng suất cao và 60% diện tích ba vụ. Đại Phác cũng là địa phương dẫn đầu của huyện về sản xuất lúa, gạo chất lượng cao theo hướng hàng hoá. Đại Phác đã trở thành xã có năng suất cao nhất huyện (120 tạ/ha) và là một trong 3 xã thuộc vựa lúa Đại - Phú - An của huyện và của tỉnh. Giá trị thu nhập trên mỗi ha đất canh tác đạt 60 triệu đồng/năm, sản lượng lương thực đạt 2.520 tấn, bình quân lương thực đạt 730 kg/người/năm; thu nhập đạt 6,8 triệu đồng/người/năm. Phong trào xóa đói, giảm nghèo được quan tâm, khuyến khích mọi nhà, vươn lên làm giàu.

 Xã xây dựng hạ tầng hệ thống đường trong xã đã cơ bản được bê tông hoá, đường điện lưới quốc gia chạy vào từng nhà và trường học, trạm y tế đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khoẻ nhân dân.và đang quy hoạch xây dựng khu thể thao sân vận động.

Các vấn đề liên quan đến quản lý sử dụng đất:

-         Quy hoạch di tích lịch sử đồn Đại Phác từ năm 2006 chưa được triển khai

-         Quy hoạch phát triển nông thôn mới.

c)     Huyện Văn Chấn

Văn Chấn có diện tích tự nhiên 1.224 km² chiếm 17% diện tích toàn tỉnh.và dân số 144.152 người (2009). Huyện lỵ là thị trấn Sơn Thịnh nằm trên quốc lộ 32, cách thị xã Nghĩa Lộ khoảng 10 km Huyện nằm ở phía Tây Nam tỉnh Yên Bái, phía Bắc giáp huyện Mù Cang Chải, phía Đông giáp huyện Văn Yên và Trấn Yên, phía Tây giáp huyện Trạm Tấu, phía Nam giáp tỉnh Sơn La. Văn Chấn cách trung tâm chính trị – kinh tế – văn hoá tỉnh 72 km; cách thị xã Nghĩa Lộ 10 km; cách Hà Nội 200 km, có đường quốc lộ 32 chạy dọc theo chiều dài của huyện, là cửa ngõ đi vào thị xã Nghĩa Lộ, huyện Trạm Tấu, Mù Cang Chải, huyện Phù Yên, Bắc Yên tỉnh Sơn La và tỉnh Lai Châu. Đường quốc lộ 37 chạy qua 4 xã, đây là điều kiện thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế với các huyện trong tỉnh và các tỉnh Sơn La, Phú Thọ, Lai Châu.   

Huyện Văn Chấn gồm 31 xã, thị trấn bao gồm 28 xã và 3 thị trấn: thị trấn Nông trường Liên Sơn, thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ, thị trấn Nông trường Trần Phú.

Các vấn đề liên quan đến quản lý và sử dụng đất tại địa phương:

-          Bệnh viện đa khoa Văn Chấn Tổng mức đầu tư: 18.228 triệu đồng

-          2.Dự án đầu tư XD công trình đường Đại Lịch - Minh An, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Tổng mức đầu tư: 61682. triệu đồng

-          Khai thác khoáng sản không có quy hoạch tổng thể. Chưa quan tâm đến quyền lợi của người dân mất đất

Xã Sơn Thịnh

§ Tổng diện tích đất tự nhiên: 3.160 ha trong đó:

§ Diện tích đất Nông nghiệp: 2.618,2 ha

§ Diện tích đất phi nông nghiệp: 363,2 ha

§ Diện tích đất chưa sử dụng: 169,47 ha

§ Dân số: 9.286 người trong đó:

-      Dân tộc Kinh: 46 %

-      Các dân tộc khác (9 dân tộc): 54%

§ Cơ sở hạ tầng:

-      Có 14/16 thôn có điện thắp sáng

-      Có trục đường quốc lộ 32 đi qua

§ Hệ thống giáo dục: Có đầy đủ các trường từ cấp mầm non đến trung học phổ thông với trang thiệt bị đầy đủ. Ngoài ra còn có các trường dạy nghề, trường dân tộc nội trú, trung tâm giáo dục thường xuyên

§ Sinh kế: Người dân sinh sống chủ yếu bằng nông lâm nghiệp. các nghề thủ công và tiểu thủ công nghiệp không có nhiều. Số ít buôn bán nhỏ lẻ dọc đường quốc lộ.

§ Số hộ nghèo chiếm 24,5%

§ Thu nhập bình quân đầu người theo thống kê năm 2012 là 12.000.000 đồng/người/năm

 Xã Nậm Búng

Nậm Búng là xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn của huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, nằm dọc theo trục Quốc lộ 32A với chiều dài là 18km. Diện tích đất tự nhiên 9.663,83 ha, trong đó

-      đất rừng và đất lâm nghiệp chiếm trên 7.000ha

-      đất nông nghiệp có hơn 500 ha

-      đất trồng chè có 500 ha

-      còn lại là các loại đất khác và đất trống đồi núi trọc

§ Tổng dân số trên toàn xã là 806 hộ với hơn 3.406 nhân khẩu.

§ Trên địa bàn có ba dân tộc Dao, Thái và Kinh chung sống. Trong đó dân tộc Dao chiếm tỉ lệ 46% dân số toàn xã.

§ Xã hiện còn 4/10 bản đặc biệt khó khăn do chưa có điện, đường bê tông.

§ Hệ thống giao thông đi lại đã có trên 70% thôn bản, đường ô tô đến thôn bằng đường đất, chưa được cứng hoá, đặc biệt vùng núi thường xuyên có mưa nên rất lầy lội, đi lại của nhân dân gặp nhiều khó khăn.

§ Xã có trạm y tế với 03 cán bộ là y sĩ, y tá, các phương tiện khám chữa bệnh còn nghèo nàn.

§ Kinh tế của nhân dân chủ yếu là sản xuât nông nghiệp (1 vụ lúa nước, 1 vụ ngô) kết hợp chăn nuôi đại gia súc và phát triển cây chè.

§ Nậm Búng hiện có 205 ha chè, trong đó 176 ha đã cho thu hoạch.

§ Tính đến cuối năm 2010, thu nhập bình quân đầu người trong toàn xã đạt 7,5 triệu đồng/người/năm;

§ Năm 2012, toàn xã có 215 ha gieo trồng ngô.

§ Tỉ lệ hộ nghèo chiếm 31,29%.

Các hoạt động chính liên quan đến quản lý và sử dụng đất tại Nậm Búng trong những năm gần đây chủ yếu là các dự án khai thác khoáng sản. Hiện nay, trên địa bàn Nậm Búng có 18 điểm mỏ đã được cấp phép cho 5 công ty tư nhân khai thác khoáng sản. Việc triển khai công tác đền bù hỗ trợ cho người dân gặp nhiều khó khăn, đặc biệt cả trong quá trình khai thác cũng gây ra nhiều vấn đề về môi trường và hỗ trợ thiệt hại cho người dân bị ảnh hưởng.

Thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ

Thị trấn được thành lập từ năm 1967 Thị trấn nằm bên quốc lộ 32 nối từ thủ đô Hà Nội lên các tỉnh Tây Bắc và nằm gần huyện lị của huyện Văn Chấn cũng như thị xã Nghĩa Lộ.

Thị trấn có diện tích diện tích 1.700km2 dân số là 5.4611 người, mật độ cư trú đạt 309 người/km Trên địa bàn thị trấn có 8 dân tộc Kinh, trên 90% còn lại Tày, Thái, Mường, Mông, Dao, Hoa, Khơ Mú sinh sống, trên 1.649 hộ dân sinh sống tại 13 tổ dân phố Nhiều cư dân hiện nay của thị trấn là những người di dân từ miền xuôi lên và con cháu của họ.

Nằm ở gần khu vực trung tâm huyện Văn Chấn, thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ là một trong những địa phương có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế - xã hội. Thị trấn được hình thành gắn liền với Nông trường chè Nghĩa Lộ hình thành sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Đa số cư dân của thị trấn hiện nay sinh sống phụ thuộc vào nông nghiệp, trong đó chính quyền thị trấn lấy cây chè, cây lúa và trồng màu làm cây kinh tế chủ lực. Diện tích chè kinh doanh của thị trấn là 411 ha, năng suất lúa cả năm đạt 14 tấn/ha. thu nhập bình quân của người dân là 14-15 triệu/người/năm.

Với tiềm năng thế mạnh về đất đai và nguồn nhân lực, nhiệm kỳ 2010 - 2015, Đảng bộ thị trấn đề ra mục tiêu đẩy mạnh phát triển kinh tế theo hướng hàng hóa, nâng cao chất lượng các sản phẩm nông lâm nghiệp, công nghiệp. 3 năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị trấn luôn đạt 12 - 13%, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới chỉ còn 5,8%, thu nhập bình quân đầu người đạt trên 15 triệu đồng/năm.

Tại xã có 2 thực trạng người dân và chính quyền quan tâm liên quan đến quy hoạch và sử dụng đất:

§ Quy hoạch trường bắn của quân đội: 200 ha, trong đó diện tích của thị trấn 100 ha. Hiện nay quy hoạch chưa xây dựng xong nhưng đã tiến hành diễn tập gây nguy hiểm và bất an cho người dân.

§ Đất sản xuất do nông trường quản lý nhưng người dân lại do chính quyền quản lý.

 1.5. Các đối tượng tham gia

Đối tượng chính của hoạt động tham vấn là đại diện các hộ dân trên các địa bàn tổ chức tham vấn. Đoàn tham vấn đã thực hiện 13 cuộc thảo luận trực tiếp lấy ý kiến người dân ở 25 thôn/tổ dân phố của 7 xã, phường, thị trấn. Tại các cuộc thảo luận này đã có 245 người đại diện cho các hộ dân tham dự, trong đó có 134 nam và 111 nữ.

Trong tổng số 245 người tham gia có:

§ 94% người đại diện các hộ bị ảnh hưởng bởi các hoạt động quy hoạch, dự án liên quan đến quản lý sử dụng đất.

§ 54 người là người dân tộc thiểu số (Dân tộc Tày: 26 người; Dân tộc Dao: 28 người)

PHẦN II: KẾT QUẢ THAM VẤN

2.1. Quy hoạch sử dụng đất

Ý kiến của người dân và chính quyền xã, phường

Quy hoạch được thông báo nhưng một thời gian dài không thực hiện hoặc thực hiện không đồng bộ, ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân

Trên địa bàn phường Yên Thịnh thực hiện có những dự án lớn đã được thông báo từ lâu nhưng tới nay mới được triển khai, như dự án của Trung đoàn Cảnh sát cơ động và Kho hậu cần được thông báo từ 2008 nhưng mới được triển khai cuối năm 2012, hoặc dự án Trung tâm Thể thao được thông báo từ 2006 nhưng cho tới nay vẫn chưa tiến hành. Bên cạnh việc gây ra những thiệt hại và rắc rối không nhỏ cho nhà nước trong quá trình đền bù giải phóng mặt bằng, việc kéo dài quy hoạch cũng ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người dân, cụ thể là người dân không an tâm đầu tư sản xuất vì không biết lúc nào đất bị thu hồi, cũng không thể thực hiện các hoạt động cải tạo xây dựng nhà ở hay chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo đúng quyền lợi của họ.

Xã Sơn Thịnh có hai dự án quy hoạch “treo” từ rất lâu là dự án Công viên bể bơi quy hoạch từ năm 1997 và dự án Cụm công nghiệp phía Tây quy hoạch từ năm  2005. Người dân sống trong những diện tích đất thuộc các quy hoạch này từ đó đến giờ không được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cũng không được phép cải tạo sửa chữa nhà cửa. Nhiều gia đình sống trong các căn nhà đã xuống cấp thấy một thời gian rất lâu không thực hiện quy hoạch, định cải tạo lại nhà ở để ổn định và an toàn hơn thì bị đình chỉ hoặc bị phạt, gây thiệt hại về tiền của trong khi vẫn không cải thiện được đời sống. Điển hình như gia đình bà Vũ Thị Nga định xây nhà năm 2005 thì buộc phải dỡ bỏ phần mộc sau khi đã làm xong gia đình xây dưng nhà 2 tầng, khi làm xong phần mộc thì buộc phải dỡ bỏ, khiến gia đình bà thiệt hại mất khoảng 100 triệu đồng chi phí xây thô.

Quy hoạch Thao trường bắn QK2 tại Thị trấn Nông trường Nghĩa Lộ thì không tiến hành thu hồi đất dứt điểm sau khi quy hoạch. Cụ thể, theo quy hoạch, diện tích đất phải thu hồi để làm thao trường khoảng 200ha. Quy hoạch này được thông báo từ năm 2003 và cho tới nay đã thu hồi vào 2 đợt được khoảng 100ha, còn lại khoảng 100ha thuộc diện quy hoạch nhưng chưa thu hồi thì người dân vẫn chưa được nhận bồi thường để di dời. Vấn đề lớn nhất đối với dự án này là những phần đất đã thu hồi cũng không nằm nguyên trên một khoảnh đất liền nhau mà chỉ lấy các vị trí quan trọng theo kiểu da báo, do đó vẫn có nhiều hộ gia đình đang sống xen kẽ với những vị trí “quân sự” và chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi hoạt động của thao trường. Mỗi năm thao trường thực hiện ít nhất là một lần diễn tập và mỗi lần diễn tập lại thực hiện bắn đạn thật ít nhất là 3 lần. Mỗi lần như vậy, người dân phải dừng sản xuất và di tản để bộ đội diễn tập. Chưa kể, trong quá trính diễn tập bắn đạn thật, với rất nhiều súng lớn các loại và thuốc nổ, có nguy cơ lớn đối với sự an toàn của người dân.

DSC09182


Các quy định liên quan đến Quy hoạch không rõ ràng, gây trở ngại cho việc quản lý đất đai của chính quyền địa phương và việc sử dụng đất của người dân

Việc các dự án “treo” hoặc thực hiện kéo dài, không dứt điểm không chỉ ảnh hưởng tới quyền sử dụng đất theo đúng pháp luật của người dân như đã nêu ở trên, mà còn dẫn đến những khó khăn đối với việc quản lý đất đai của chính quyền địa phương. Cụ thể như, dự án Cầu đá ở xã An Thịnh kéo dài 10 năm nay chưa xong, chưa tiến hành thu hồi và cũng chưa có khu tái định cư khiến người dân không được phép sửa chữa nhà ở, trong khi nhiều gia đình phải sống trong điều kiện rất khổ. Ngay cả có trường hợp một gia đình được Hội cựu chiến binh tỉnh cấp cho 1 căn hộ nằm trong quy hoạch nói trên nên cũng không được phép sửa chữa. Có những người dân đã khiếu kiện nhiều lần và lên cả cấp trên nhưng xã không giải quyết được gì vì những việc này không nằm trong thẩm quyền của cấp xã. Mặc dù luật có quy định về “quy hoạch treo” nhưng các hướng dẫn thực hiện lại không rõ ràng và thường xuyên thay đổi, chưa kể không có hướng xử lý rõ ràng giúp giải quyết những bất cập trong cuộc sông của người dân trong trường hợp quy hoạch treo nên cấp xã rất khó làm việc.  

Bên cạnh đó, có những trường hợp Quy hoạch chồng chéo và không rõ ràng cũng khiến chính quyền địa phương “bối rối” trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý của mình. Ví dụ, Quy hoạch phát triển kinh tế khu Tây cầu Mậu A của huyện Văn Yên đến năm 2020 được UBND huyện lập từ năm 2000 và cho đến nay do nhiều lý do vẫn chưa được triển khai. Trong khi đó, năm 2007 có dự án đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai (dự án Quốc Gia) đi qua xã đã phá vỡ quy hoạch này của huyện. Tuy quy hoạch Tây cầu Mậu A đã bị phá vỡ nhưng đến nay vẫn chưa được chỉnh sửa hoặc hủy bỏ đã gây rất nhiều khó khăn cho công tác quản lý của xã An Thịnh và gây khó khăn, bức xúc của người dân về cấp sổ đỏ, kiến thiết xây dựng nhà của, chuyển quyền sử dụng đất, vay vốn ngân hàng...

Quy hoạch không tổng thể, gây thiệt hại cho những phần đất “kẹt” không nằm trong quy hoạch

Hai dự án Kho dự trữ quốc gia và dự án của Trung đoàn Cảnh sát cơ động trên địa bàn phường Yên Thịnh quy hoạch trên hai diện tích đất gần kề nhau, kẹt giữa là khu nghĩa trang với khoảng  50 ngôi mộ cũ. Nhưng cả hai dự án đều không có động tĩnh gì trong việc di dời số mộ này đi. Hiện giờ các dự án này đã bắt đầu tiến hành xây dựng trong khi khu nghĩa trang vẫn nằm đó, nguy cơ là đất cát sẽ vùi lấp cả nghĩa trang và tới mùa mưa thì khu vực này không có đường thoát nước có thể ngập chìm nghĩa trang.

Người dân và chính quyền địa phương tại các xã tiến hành tham vấn đều cho biết hiện nay họ chỉ được thông báo về quy hoạch và thực hiện quy hoạch chứ chưa được đóng góp ý kiến trong khi lập quy hoạch, lập báo cáo khả thi và báo cáo đánh giá tác động môi trường. Quy trình thông báo quy hoạch đang được thực hiện là Tỉnh thuê tư vấn lập dự án, tham vấn cấp tỉnh và chỉ về phường xin ý kiến về quy hoạch. Thông báo quy hoạch niêm yết ở UBND phường 20 ngày, thông báo thu hồi đến tận người dân. Việc người dân và chính quyền địa phương chưa có tiếng nói trong quá trình lập quy hoạch chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc nhiều quy hoạch chưa phù hợp, chưa đồng bộ và có ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của người dân. Đó cũng là nguyên nhân góp phần gây ra nhiều vụ khiếu nại liên quan đến đất đai và xây dựng tại tỉnh Yên Bái.

Ý kiến của Sở Tài nguyên Môi trường

Quy hoạch kế hoạch sử dụng đất trong những năm gần đây được nhân dân rất quan tâm. Việc lập quy hoạch là tổng hợp các đề xuất ở dưới cấp xã. Hiện nay Yên Bái đã có kế hoạch quy hoạch sử dụng đất tới năm 2020. Đối với những quy hoạch treo mà các xã trình bày là một thực tế đang tồn tại. Do yên Bái là tỉnh nghèo nên mặc dù đã có thông báo quy hoạch nhưng do không có đủ kinh phí nên chương trình quy hoạch dở dang và phải dừng lại và ảnh hưởng tới đời sống của nhân dân. Ngành cũng đã có kiến nghị rất nhiều nhưng vẫn rơi vào tình trạng lực bất tòng tâm.

Đề xuất/ Khuyến nghị

Ø Khi đã quy hoạch thì phải có nêu rõ thời gian và cấp nào thực hiện quy hoạch này và lộ trình thực hiện như thế nào, nguồn lực lấy từ đâu. Nên quy định rõ ràng thời gian thực hiện quy hoạch.

Ø Quy hoạch phải đảm bảo khả thi và phải có người chịu trách nhiệm những sai phạm trong vấn đề đất dự án.

Ø Khi đã có quy hoạch mới chồng chéo với quy hoạch cũ thì cần điều chỉnh ngay hoặc có quyết định hủy bỏ quy hoạch cũ.

Ø Cần có quy hoạch tổng thể cho cả một địa phương chứ không quy hoạch riêng lẻ cho từng dự án để đảm bảo mọi diện tích đất được sử dụng hiệu quả, tránh tình trạng đất thừa – đất kẹt.

Ø Cần quy định việc tiến hành kiểm kê đền bù ngay khi công bố, và tiến hành thu hồi đất ngay để tránh thiệt thòi cho người dân.

Ø Nếu các dự án chưa thực hiện ngay thì không thông báo quy hoạch sớm để tránh ảnh hưởng đến việc sản xuất và cuộc sống của người dân.

Ø Những dự án đã xác định diện tích đất thu hồi thì lấy dứt điểm ngay.

Ø Cần hoàn thành việc di dời dân cư, khu nghĩa địa trước khi tiến hành xây dựng dự án

Ø Cần tham khảo ý kiến từ dân trước khi quyết định về quy hoạch

Ø Luật nên quy định nhân sự đối với những địa phương có đông dân, nên quy định quy hoạch cơ sở hạ tầng có tính ổn định lâu dài

 2.2. Chế độ sử dụng đất

Ý kiến của người dân và chính quyền xã, phường

Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thuận lợi đối với người dân

Số lượng các hộ gia đình đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn ít. Tại xã An Thịnh, hiện nay có khoảng 80 hộ chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có cả những trường hợp đã nộp hồ sơ từ lâu và đóng thuế đầy đủ như ông Nhuận (sinh nhăm 1941). Tại xã Phúc Lộc, nhiều người dân sử dụng đúng mục đích và không có tranh chấp gì nhưng cho đến giờ vẫn chưa tiến hành cấp chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc người dân không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã gây ra nhưng tranh chấp của các hộ gia đình về đất , Vũ Thị Châm, thôn Chè Vè kể “Từ năm 1980 – 1983 ông bà và cha mẹ tôi có khai hoang một thửa đất rộng 200m2 tại thôn Chè Vè, lúc bấy giờ đất đó thấp hơn mặt đường và ở ven suối, gia đình tôi vẫn trồng hoa màu. Đến năm 1994 do không có đất ở cha mẹ tôi cũng đã làm nhà cho con ra ở cho đến nay. Cha mẹ tôi cũng đã làm đơn xin được cấp sổ đỏ từ năm 2001 nhưng cho đến nay vẫn chưa được xét. Tại khu vực này cũng có 10 nhà có tình trạng giống như nhà tôi

Việc quy hoạch không rõ ràng hoặc quy hoạch kéo dài cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chậm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Phùng Văn Biền thôn Đại An thì kể “Tôi có khoảng 3500m2 đất, đã chia cho các con mỗi người khaỏng 600m2. Người con cả đã làm được sổ đỏ cho diện tích đất tôi chia cho. Các người con khác đều chưa làm được sổ. Từ năm 2004, gia đình tôi đã đề nghị trên cấp sổ đỏ cho các phần diện tích đất đã chia cho các con nhưng được trả lời là diện tích trên thuộc khu quy hoạch tây cầu Mậu A nên tạm dừng cấp sổ đỏ. Cũng trong năm 2004, tôi có bán cho gia đình anh chị Hùng – Hằng ở thị trấn Mậu A gần 100m2. Anh chị Hùng – Hằng cũng mua thêm đất của những nhà khác liền kề nhà tôi. Đến khoảng năm diện tích đất anh chị Hùng – Hằng đã được cấp sổ đỏ.”

Người dân xã Phúc Lộc cũng có ý kiến rằng thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho các thành viên trong gia đình hiện ra vẫn quá “rắc rối”, họ phải lên tận huyện, thành phố để hoàn thành những thủ tục này. Điều này đối với nhiều gia đình là khó khăn không nhỏ.

Thời hạn giao đất ngắn so với nhu cầu sản xuất

Người dân xã Đại Phác, huyện Văn Yên có ý kiến rằng thời gian sử dụng đất nông nghiệp 20 năm là ngắn, chưa phù hợp với tình hình thực tế. Dân đang có xu thế tự chuyển nhượng cho nhau (li nông không li hương), nhưng nếu nhìn vào bìa đỏ giao đất thì chỉ có 20 năm thì người nhận chuyển nhượng không dám nhận hoặc không dám canh tác vì thời gian quá ngắn. Người dân nếu muốn trồng những cây dài ngày như trồng chè, trồng rừng phát triển kinh tế hộ gia đình cũng cần thời gian khoảng 30 – 40 năm để đầu tư hiệu quả.

Phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất vườn sang đất ở quá cao

Hiện tại, mức phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất từ đất vườn sang đất thổ cư được quy định là 100%. Mức phí này được nhiều người dân và cán bộ địa phương nhận định là quá cao, nhất là khi cân nhắc những trường hợp cha mẹ chuyển nhượng đất cho con cái để xây nhà ở. Ví dụ trường hợp gia đình ông Hoàng Đình Trạch thôn Đại Phác Xã Đại Phát, huyện Văn Yên Tỉnh Yên Bái. Ông có con gái lớn là Hoàng thị Sâm đã thành lập gia đình nhưng gia đình thiếu thốn về ở với gia đình Ông có chia cho con diện tích đất vườn chiều mặt là 10m chiều sâu 25m. Đây là đất vườn ông tự khai phá để làm vườn, chia cho con đất ở và vườn nhà ông bị thu hẹp. Nhưng khi làm thủ tục chia và làm sổ cho con Ông được biết phí chuyển đổi là 100% giá tri đất là cao hết 20-30 triệu đồng. Số tiền này là quá lớn đối với một gia đình làm nông nghiệp ở nông thôn nên gia đình vẫn chưa làm được sổ. Trong thôn cũng có nhiều gia đình muốn tách sổ cho con vì con cái lớn có gia đình cần làm nhà ra ở riêng cũng gặp trường hợp tương tự.

Hiện nay, các xã ở tỉnh Yên Bái đang vận động người dân hiến đất để thực hiện chương trình xây dựng Nông thôn mới. Chương trình này được nhiều người ủng hộ và hiến đất. Tuy nhiên, một việc phát sinh là sau khi hiến đất thì diện tích đất bị thu hẹp lại không phù hợp để sản xuất, người dân muốn chuyển đổi những phần đất vườn tạp thành đất thổ cư và đất sản xuất thì phí lại quá cao.

Bất cập trong việc giao đất cho nông trường/ doanh nghiệp quản lý

Công ty CP Chè Nghĩa Lộ thuê đất của Nông trường Nghĩa Lộ để sản xuất nhưng lại cho phép công nhân xây dựng nhà ở trên đó. Chính quyền TTNT Nghĩa Lộ có trách nhiệm quản lý sử dụng đất nhưng lại gặp khó khăn trong việc can thiệp vì những nhà được xây dựng này nằm trên phần đất được giao cho công ty.

Trong diện tích đất trước đây được giao cho Nông trường Nghĩa Lộ có nhiều phần đất không được sử dụng, bỏ hoang và người dân địa phương đã tự đến khai hoang sản xuất từ nhiều năm, tuy nhiên do đây là đất thuộc nông trường quản lý nên người dân không được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, và họ cũng không được hưởng quyền lợi bồi thường trong trường hợp bị thu hồi đất. Người dân thuộc khu vực thị trấn nông trường (trước đây là công nhân nông trường) đã được bàn giao về địa phương, nhưng trên địa bàn vẫn còn những phần đất do nông trường quản lý từ trước đã để mặc cho dân tự phát triển sản xuất. Đến nay người dân đã tự động xây dựng nhà ở, chính quyền địa phương rất khó can thiệp.

Ý kiến của Sở TNMT

Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Có những trường hợp dân thấy không cần thiết phải làm sổ đỏ mà vẫn được sinh sống trên diện tích đất đó (để hạn chế phải đóng tiền) nên đã không làm. Sau đó, khi có những chủ trương chính sách mới liên quan tới chế độ sử dụng đất thì đã xảy ra những bất cập.

Muốn cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho tất cả những hộ dân trên địa bàn tỉnh Yên Bái thì phải có bản đồ địa chính. Để làm như vậy thì tỉnh phải đầu tư 958 tỷ đồng, số tiền này quá lớn mà ngân sách của tỉnh hiện tại không đáp ứng được. Năm 2013 dự kiến hoàn thành trên 100 ngàn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

 Đề xuất/ Khuyến nghị

Ø Thay đổi thời hạn sử dụng đất là khoảng 30 tới 50 năm. Thời hạn bao nhiêu năm cần đưa ra được lý do phù hợp.

Ø Giảm mức phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất đối với những người có mục đích sử dụng đất chính đáng, rõ ràng xuống khoảng 20% so với mức phí hiện nay (VD trường hợp bố mẹ chuyển nhượng đất cho con cái). Để tránh hiện tượng đầu cơ đất, nhà nước nên có những chính sách cụ thể đối với những hộ gia đình chính sách

Ø Giảm phí chuyển đổi mục đích sử đụng đất đối với những trường hợp hiến đất cho nhà nước trong đề án xây dựng nông thôn mới và trường hợp bố mẹ cho con cái.

Ø Quản lí đất đai chuyển cho chính quyền địa phương còn các công ty chỉ quản lí tài sản trên đất

Ø Chuyển thẩm quyền quyết định chuyển nhượng đất cho cấp xã

Ø Quy định rõ loại đất nào thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Ø Xúc tiến hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những hộ có đủ điều kiện

Ø Tính thuế đất tại thời điểm thực tế

Ø Số lượng cán bộ phòng TNMT tương ứng với nội dung công việc cần phải làm

 2.3. Định giá đất

Ý kiến của người dân và chính quyền xã, phường

Việc định giá đất cũng như các tài sản trên đất (liên quan đến trường hợp thu hồi và bồi thường) hiện nay có nhiều điểm không hợp lý, cụ thể như sau:

Mức đền bù quá thấp so với giá trị đất

Đối với đất nông nghiệp, cả tiền hỗ trợ chỉ được 24.000d/m2 như vậy một sào chỉ được đền bù 9.640.000d. Người dân tính rằng nếu họ trồng lúa, năng suất bình quân là 200kg/sào x 7.000d/kg = 2.800.000d/năm. Nếu tính tiền nhà nước đền bù thì dân chỉ cần làm hơn 3 năm là đủ. Trong khi đó, Nhà nước giao ruộng cho dân là 20 năm,  số tiền đền bù nếu như tương đương với khả năng sản xuất của họ trong 3 năm thì họ sẽ thiếu nguồn sống trong  16 – 17 năm còn lại.

Đất thổ cư và đất vườn tạp cũng quy định mức giá đền bù không sát với giá thị trường. Ví dụ như trường hợp nhà ông Phùng thế Thường ở xã Phúc Lộc, sau khi lấy tiền đền bù đi mua chỗ mới, chỗ mới không bằng chỗ ở cũ, mà ông Thường chỉ được đền bù 400.000.000d, trong khi chỗ ở mới tại khu tái định cư lại là 600.000.000d. Hơn 40 hộ bị thu hồi ở xã Phúc Lộc, được 400 triệu đền bù, mang số tiền đó đi để mua mảnh đất khác tương đương ở cùng khu thì lại không đủ tiền, mà vào khu tái định cư lại phải bỏ số tiền lớn hơn ra mua. Kể cả tiền đền bù vật liệu kiến trúc trên đất (cũng rất thấp), người dân nhận tiền xong không đủ tiền để mua đất lại, chưa kể gì đến chuyện phải xây lại nhà để ở.

Định giá thu hồi đất không minh bạch

Một số dự án khi thực hiện đưa ra mức giá đền bù thu hồi đất không được người dân chấp nhận. Sau khi người dân phản đối thì mức giá này lại được thay đổi. Điều này dẫn đến việc người dân băn khoăn về cơ sở của định giá và nhiều người cho rằng cứ phản đối sẽ được tăng giá.Ông Lưu Ngọc Minh, thôn Bản Lọng xã Sơn Thịnh kể “Trong dự án mở rộng đường 32, Gia đình tôi và người dân có được thông báo thu hồi, và có đền bù. Khi áp giá đền bù cho các hộ ban đầu bằng miệng là 160.000 đồng/m2 người dân không chịu, lần thứ hai Huyện gọi lên là 300.000 đồng/m2, người dân không chịu, lần thứ ba Huyện lại gọi lên trả 600.000 đồng/m2 dân không chịu, quá bức xúc vì bị Huyện áp giá quá thấp tôi đã lên Tỉnh, để xin tài liệu khung giá đất của tỉnh Yên Bái mang lên Huyện thì Huyện mới trả lên 800.000 đồng/m2, hộ được Huyện trả cao nhất là 1.150.000 đồng/m2.

Cách tính giá trị các tài sản có liên quan khi thu hồi đất không hợp lý.

Cụ thể như việc tính giá vật liệu kiến trúc và tài sản trên đất. Địa phương xây dựng một nhà văn hóa cấp 4 hết khoảng 500 triệu, trong khi đó số tiền đền bù một ngôi nhà cấp 4 cho dân chỉ có 100 triệu đồng, không đủ để xây nhà mới sau khi phải di dời.

Cách tính tiền đền bù cây trên đất cũng không phù hợp. Việc phân loại cây để đền bù không dựa vào giá trị mà cây đó có thể tạo ra mà lại dựa trên kích cỡ. VD có những cây cọ, cau rất cao không ai trèo lên được, giá trị thu hoạch còn ít thì lại đưa vào danh mục hạng A (200.000d/ cây) trong khi những cây mới trồng ít lâu, còn thấp và còn khả năng thu hoạch lâu dài thì giá đền bù lại thấp.

Mức giá không thống nhất

Có những trường hợp các dự án thực hiện trên cùng một địa bàn, cùng thu hồi một loại đất nhưng lại đưa ra mức giá đền bù khác nhau khiến người dân cảm thấy bất hợp lý và “nghi ngờ” về tính minh bạch trong định giá. Cụ thể như dự án Kho hậu cần và trung đoàn cảnh sát cơ động trên địa bàn phường Yên Thịnh, là những dự án cùng thuộc Bộ Công an và cùng thực hiện dự án trên một quả đồi. Sau khi được thông báo về việc thu hồi đất để xây dựng Tổng kho của tổng cục hậu cần và dự án Xây dựng sư đoàn cảnh sát cơ động Bộ công an, nhiều hộ dân ở tổ 38,39 phường Yên Thinh không hài lòng về mức giá đền bù khác nhau của 02 dự án trên cùng một khu vực, cùng tổ dân phố, cùng thời điểm.Dự án xây dựng tổng kho hậu cần mức đề bù 130.000.000 VND/sào; dự án xây dựng Sư đoàn cảnh sát đền bù 60.000.000 VND/sào trong khi 02 dự án chỉ cách nhau một bờ ruộng. Vì vậy các hộ dân bị thu hồi đất làm dự án xây dựng Trung đoàn cảnh không đồng ý với mức bồi thường này và đã yêu cầu bên CS cơ động tăng mức đền bù.

Mức giá đất là do UBND tỉnh quy định, nhưng giá đất thực tế thì thay đổi hàng ngày nên bảng giá của tỉnh thường không sát với thực tế.

Đề xuất/ Khuyến nghị

Ø Hạn chế thu hồi đất nông nghiệp

Ø Nhà nước tham khảo giá đất trên phạm vi toàn quốc để tránh tình trạng đền bù ít hoặc đền bù không thống nhất

Ø Nên có định giá tương quan giữa các dự án trên cùng một khoảng diện tích đất cụ thể.

Ø Khi dự án triển khai ở khu vực nào thì nên có bản định giá đất độc lập trong đó có sự tham gia của người dân để định giá đất sát với thực tế.

Ø Định giá đất thổ cư và vật liệu kiến trúc sát với giá thị trường để đảm bảo người dân đủ tiền mua chỗ mới tương ứng khi bị thu hồi đất ở

Ø Đền bù tài sản trên đất phù hợp với thực tế

Ø Định giá đất bồi thường theo cơ chế thị trường và giá đất theo giá thị trường (VD nên có sự thỏa thuận với người dân về giá đền bù)

Ø Luật cần quy định rõ thế nào là sát với giá thị trường. Giá thị trường của đất thổ cư, đất ở, đất nông nghiệp như thế nào?

2.4. Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Ý kiến của người dân và chính quyền xã, phường

Các khu tái định cư bố trí không phù hợp và không đảm bảo cuộc sống của người dân

Tại thôn 1 xã Phúc Lộc đang thực hiện 2 quy hoạch của Bệnh viện đa khoa và Bệnh viện lao phổi Yên Bái. Khu tái định cư của hai dự án này được nằm trong một mảnh đất hẹp kẹp giữa hai dự án. Mặt bằng khu tái định cư ở thấp hơn công trình 5m, mỗi lần người dân mở cửa nhà là nhìn thấy bức tường đất cao 5m án ngữ trước cửa. Với địa hình như thế này, đến mùa mưa thì lòng đường và nhà dân chắc chắn sẽ trở thành sông cuốn kèm theo bùn đất và rác thải, còn mùa hè thì giống như sống trong căn hầm kín gió nóng nực, nếu như mất điện người dân không biết sẽ đi đâu. Chưa kể đến ngay sát vách hai phía đều là bệnh viện, trong đó có cả bệnh lây (lao phổi), người dân sẽ hứng chịu cảnh ô nhiễm nguồn nước và rác thải y tế từ cả hai bệnh viện này. Hiện nay, khu tái định cư không có nguồn nước ăn. Dân đào giếng để lấy nước thì không ăn được vì nước có mùi thối.

Khu Tái định cư Đầm Giặc được bố trí cho các hộ gia đình bị thu hồi đất trong quy hoạch Kho hậu cần tại phương Yên Thịnh, là khu đất đổ trên nền đầm trước đây. Xung quanh là một số các dự án khác san nền cao gần bằng trần nhà cấp 4 nên khu tái định cư trở thành một lòng chảo. Mặc dù đã làm đường đi lại mà dân không sử dụng được do luôn trong tình trạng ngập nước và bùn; mỗi lần trời mưa nước đổ dồn vào biến khu TĐC thành một cái ao. Để xây nhà được thì tổng cộng phải tốn kém gấp đôi các chỗ đất thổ cư khác (riêng đổ cọc móng đã mất hơn 70 triệu); khu TĐC là khu trũng, bị ngập úng và hiện nay đường vào đã bị lún, ngập trong bùn.

Bà Đỗ Thị Bí năm nay đã 78 tuổi; chồng bà 79 tuổi, hai ông bà có 6 người con. Năm 2011 gia đình bà bị thu hồi đất cho dự án xây dựng Tổng kho hậu cần, diện tích thu hồi 5000m2 đất, ông bà chỉ được đền bù 1 suất đất tái định cư có diện tích 120m2 tại Đầm Giặc cùng phường và bà phải mua với giá 192 triệu VND. Địa điểm này nền đất yếu, làm nhà phải có nhiều tiền; cơ sở hạ tầng không tốt, chưa có hệ thống ống dẫn nước sạch; hiện nay trong 40 hộ có đất tái định cư ở đây chỉ có một hộ đang bắt đầu làm nhà nhưng phải đóng cọc móng sâu 15m. Với số tiền còn lại sau khi mua đất, gia đình bà không thể đủ tiền để xây nhà ở đây. 

DSC09098 (1)DSC09091

Khu tái định cư đầm giặc 
Dự án đã thực hiện mà người dân vẫn chưa được tái định cư

Tại xã Phúc Lộc, khi thực hiện quy hoạch dự án Trường cao đẳng y tế Yên bái, có 2 hộ độc thân là hai cụ đã hơn 80 tuổi (trong đó có cụ Nguyễn Thị Hiên). Các cụ đã được nhận đền bù với mức định giá từ 3 năm trước đây. Giờ các cụ trong tay chỉ còn 200.000.000d, nỗi lo của các cụ là khi được bố trí mua đất tái định cư, với giá cả như hiện nay hoặc mấy năm nữa thì lấy đâu ra tiền để làm nhà.

Xã An Thịnh có tổng số 45 hộ phải di dời nhà cho dự án xây dựng đường cao tốc, hiện nay mới có 23 hộ được vào khu tái định cư. Còn lại những gia đình khác vẫn chưa thể tới khu tái định cư vì khu tái định cư chưa hoàn thành. Điều này đã dẫn đến việc một số gia đình xây dựng trái phép nhà ở trên đất đã quy hoạch.

Tính suất đất tái định cư bất hợp lý

Một vấn đề nữa liên quan đến đất tái định cư là cách tính suất đất. Trước đây mỗi hộ gia đình sử dụng diện tích đất tương đối lớn nên trên một mảnh đất (có sổ đỏ) có thể có nhiều hộ gia đình sinh sống (hộ gia đình của bố mẹ và con cái), nhưng đất tái định cư thì diện tích rất nhỏ chỉ đủ cho một hộ gia đình. Trong khi suất đất tái định cư được tính theo mảnh đất có “sổ đỏ” chứ không tính theo nhân khẩu, theo hộ gia đình hoặc theo diện tích đất bị thu hồi, mà người dân thì không tách được sổ đỏ do đất nằm trong quy hoạch hoặc lý do khác, cách bố trí tái định cư như vậy khiến người dân rất khó ổn định cuộc sống.

Nhà Ông Phùng Văn Đô ở xã Phúc Lộc, có 2 con đã ra ở riêng trên cùng một thổ đất nhưng không tách được sổ đỏ cho 2 con. Trong khi đền bù cắm tái định cư thì chỉ có ông bố đủ điều kiện được cắm 1 suất là 300m2 còn hai người con thì không đủ điều kiện thì nhà nước chỉ cắm cho 100m2. Khi làm nhà thì không còn đất sản xuất nữa. Trâu nuôi để cày bừa phải đi thuê chỗ để buộc trâu

Hộ ông Nguyễn An Ninh ở tổ 44, phường Yên Thịnh trong diện thu hồi đất giải phóng mặt bằng cho dự án xây dựng kho của Tổng cục hậu cần – Bộ Công an trên địa bàn phường. Trong giấy sử dụng đất của gia đình ông có diện tích lớn nhưng khi đo đạc thực tế lại ít hơn. Đơn vị giải phóng mặt bằng căn cứ vào thực tế để tính đền bù nhưng ông không chấp nhận. Mặt khác, trong quá trình thông báo quy hoạch chờ đền bù, ông đã làm thủ tục chia tách cho con ra ở riêng và đã được pháp luật xác nhận. Đến khi triển khai đền bù thì hộ mới tách không được diện hỗ trợ tái định cư cũng như các hỗ trợ khác có liên quan. Gia đình đã khiếu nại. Là cán bộ cấp thấp nhất trong hệ thống, cán bộ địa chính đã có văn bản gửi lên các cấp xin ý kiến chỉ đạo. Chính quyền tỉnh đã gửi văn bản tới Bộ Tài nguyên môi trường xin được hướng dẫn nhưng vẫn chưa có câu trả lời cụ thể về trường hợp này. Chính quyền địa phương cũng đã làm tờ trình hỗ trợ bổ sung và đang chờ ý kiến chỉ đạo của cấp có thẩm quyền. Hiện đang chờ quyết định phản hồi cuối cùng.

Việc thu hồi đất nông nghiệp ảnh hưởng lớn đến nguồn sống của người dân, đặc biệt là người già.Đất là phương tiện sản xuất và là đường sống của người nông dân. Khi bị thu hồi đất, những người còn trong độ tuổi lao động thì còn có thể đi làm thuê làm mướn để kiếm sống. Nhưng những người lớn tuổi, trước đây sống nhờ vào vườn tược, chăn nuôi thì bây giờ không còn sinh kế vì đã quá tuổi lao động không thể đi làm thuê cho doanh nghiệp hoặc cá nhân. Do đó, nếu việc thu hồi đất không đi kèm với những hỗ trợ riêng cho người cao tuổi thì cuộc sống của họ sẽ bị ảnh hưởng nặng nề.

Đề xuất/ Khuyến nghị

Ø Giá đất đền bù nên theo giá đất thị trường tại thời điểm đền bù. Cơ sở tính giá phải đảm bảo công bằng cho dân

Ø Thu hồi đất và đền bù trong vòng 6 tháng kể từ ngày có quyết định thu hồi chứ không để lâu vì trượt giá. 

Ø Cần lấy ý kiến nhân dân khi xây dựng khu tái định cư để đảm bảo phù hợp với cuộc sống của người dân

Ø Vị trí đất tái định cư phù hợp. Cơ sở hạ tầng khu tái định cư cần đảm bảo điều kiện tối thiểu để dân sử dụng như mặt nền ổn định không ngập nước, có điện, nước ăn. Đất tái định cư phải đảm bảo mặt bằng tối thiểu để người dân có thể làm nhà ở và phù hợp với cách sống của người dân ở nông thôn (VD: nhà phải có mảnh vườn, có đất làm chuồng gà, chuồng trâu)

Ø Hoàn thiện khu tái định cư và di dời dân tới khu tái định cư trước khi tiến hành thu hồi đất

Ø Nên cấp và bán cho các gia đình có đất bị thu hồi mà có con ở cùng thì có thể được mua đất ở khu tái định cư với giá ưu đãi.

Ø Có chính sách hỗ trợ đối với những người hết tuổi lao động mà bị thu hồi đất

Ø Luật nên có những quy định cụ thể liên quan tới việc giá đền bù và giải phóng mặt bằng đối với đất dự án.

Một số hình ảnh tư liệu   

 

Phỏng vấn 02 phó chủ tịch xã Sơn Thịnh

Đại diện các hộ dân tại xã Nậm Búng tham gia tham vấn

Hôi nghị tham vấn cấp xã, xã Đại Phác, người dân có ý kiến và xã đã thống nhất các ý kiến mang tới Hội thảo tham vấn cấp tỉnh

Lãnh đạo xã Đại Phác cùng người dân thống nhất các vấn đề đưa ra chia sẻ tại Hội thảo tham vấn cấp tỉnh

Tổng hợp các vấn đề đã thảo luận và đề xuất giải pháp

Đại diện nhóm dân thôn Chè Vè (xã An Thịnh) phát biểu tại cuộc họp xã

Nhóm Nghiên cứu viên thuộc tổ chức Oxfam

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống