Báo cáo tham vấn cộng đồng để góp ý vào dự thảo Luật đất đai sửa đổi tại Tỉnh Quảng Bình

10/04/2013

PHẦN I. THÔNG TIN CHUNG

Thực hiện kế hoạch liên tịch của Viện Nghiên cứu Lập pháp thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Tổ chức OXFAM về chương trình lấy ý kiến tham vấn cộng đồng về Dự thảo Luật đất đai sửa đổi được diễn ra tại 05 tỉnh Yên Bái, Hòa Bình, Quảng Bình, An Giang và Long An. Tại tỉnh Quảng Bình, được sự đồng ý của UBND tỉnh Quảng Bình, Đoàn Đại biểu Quốc Hội tỉnh Quảng Bình cùng phối hợp với Quỹ Phát triển Nông thôn và Giảm nghèo Quảng Ninh (RDPR) và Trung tâm Nghiên cứu Kiến thức Bản địa và Phát triển (CIRD) đã thực thực hiện tham vấn tại 3 huyện: Quảng Ninh, Tuyên Hoá, Bố Trạch và tổ chức Hội thảo lấy ý kiến các ban ngành, doanh nghiệp trong toàn tỉnh. Thời gian thực hiện tham vấn tại hiện trường được bắt đầu từ 15 tháng 12 năm 2012 đến 25 tháng 01 năm 2013. Đặc biệt ngày 24 tháng 01 năm 2013 Đoàn tham vấn đã tổ chức thành công hội thảo cấp tỉnh báo cáo kết quả tham vấn tại cộng đồng với sự tham gia của lãnh đạo tỉnh, các sở ban ngành liên quan và đại diện chính quyền, người dân tại các cộng đồng đã thực hiện tham vấn.

Báo cáo này được tổng hợp và ghi nhận từ kết quả của hoạt động tham vấn cộng đồng tại 3 huyện Quảng Ninh, Tuyên Hoá và Bố Trạch của tỉnh Quảng Bình. Thông tin báo cáo được thu thập từ biên bản họp dân, họp xã, các cuộc phỏng vấn lãnh đạo, ban ngành các cấp xã, huyện và tỉnh và công ty lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh.

1.1. Mục tiêu

Tham vấn cộng đồng về Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi 2013 nhằm tìm hiểu thực trạng quản lý và sử dụng đất cũng như những mong muốn và nguyện vọng của các bên liên quan có tham gia trực tiếp (người dân, doanh nghiệp, chính quyền địa phương), trên cơ sở đó hỗ trợ Viện Nghiên cứu Lập pháp đưa ra các khuyến nghị cho dự thảo Luật Đất đai sửa đổi Quá trình tham vấn tập trung thu thập kinh nghiệm và khuyến nghị của nông dân sản xuất quy mô nhỏ, người nghèo, các nhóm yếu thế, nữ chủ hộ và đồng bào dân tộc thiểu số. Nội dung tham vấn chú trọng đến quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thay đổi trong quyền sử dụng đất, đất nông nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số, định giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Cụ thể, Tham vấn cộng đồng nhằm:

§ Lắng nghe ý kiến của người dân và các cấp chính quyền về thực trạng quản lý và sử dụng đất hiện nay tại địa phương;

§ Có bức tranh tổng thể về những khía cạnh phù hợp và chưa phù hợp của luật pháp liên quan đến quản lý và sử dụng đất;

§ Chia sẻ những mong muốn và đề xuất giúp viện NCLP thuộc UBTVQH đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho dự thảo luật đất đai sửa đổi 2013.

1.2. Nội dung tham vấn

Trong những năm gần đây, Quảng Bình có nhiều biến động liên quan đến việc quản lý và sử dụng đất đai. Như quy hoạch xây dựng nhà máy, khu công nghiệp và đặc biệt việc quy hoạch các loại đất rừng. Quá trình này đã có ảnh hưởng tới đời sống của người dân địa phương. Do những đặc thù như trên, việc tham vấn cộng đồng về dự thảo luật đất đai sửa đổi tại Quảng Bình tập trung vào những nội dung sau:

§ Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

§ Chế độ sử dụng đất;

§ Định giá đất;

§ Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, cưỡng chế thu hồi đất.

Các nội dung đề cập trên được tiến hành tham vấn tại tất cả các cuộc họp dân và phỏng vấn lãnh đạo, ban ngành các cấp. Qua quá trình tham vấn nhận thấy rằng đây là các nội dung quan trọng được người dân cũng như các bên liên quan hết sức quan tâm chia sẻ nhiều thông tin, phản ánh thực trạng và mong muốn đề xuất giải quyết những hạn chế.

1.3. Phương pháp và tiến trình thực hiện

Phương pháp thực hiện tham vấn chủ yếu bằng phương pháp định tính, thông tin được thu thập thông qua các cuộc họp dân, phỏng vấn linh hoạt lãnh đạo, cán bộ phụ trách ban ngành liên quan tại xã, huyện và tỉnh như UBND, Tài nguyên môi trường, Tư pháp, UBMT, và các tổ chức đoàn thể.

Kết quả đoàn tham vấn đã tiến hành phỏng vấn lãnh đạo, ban ngành xã huyện tỉnh và doanh nghiệp được 7 cuộc, tổ chức 12 cuộc họp thôn, 6 cuộc họp xã.

Hoạt động tham vấn được thực hiện tại cộng đồng theo tiến trình sau:

        i.            Phỏng vấn lãnh đạo, cán bộ huyện.

     ii.            Phỏng vấn lãnh đạo, cán bộ xã.

   iii.            Tổ chức các cuộc họp dân (tại thôn, bản): Người dân chia sẻ thực trạng quản lí sử dụng đất tại địa phương và các đề xuất. Nhóm tham vấn hỗ trợ người dân ghi chép, tổng hợp các nội dung chính, được thống nhất và cử người tham gia báo cáo kết quả tham vấn tại xã.

   iv.            Tổ chức các cuộc họp dân và cán bộ xã (tại xã): Đại diện người dân tại các thôn báo cáo kết quả của thôn. Các cán bộ ban ngành xã góp ý, kiểm chứng thông tin và thống nhất nội dung tham vấn và cử người tham gia báo cáo kết quả tại Hội thảo cấp tỉnh.

      v.            Tại hội thảo cấp tỉnh tiếp tục nhận được ý kiến thảo luận của các bên liên quan về báo cáo thực trạng của các xã được tham vấn cũng như các nơi khác trong tỉnh và đưa ra các đề xuất tới dự thảo luật đất đai sửa đổi.

Hội thảo tổng kết kết quả tham vấn cộng đồng tỉnh Quảng Bình tổ chức ngày 24/1/2013 tại Hội trường Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội.

1.4. Địa bàn thực hiện

Tại tỉnh Quảng Bình hoạt động tham vấn đã thực hiện tại 6 xã của 3 huyện, cụ thể tại Quảng Ninh gồm xã Trường Sơn và Trường Xuân; huyện Tuyên Hoá gồm xã Châu Hoá và Tiến Hoá; và huyện Bố Trạch gồm Xuân Trạch và Phúc Trạch.

(Bản đồ Hành chính tỉnh Quảng Bình)

Quảng Bình là một tỉnh khu vực Bắc Trung bộ, phía Bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía Tây giáp với Lào, phía Đông giáp với biển Đông. Toàn tỉnh có 1 thành phố và 6 huyện, trong đó có hai huyện miền núi là Minh Hoá và Tuyên Hoá. Dân số Quảng Bình năm 2011 có 854.918 người, phần lớn là người Kinh, chiếm 94% và dân tộc thiểu số chiếm 6% dân số. Dân tộc thiểu số thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những tộc người chính là: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem, v.v... sống tập trung ở miền núi huyện Minh Hóa và một số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ và Tuyên Hoá.

Tỉnh Quảng Bình có diện tích đất tự nhiên là 806.527 ha. Trong đó, có 621.056 ha đất lâm nghiệp chiếm 77%. Đất lâm nghiệp vùng ven biển chiếm diện tích ít và còn lại đất rừng chủ yếu tập trung tại khu vực miền núi dọc theo dãy núi Trường Sơn của tỉnh Quảng Bình. Đất lâm nghiệp trước đây chủ yếu do các đơn vị lâm nghiệp của nhà nước quản lý, đến năm 2005 thực hiện nghị định số 170/2004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 và NĐ 200/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ, UBND tỉnh Quảng Bình đã chỉ đạo xây dựng và thực hiện đề án sắp xếp, đổi mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh của tỉnh. Theo đề án được duyệt, tỉnh Quảng Bình có 4 đơn vị thực hiện sắp xếp lại là: Công ty LCN Long Đại, Công ty LCN Bắc Quảng Bình, Công ty Cao su Việt Trung và Công ty Lệ Ninh. Tổng cộng toàn tỉnh có 19 đơn vị quốc doanh được nhà nước giao đất rừng để quản lí và sản xuất kinh doanh, trong đó có 10 LTQD, 8 BQLRPH và 1 Vườn quốc gia. Sau quá trình sắp xếp đổi mới lâm nông trường quốc doanh đã có một số diện tích đất lâm nghiệp cũng đã được giao cho địa phương và hộ gia đình quản lí và sử dụng.

Thực hiện chỉ thị số 38/CT-TTg, tỉnh Quảng Bình đã hoàn thành việc quy hoạch 3 loại rừng. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình đã có quyết định số 857/QĐ-UB ngày 20/04/2007 phê duyệt kết quả quy hoạch 3 loại rừng trên tổng diện tích 621.056 ha đất Lâm nghiệp toàn tỉnh. Trong tổng số diện tích đất lâm nghiệp toàn tỉnh chiếm khoảng 46% là đất rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, còn lại 54% là rừng sản xuất. Trong tổng số đất lâm nghiệp, chiếm tới 58% đất rừng do các BQL rừng phòng hộ, doanh nghiệp nhà nước và vườn quốc gia quản lí, khoảng 28,7% do UBND địa phương quản lý, còn lại 13% do hộ gia đình và cá nhân quản lý sử dụng chủ yếu là đất rừng sản xuất, không có rừng phòng hộ.

Trong chiến lược phát triển lâm nghiệp, UBND tỉnh Quảng Bình đã có Quyết định số 1928/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2008-2020. Ngoài ra nhằm thúc đẩy việc quản lí và sử dụng đất rừng, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo việc giao đất giao rừng cho hộ gia đình trên toàn tỉnh. Nhìn chung trong những năm gần đây, Quảng Bình có nhiều biến động liên quan đến việc quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai. Như quy hoạch xây dựng các nhà máy, khu công nghiệp và quy hoạch các loại đất rừng. Quá trình này đã có ảnh hưởng tới đời sống của người dân địa phương.

Huyện Quảng Ninh:

Quảng Ninh là huyện nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Bình. Phía Bắc giáp huyện Bố Trạch và thành phố Đồng Hới; phía Nam giáp huyện Lệ Thủy; phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Huyện Quảng Ninh có 90.285 người sinh sống trên 14 xã và 1 thị trấn với 3.041 người dân tộc Vân Kiều, chiếm 3,36% 2, tập trung tại 2 xã miền núi Trường Xuân và Trường Sơn. Tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện là 119.169,19 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp 99.813,35 ha, chiếm 83,76 % tổng diện tích đất tự nhiên. Quảng Ninh là huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao hơn mức bình quân trong tỉnh Quảng Bình là 24,12%, lương thực trợ cấp giáp hạt trung bình hàng năm là 500 tấn/năm.

Hoạt động tham vấn cộng đồng về Dự thảo Luật đất đai sửa đổi 2003 đã lựa chọn 2 xã miền núi của huyện Quảng Ninh là xã Trường Sơn và xã Trường Xuân nhằm tìm hiểu thực trạng về quản lý và sử dụng đất rừng tại các xã miền núi cũng như tìm hiểu nguyện vọng và mong muốn của bà con dân tộc về các vấn đề liên quan đến Luật đất đai sửa đổi 2003.

Xã Trường Sơn

Xã Trường Sơn là một xã miền núi đặc biệt khó khăn, cách xa trung tâm huyện Quảng Nỉnh, tỉnh Quảng Bình khoảng 80 km. Trên địa bàn xã có hai dân tộc sinh sống là dân tộc Kinh và dân tộc Vân Kiều. Toàn xã có 970 hộ dân với 4.096 nhân khẩu, trong đó dân tộc Vân Kiều có 569 hộ với 2.466 nhân khẩu chiếm 60,2% dân số trong toàn xã. Tỷ lệ hộ nghèo 52%, trong đó hộ nghèo Vân Kiều chiếm 82%.

Xã có diện tích tự nhiên 77.427,86 ha, trong đó chủ yếu là đất gồm đất rừng sản xuất là 32.647,07 ha và đất rừng phòng hộ 41.339,93 ha. Trong đó, đất lâm nghiệp do các tổ chức nhà nước quản lý: BQL rừng phòng hộ quản lý: 70.870,31 ha chiếm 96,4% (Lâm Trường Trường Sơn: 25.419 ha; Lâm trường Khe giữa: 4.816 ha; BQLRPH Long Đại: 33.132 ha; BQLRPH Ba Rền: 7.500 ha. UBND xã quản lý: 2.644 chiếm, 3,59%. Số diện tích còn lại giao cho hộ gia đình quản lý chỉ chiếm 1,3% và 1,6% do xã quản lý.

Những vấn đề nổi cộm về đất đai chủ yếu là chênh lệch về diện tích đất đang quản lí giữa người dân địa phương với các công ty lâm nghiệp của nhà nước. Phần lớn diện tích đất lâm nghiệp đều cho các công ty lâm nghiệm nhà nước quản lí và sử dụng. Các diện tích đất gần khu dân cư đều thuộc các công ty lâm nghiệp, người dân địa phương được giao ở diện tích xa khu dân cư không thể sản xuất và thiếu đất trầm trọng vì vậy tạo ra nhiều mâu thuẫn trong việc sử dụng và quản lí đất rừng tại địa phương.

Xã Trường Xuân

Trường Xuân là xã miền núi nằm ở phía Tây Nam của huyện Quảng Ninh cách trung tâm huyện khoảng 20 km, tổng diện tích đất tự nhiên 15.590,32 ha. Trong đó diện tích đất lâm nghiệp là 12.895,31 ha gồm đất rừng sản xuất là 4.094,35 ha và đất rừng phòng hộ là 8.800,96 ha, chiếm 78,46% do các ban quản lý rừng phòng hộ quản lý. Dân số có 613 hộ với 2.369 khẩu, trong đó đồng bào dân tộc Vân Kiều có 168 hộ chiếm 27,4% với 663 nhân khẩu chiếm 28%. Toàn xã có 11 thôn bản trong đó có 5 bản đồng bào dân tộc Vân Kiều, 6 thôn người Kinh.

Vấn đề nổi cộm về đất đai ở xã Trường Xuân xảy ra chủ yếu đối với các bản người dân tộc Vân Kiều, người dân tại các bản thiếu đất sản xuất trầm trọng, trong khi đó nhiều diện tích đất của địa phương không được quản lí chặt chẽ dẫn tới tình trạng người dân từ nơi khác đến lấn chiếm trái phép.

Huyện Bố Trạch:

Huyện Bố Trạch là một huyện nằm về phía Bắc tỉnh Quảng Bình, có diện tích đất tự nhiên 2.124,17 km2. Phía Nam và Tây Nam giáp thành phố Đồng Hới và huyện Quảng Ninh, phía Bắc giáp huyện Quảng Trạch, phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp huyện Minh Hóa, Tuyên Hóa và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào. Toàn huyện có 2 thị trấn và 28 xã, trong đó có 9 xã miền núi và 2 xã miền núi rẻo cao, với dân số toàn huyện là 177.321 người, 39.599 hộ. Thu nhập chính của người dân từ nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản.

Huyện Bố trạch chọn xã Phúc Trạch và Xuân Trạch thực hiện tham vấn, đây cũng là hai xã địa hình vừa có vùng núi và vùng đồng bằng. Vấn đề về đất đai đang được người dân và chính quyền địa phương rất quan tâm, mâu thuẫn giữa người dân và các công ty lâm nghiệp của nhà nước xảy ra liên quan tới quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương.

Xã Phúc Trạch

Xã Phúc Trạch là một xã thuộc huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Xã Phúc Trạch có diện tích đất tự nhiên 6.022 hecta, trong đó chủ yếu là đất lâm nghiệp 3.487,87 hecta, đất sản xuất nông nghiệp 738,40 hecta. Toàn xã có 11.380 nhân khẩu, 2.679 hộ phân bố trên 12 thôn, trong toàn xã có trên 95% là giáo dân.

Tỷ lệ hộ nghèo của xã là 63,9%. Đời sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, trong đó chủ yếu sản xuất hoa màu như cây ngô và cây lạc. Diện tích sản xuất lúa 2 vụ toàn xã chỉ có 60 hecta, nhưng sản lượng không cao vì không chủ động được nguồn nước tưới tiêu, riêng năm 2012, 2 vụ Đông Xuân và Hè Thu đều mất mùa do điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Đối với xã Phúc trạch thiếu đất sản xuất là vấn đề khá nghiêm trọng của người dân địa phương.

Xã Xuân Trạch

Xuân Trạch là một xã miền núi đặc biệt khó khăn, cách xa trung tâm huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình gần 70 km về phía Tây. Toàn xã có 10 thôn với: 1.428 hộ dân với 5.841 khẩu nhân khẩu, tỷ lệ giáo dân: 2.405 chiếm tỷ lệ 41,17%. Tổng diện tích tự nhiên toàn xã: 17.716,89 ha. Trong đó, diện tích rừng: 15.526,89; Lâm Trường Bố Trạch quản lý: 9.961,96ha; Vường Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng quản lý: 3.470,9 ha. Tương tự như xã Phúc Trạch, người dân xã Xuân Trạch cũng đang thiếu đất trầm trọng do đất rừng giao cho các lâm trường và có xảy ra các mâu thuẫn tại địa phương.

Huyện Tuyên Hóa:

Huyện Tuyên Hoá là một huyện miền núi phía Tây bắc Quảng Bình, phía Bắc gíáp huyện Hương Khê và huyện Kỳ Anh của tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp huyện Minh Hoá và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phía Nam giáp huyện Bố Trạch, phía Đông giáp huyện Quảng Trạch của tỉnh Quảng Bình. Với diện tích tự nhiên 1.149,41 km2, chiếm 1/7 diện tích tỉnh Quảng Bình, trong đó, đất nông nghiệp 5.082,21 km2 chiếm 4,42%; đất lâm nghiệp là 84.32,78 ha, chiếm 73,38%, đất chưa sử dụng và sông suối là 23.472,13 ha chiếm 20,44% còn lại là 580,17 ha đất ở và 1.478,72 ha đất chuyên dùng. Dân số toàn huyện là 78.560 người , phân bố trên 9 xã , 1 thị trấn , đa số là người dân tộc Kinh, ngoài ra có người Mã Liềng sống quy tụ trong 5 bản của 2 xã Thanh Hoá, Lâm Hoá gồm 113 hộ, 462 khẩu và 9 hộ.

Xã Tiến Hoá và xã Châu Hoá là hai xã chịu ảnh hưởng của việc quy hoạch xây dựng khu công nghiệp như xây dựng nhà máy xi măng, chế biến bột đá, xây dựng tỉnh lộ và quy hoạch khu đô thị.

Xã Tiến Hóa

Tiến Hóa là một xã thuộc huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, tổng chiều dài là 7km dọc theo sông Gianh và Quốc lộ 1A. Toàn xã có diện tích đất tự nhiên là 4.022,81 hecta, với dân số 8.081 người, 1.973 hộ. Tiến Hóa được UBND tỉnh Quảng Bình phê duyệt quy hoạch xây dựng khu đô thị từ năm 2004. Xã Tiến Hóa cũng là 1 trong 5 xã làm điểm về Chương trình Nông thôn mới. Hiện tại địa phương đang có nhiều dự án triển khai trên địa bàn.

Việc quy hoạch và xây dựng các nhà máy xi măng, khu khai thác đá gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới đời sống và sản xuất của người dân tại một số thôn trong xã.

Xã Châu Hóa

Châu Hóa là xã nằm ở phía Nam của huyện Tuyên Hóa, tổng diện tích đất tự nhiên là 1.800,12 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp gần 300 ha, chủ yếu đất ruộng và đất màu. Dân số là 5.910 người, tỷ lệ hộ nghèo 23 %. Toàn xã có 5 thôn,trong đó 4 thôn đặc canh về sản xuất nông nghiệp, 1 thôn còn lại chủ yếu buôn bán, kinh doanh. Điều kiện tự nhiên phức tạp, thường xuyên có bão lụt, gây sạt lở đất đai khiến diện tích sản xuất của người dân vốn đã ít lại càng bị thu hẹp.

Tại Châu Hoá việc quy hoạch xây dựng nhà máy bột đá gặp một số khó khăn trong quá trình đền bù và hiện tại có một số hộ không nhận đề bù nên việc giải toả không thực hiện được, dự án treo hơn 4 năm chưa hoạt động, nhiều diện tích sản xuất lúa bị bỏ hoang. Ngược lại đa số người dân tại xã Châu Hoá đều thiếu đất sản xuất vì vậy đã tạo ra bức xúc của người dân đối với việc quy hoạch đất xây dựng nhà máy.

1.5. Các đối tượng tham gia

Đợt tham vấn tại hiện trường đã thực hiện với tổng số có 603 người tham gia họp, trả lời phỏng vấn, trong đó có 166 nữ, chiếm 27,53%, 124 người dân tộc, chiếm 20,56%. Trong đó cán bộ cấp tỉnh gồm 12 người, cấp huyện 19 người, cấp xã 104 người và 524 người dân đến từ 30 thôn bản.

Thành phần tham vấn tại tỉnh huyện và xã bao gồm lãnh đạo, cán bộ phụ trách về lĩnh vực đất đai và các bên liên quan khác. Người dân tham gia tại các cuộc họp thôn bản bao gồm người dân sống tại thôn bản được tổ chức cuộc họp và đại diện người dân đến từ các thôn bản lân cận khác. Bình quân một cuộc họp dân có 30 người, tại mỗi điểm họp người dân đại diện đến từ 5 thôn bản tham gia. Người tham gia do trưởng thôn và ban mặt trận thôn chọn, là người dân chịu ảnh hưởng trực tiếp việc quy hoạch và sử dụng đất đại tại địa phương.

PHẦN II. KẾT QUẢ THAM VẤN

2.1. Quy hoạch sử dụng đất

Ý kiến của người dân và chính quyền xã

Người dân không được biết những thông tin cụ thể về việc lập quy hoạch và tiến trình quy hoạch. Điều này dẫn đến việc người dân hoang mang, không yên tâm sản xuất còn có thể dẫn đến việc phản ứng lại với chính quyền địa phương.

Ở nhiều địa phương, người dân thậm chí cả chính quyền địa phương không được tham gia vào quá trình lập quy hoạch và vì vậy dẫn đến nhiều dự án quy hoạch không phù hợp với nhu cầu thực tế, không đảm bảo được quyền lợi và lợi ích cho người dân và làm cho họ không đồng thuận với việc thực hiện quy hoạch.

Ngày 5/12/2005 Thủ tướng Chính phủ ban hành chỉ thị số 38/2005/CT-TTg về việc Rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất). Khi triển khai thực hiện chỉ thị này thì xã không được tham gia, chỉ được biết rằng ban tư vấn của tỉnh làm xong và có trình lên với địa phương. Nhưng lãnh đạo và cán bộ xã không được đi khảo sát thực địa nhất là các vùng quy hoạch rừng của Lâm Trường. Khi Lâm Trường thiết kế chương trình trồng rừng năm 2005, UBND xã đi khảo sát thì thấy thiết kế này không phù hợp. Các khu rừng đầu nguồn, rừng nguyên sinh có nhiều cây gỗ lâu năm, có những cây đã hàng trăm năm với đường kính lớn, hầu như đều được quy hoạch thành rừng sản xuất.

Việc người dân không được tham gia vào quá trình lập quy hoạch còn được thể hiện rõ nét qua câu chuyện của người dân bản Bến Đường xã Trường Sơn. Người dân bản đã sinh sống trên mảnh đất hiện nay từ năm 1964. Toàn bộ là người Vân Kiều, bà con phát nương làm rẫy quanh khu vực nhà ở. Khoảng năm 1998 – 1999, Lâm Trường đến thông báo cho bà con Lâm Trường đã được giao quản lý toàn bộ rừng trong khu vực này. Bà con và UBND xã không ai biết gì về quyết định này, chỉ được nghe cán bộ Lâm Trường nói rằng “đất của lâm trường, không được phép đốt làm nương rẫy gây cháy rừng. Không làm theo sẽ bị phạt”.

Công tác quy hoạch 3 loại rừng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất) còn nhiều bất cập. Hậu quả là rừng phòng hộ bị khai thác bừa bãi, ảnh hưởng nghiêm trọng đền việc bảo vệ nguồn tài nguyên đất và nước đầu nguồn của người dân và xảy ra hiện tượng xói lở nhiều diện tích đất sản xuất.

Tại xã Xuân Trạch, khi thực hiện việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng, nhiều hec-ta rừng phòng hộ đầu nguồn đã bị chuyển thành rừng sản xuất và được giao cho Lâm trường khai thác. Vào thời điểm năm 2006, Lâm Trường đã phát đi hơn 400 ha rừng, đến nay hơn 600 ha. Họ đã phát đi toàn bộ những cây gỗ quý như lim, sến, táu, huỵnh, v.v. trên diện tích đất trước đây đã giao cho các hộ di dân trồng theo chương trình 327 và thay vào đó toàn bộ là trồng keo. Bây giờ trên diện tích rừng phòng hộ đã được chuyển thành rừng sản xuất này, không còn những cây gỗ lớn và gỗ hiếm nữa mà nhiều năm sau trồng lại cũng chưa có được, cũng không còn những loài động vật quý hiếm. Số diện tích rừng bị phá vốn là rừng phòng hộ, bảo vệ tài nguyên đất và nước cho người dân các xã của huyện Bố Trạch. Sau khi rừng bị phá, tình trạng lũ lụt mỗi năm lại trở nên nghiêm trọng hơn. Đỉnh điểm là trận lũ lịch sử năm 2010 đã gây hậu quả nặng nề về người và của, ảnh hưởng đến 30 xã, thị trấn trong tỉnh. Ngoài ra còn làm mất nguồn nước cung cấp cho 40 ha lúa nước 2 vụ, gây xói lở 1,5ha/40 ha đất lúa và hơn 40/120 ha đất màu của 3 thôn Ngọn Rào (8,9,10).

Quy hoạch và giao đất cho người dân và lâm trường còn chưa công bằng. Điều này dẫn đến khiếu kiện vượt cấp và kéo dài của người dân.

Tại các xã Phúc Trạch, Xuân Trạch, Trường Sơn, nguồn thu của người dân chủ yếu từ rừng. Nhưng hiện nay, trên 95% diện tích rừng tại các xã này là do lâm trường quản lý.

Qua một thời gian dài người dân và chính quyền địa phương xã Trường Sơn đã kiến nghị lên các cấp nhằm vận động để chia đất rừng cho người dân ở các bản dân tộc vân kiều. UBND xã Trường Sơn đề nghị lên UBND tỉnh thu hồi diện tích 3.163 ha đất rừng các khu vực gần dân để của lâm trường quản lý để tạo điều kiện giao cho bà con dân tộc Vân Kiều quản lý bảo vệ và sản xuất trồng rừng kinh tế nâng cao đời sống cho địa phương. Được UBND tỉnh chấp thuận và ra QĐ số 2582 ngày 20/11/2012 của UBND Tỉnh thu hồi đất rừng của lâm trường trả về cho địa phương quản lý với diện tích thu hồi 2.112,69 ha đất rừng của lâm trường. Nhưng trong Quyết định cũng có nhiều bất cập, những vùng đất mà UBND xã đề nghị phải đạt được 4 yếu tố: Đất sản xuất phù hợp, gần đường giao thông, gần khu dân cư, thuận tiện cho bà con sản xuất; nhưng quyết định thu hồi thì có khoảng 15% diện tích là đúng (hơn 269,9 ha) theo đề nghị còn lại hơn 1.700 ha thuộc các tiểu khu khác không thuộc đề nghị giao và không thể giao vì đất đồi dốc, xa khu dân cư, không có đường giao thông.

Ông Hồ Đài, trưởng bản Khe Cát nhấn mạnh “Đảng và nhà nước quan tâm chú ý đời sống của người dân miền núi. Xã Trường Sơn không phải là thiếu đất, nhưng bà con lại thiếu đất, đất phần lớn là của lâm trường. Dân bản mong muốn được giao đất gần bản, gần đường đi lại để tiện chăm sóc, bảo vệ. Đây là vấn đề cần thiết nhất. Chỉ có giao đất cho dân, dân có đất, có rừng để sản xuất, bảo vệ và chăm sóc phát triển kinh tế thì mới phát triển được”

Việc thực hiện quy hoạch thiếu chính xác dẫn đến nhiều khó khăn cho việc ổn định cuộc sống của người dân.

Nhà máy Xi măng Sông Gianh đã xây dựng bắt đầu khởi công xây dựng từ năm 2001 trên địa bàn xã Tiến Hóa. Quy hoạch (theo quyết định 509/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ). Việc di dời giải tỏa đền bù được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: di dời những hộ dân nằm trong vùng xây dựng nhà máy (giai đoạn này được đền bù trước khi xây dựng nhà máy); Giai đoạn 2: Năm 2005 khi nhà máy xây dựng hoàn thành đi vào hoạt động sẽ tiếp tục di dời các hộ gia đình ở vùng đệm quanh nhà máy để đảm bảo khu vực an toàn khi nhà máy hoạt động. Dự kiến vùng an toàn này là có bán kính 1000m quanh nhà máy. Tuy nhiên, đến nay nhà máy đã hoạt động được hơn 10 năm nhưng giai đoạn 2 của quy hoạch vẫn chưa được thực hiện. Trong bán kính 1000m quanh nhà máy có trên 400 hộ gia đình với khoảng 2000 người thuộc 3 thôn của xã Tiến Hóa vẫn đang tiếp tục sinh sống trong khói bụi và ô nhiễm môi trường, nhà gần nhất chỉ cách nhà máy có 100m .

Hàng ngày hoạt động của nhà máy sinh ra rất nhiều khói bụi, ô nhiễm ảnh hưởng đến cuộc sống của bà con. Ông Lê Đức Kiên sống cách nhà máy 100m kể “Nhà tôi lúc nào bụi xi măng và đá vôi bay đầy nhà, hàng ngày khói bụi bám vào tủ bàn, nên nhà cửa phải đóng quanh năm. Những gia đình khác ở cách xa có khá hơn nhưng cũng trong tình trạng tương tự.” Chưa kể đến việc nhà máy nổ mìn khai thác đá quá liều lượng để tiết kiệm nên tiếng nổ mìn rất lớn, làm rung chuyển cả nhà gây các hiện tượng nứt, lún, có những nhà đang làm đổ trần về sau bị thấm và nứt. Người dân trong khu vực này sống không yên, lúc nào cũng lo lắng mà không biết kêu ai.

Còn nhiều dự án quy hoạch treo gây ảnh hưởng đến sự ổn định trong cuộc sống của người dân.

Năm 2004, UBND tỉnh Quảng Bình có quyết định phê duyệt quy hoạch xây dựng khu đô thị xã Tiến Hóa huyện Tuyên Hóa, và tiến hành thu hồi, đền bù cho 300 hộ dân. Đã 6 năm trôi qua, đất đai đã bị thu hồi nhưng chỉ mới làm được nền ủy ban xã, cổng bến xe liên xã. Về quy hoạch bến xe, đã tiến hành thu hồi và đền bù 9.000m2 đất màu, nhưng hiện nay mới chỉ làm được cổng bến và một ngôi nhà nhỏ dùng để bảo vệ đất. Thêm vào đó, thời gian thực hiện kéo dài quá lâu khiến nhiều diện tích đất của người dân đang để hoang, gây lãng phí đất đai, trong khi đó nhu cầu về đất của người dân rất lớn. Hơn nữa, khi có chương trình, dự án gì về xã cũng gặp vướng mắc, như theo chương trình Nông thôn mới về dồn điền đổi thửa hay dự án nước sạch cho người dân đều không thực hiện được do đất đang nằm trong khu đô thị “treo” của xã.

Năm 2009, UBND tỉnh Quảng Bình có quyết định về việc quy hoạch đất cho Tập đoàn Linh Thành xây dựng Nhà máy bột đá chất lượng cao tại thôn Lâm Lang, xã Châu Hóa, huyện Tuyên Hóa với diện tích là 11 hecta, trong đó 7 ha thu hồi từ diện tích đất sản xuất 2 vụ, 4 ha là diện tích đất sản xuất hoa màu của 11 hộ dân, và xây dựng trục đường số 2 đường vượt lũ vào khu vực Nhà máy. Hiện tại đã qua gần 4 năm nhưng nhà máy vẫn chưa được xây dựng. Số đất đai đã thu hồi của người dân hiện bỏ hoang, đất nứt nẻ vì không được canh tác, trong khi đó người dân vẫn còn thiếu đất sản xuất. Nhà máy chưa được xây dựng thì lời hứa đào tạo và tạo việc làm cho con em địa phương vẫn chưa được thực hiện, thanh niên địa phương nhiều người không có việc làm.

Đề xuất/ Khuyến nghị

Ø Cần công khai, dân chủ trong công tác quy hoạch. Cần phổ biến về quy hoạch và tiến độ quy hoạch rộng rãi để bà con biết.

Ø Quy hoạch không để kéo dài gây lãng phí đất và ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân.

Ø Cần quy đinh thời hạn thực hiện cho các dự án để tránh trường hợp các dự án kéo dài quá lâu, và đất đai đã bị thu hồi để lãng phí, và không sử dụng trong khi người dân thiếu đất.

Ø Đối với các dự án không thực hiện được hoặc thực hiện chậm tiến độ, cần phải có chế tài cưỡng chế vì gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của nhân dân.

Ø Tiến trình thực hiện và quy hoạch dự án cần đảm bảo:

§ Có quy hoạch tổng thể và lộ trình thực hiện rõ ràng từ đầu

§ Có sự tham gia của người dân ở vùng bị ảnh hưởng về quy hoạch và kế hoạch thực hiện của dự án

§ Có sự giám sát của người dân trong thực hiện dự án.

§ Có đánh giá tác động ảnh hưởng của dự án về những thiệt hại như môi trường, đất đai, nguồn nước.

Ø Quy hoạch cần đảm bảo tính khả thi, quan tâm hơn đến đảm bảo an sinh xã hội. Đảm bảo được tính hợp lý (nguồn nước, văn hoá cộng đồng, quỹ đất)

Ø Cần quy hoạch các khu rừng bảo vệ cộng đồng đầu nguồn nước để người dân quản lý, bảo vệ, quy hoạch đủ đất rừng cho người dân sống gần rừng trước khi giao cho các tổ chức, cá nhân ngoài cộng đồng

2.2. Chế độ sử dụng đất

Ý kiến của người dân và chính quyền xã

Dân thiếu đất sản xuất trong khi lâm trường có quá nhiều đất để quản lý . Điều này dẫn đến những phản ứng gay gắt của bà con, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân.

Năm 2002, theo chương trình 661 cán bộ lâm trường về bản Khe Cát và Bến Đường gặp bà con để động viên bà con trồng cây để xóa đói giảm nghèo; hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật cho bà con trồng rừng, quản lý và bảo vệ rừng. Bà con được thông báo rằng sau khi trồng cây thì bà con chăm sóc và được hưởng lợi khi thu hoạch. Bà con đồng ý, Lâm trường cho bà con cây giống và sau đó hỗ trợ cho bà con tiền để trồng cây. Có tất cả 17 hộ tham gia trồng rừng, đến nay cây lớn, bà con thu hoạch cây để bán. Khi vận chuyển cây ra thì bị lâm trường không cho bán lý do rừng trồng đó là thuộc quyền quản lý của của Lâm Trường. Tháng 7/ 2010 Lâm trường cho người lên khai thác keo của bà con, dân bản đã chặn lại không cho Lâm Trường khai thác. Từ đó xảy ra tranh chấp giữa người dân và Lâm Trường.

Hiện này có nhiều diện tích đất xung quanh bản đều thuộc quyền quản lý của Lâm Trường. Ông Hồ Văn Kiều ở bản Khe Cát nói “Người Vân Kiều từ lâu đã sống ở rừng, rừng nuôi người Vân Kiều. Nếu bây giờ không có rừng thì không phát triển kinh tế xúc trước việc mọi đường sinh kế bị chặn nên dẫn đến làm liều được. Rừng có đó mà rừng có cũng như không vì bà con không sản xuất được. Người dân quá bức xúc. Bà con kiên quyết chống đối, không cho Lâm trường vào những khu đất gần dân để trồng cây nữa. Lâm trường mà trồng nữa dân bản quyết không cho, tất cả bản sẽ đứng ra chống đối”.

 

Câu chuyện giao đất cho người dân bản Bến Đường

Dân bản Bến Đường đã sinh sống trên đất hiện nay từ năm 1964. Toàn bộ là người Vân Kiều, bà con phát nương làm rẫy quanh khu vực nhà ở.

Khoảng năm 1998 – 1999 (sau khi có quyết định quy hoạch tổng thể đường HCM), Lâm Trường đến thông báo cho bà con rằng Lâm Trường đã được giao quản lý toàn bộ rừng trong khu vực này. Bà con và UBND xã không ai biết gì về quyết định này, chỉ được nghe cán bộ Lâm Trường nói rằng “đất của lâm trường, không được phép đốt làm nương rẫy gây cháy rừng. Không làm theo sẽ bị phạt”. Tuy vậy, người dân vẫn tiếp tục làm rẫy ở khu vực đó vì cũng chẳng còn sinh kế nào khác.

Năm 2000, đường Hồ Chí Minh hoàn thành, đi qua khu vực dân bản sinh sống. Năm 2002, Lâm Trường cho phát hết diện tích hai bên đường HCM để trồng keo. Dân không còn đất làm nương rẫy, thiếu đói thường xuyên phải nhận gạo hỗ trợ. Trong khi đó, tổng diện tích đất do lâm trường quản lý chiếm tới 96% diện tích đất trên địa bàn xã.

Đến năm 2007, xã kiến nghị lên trên về việc cấp đất cho dân, trong đó đề nghị giao tổng cộng hơn 3100ha. Tháng 11/2011, tỉnh có quyết định thu hồi lại đất từ lâm trường để giao cho xã 2100 ha, nhưng trong đó chỉ có 311 ha là đúng loại đất và đúng trong diện tích mà xã đề nghị. Số diện tích còn lại xã không giao cho dân làm được vì ở quá xa, độ dốc lớn không thích hợp sản xuất, hoặc là đất nằm xen giữa các núi đá vôi người dân không thể sản xuất được.

Người Vân Kiều sống nhờ rừng, bây giờ rừng ở đó mà người dân không có đất sản xuất để sinh sống, trong khi lâm trường thì quá thừa đất. Lâm trường giao lại cho dân thì cũng như không giao, vì giao toàn những đất không sản xuất được, những nơi đất tốt, đất thuận tiện thì lâm trường giữ lại. Lâm trường không quan tâm tới việc đất giao dân có sử dụng được không.

“Người ta bảo Đất là vàng. Nhưng vàng là kim loại, có ăn được đâu. Có đất thì mới trồng được cây để có cái ăn. Dân không cần giúp gạo, mà cần nhà nước tạo điều kiện cho dân có đất, để tự làm ra cái ăn. Cây thì dân cũng trồng, lâm trường cũng trồng. Vì sao chỉ lâm trường được trồng cây mà dân không được trồng. Như thế là không công bằng. Cứ không có đường sống thế này thì chúng tôi lại phải làm liều, làm sai thôi.” (Chị Hồ Thị Con, bản Bến Đường)

 Về thời hạn giao đất, đa số người dân tham gia đóng góp ý kiến cho rằng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp 20 năm theo quy định là quá dài dẫn đến việc điều chỉnh đất đai cho con em hàng năm được sinh sau chu kỳ cấp đất không có đất. Những con em sinh ra từ năm 1996 hiện nay không có đất sản xuất nhưng cấp đất chỉ dành cho một số đối tượng như gia đình chính sách, người nghèo, thương binh, khuyết tật,...

Năm 1994 cấp đất nông nghiệp bình quân 800m2/khẩu, sau gần 20 năm giao đất, đến nay nếu chia bình quân đầu người còn chưa đầy 400m2/khẩu. Thực trạng về đất nông nghiệp diễn ra, người chết, người thoát ly làm việc nhà nước có lương, gia đình rời khỏi nơi cư trú. Nhưng đất thì không thu, còn số con em sinh sau thời điểm giao đất năm 1994 không có đất để sinh sống, buộc nhiều em phải rời khỏi gia đình đi làm ăn ở các thành phố lớn ở phía Nam họ cũng gặp rất nhiều khó khăn.

Tại điểm tham vấn thôn Thanh Sen là thôn có hơn 70% hộ nghèo có trên 95% giáo dân, Toàn thôn có 141 hộ (597 khẩu) có tổng diện tích đất màu sản xuất 42 ha; Đất lúa nước 1,3ha; Đất ở 3,7 ha; đất rừng: 6ha. Nếu tính bình quân. Hiện có hơn 40 khẩu chưa được cấp đất. Tính bình quân đất màu cho 1 khẩu có: 703m3 rơi vào một số hộ có rất nhiều đất, một số hộ thì không có đất; Tuy nhiên đất lúa nước và đất rừng chiếm tỉ lệ rất nhỏ và nằm ở 7 hộ khai hoang từ năm 1988. Vì vậy, cuộc sống của người dân ở đây phụ thuộc rất nhiều về cây lạc là cây chủ lực làm kinh tế của người dân Phúc Trạch.

Tại xã Châu Hoá hiện có khoảng 40 % người dân đang thiếu đất. Trong khi đó đối với con em của họ, sinh từ 1994 trở đi thì cũng không có đất. Một nghịch lý là có những người không còn sống hoặc đang sinh sống tại nơi khác thì họ vẫn sở hữu nhiều diện tích đất tại địa phương. Đó là trường hợp của những người đã chết từ năm 1994, và những người đã làm ăn xa, sinh sống tại các tỉnh khác

Giao đất nhưng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hậu quả là người dân bị lâm trường yêu cầu chuyển đi nơi khác sau nhiều năm công sức gây dựng cho mảnh đất của mình

 Năm 1993 UBND xã Xuân Trạch vận động và hướng dẫn người dân viết đơn đề nghị tham gia chương trình trồng rùng 327. Những hộ đi vào thời điểm này được các quyền lợi kèm theo được ghi rõ trong hợp đồng trồng rừng và được cấp thẻ di dân. Với tinh thần lấy hộ gia đình làm đơn vị sản xuất, lấy doanh nghiệp quốc doanh hoặc đơn vị kinh tế tập thể làm chỗ dựa, xây dựng kinh tế rừng đối với hộ gia đình, cá nhân. Người dân được UBND tỉnh và trực tiếp là Cục điều động Lao động tỉnh Quảng Bình cấp đất ở, đất sản xuất trồng rừng và đất khoanh nuôi bảo vệ rừng. Lâm Trường có nhiệm vụ hỗ trợ đỡ đầu và đầu tư giống, kỹ thuật canh tác, Nhà nước có các chính sách đầu tư kèm theo phù hợp với các vùng, các dự án.

Tại xã Xuân Trạch, năm 1993 có 16 hộ gia đình di dân theo chương trình vận động của Cục điều động lao động tỉnh và được cấp thẻ di dân. Năm 1994 có thêm 20 hộ nằm trong chương trình giãn dân, nên không cấp thẻ di dân và được tham gia nhận dự án 327, theo dự án di dân lên rừng định cư, phát triển sản xuất, họ được chia cho đất tùy theo năng lực và lao động của gia đình để trồng rừng sản xuất, khoanh nuôi bảo vệ rừng. Rừng trồng chủ yếu là các loài thông, keo, trám, quế; các cây sử dụng trồng dặm là huỵnh, lim, táu... Sau một thời gian tham gia, có 7 hộ không chịu được cực khổ nên đã bỏ về và còn lại 29 hộ tiếp tục ở lại cho đến hôm nay.

Năm 1998, kết thúc chương trình 327, tiếp đến chương trình 661 là chương trình tiếp nối chương trình 327. Đến năm 2006, kết thúc chương trình 661 Lâm Trường có thông báo rút dân về, không cho người dân ở lại trong đấy, cắt cây của người dân trồng và trả với giá rất thấp _ khai thác 1m3 bán ra người dân chỉ được hưởng 10% giá trị thực, tuy nhiên còn khó hiểu hơn là người dân không được kiểm soát khối lượng được bao nhiêu. Vì vậy, Lâm trường tính bao nhiêu thì biết bấy nhiêu. Điều không hợp lý là người dân đi theo chương trình điều động của tỉnh, nhưng Lâm Trường lại ra quyết định yêu cầu dân trả đất cho Lâm Trường và trở về nơi ở cũ (có nhiều hộ nơi ở cũ cũng không có đất, nhà). Các hộ di dân hoang mang với quyết định này, không rõ trở về địa phương cũ thì tiếp tục kế sinh nhai cho gia đình như thế nào, lấy đất ở đâu để sản xuất, cấp nào sẽ giải quyết cho mình? Chưa kể, công sức người dân khai hoang, trồng rừng, bồi bổ đất bấy lâu thì tính như thế nào?

Ngày 09/12/2010 UBND tỉnh ra quyết định số: 3545/CT_UB về việc cấp đất cho công ty lâm nghiệp Quảng Bình thuê đất rừng để sản xuất, trong đó bao gồm toàn bộ diện tích rừng của 29 hộ dân trồng rừng 327 đang quản lý. Trong quyết định này không đề cập đến 29 hộ dân đã định cư, trồng rừng và bảo vệ rừng từ 20 năm nay trên diện tích cấp cho Công ty.

Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không có quyền với tài sản làm ra trên mảnh đất đó

 

Câu chuyện về mảnh đất của gia đình bà Nguyễn Thị Thủy, thôn 7 xã Xuân Trạch huyện Bố Trạch

Năm 1996, gia đình bà Thủy được nhận đất trồng rừng theo chương trình 327 của Chính phủ, Ban đầu lên tham gia trồng rừng, gia đình được UBND huyện Bố Trạch ra quyết định giao 12,4 ha đất trồng rừng thông và keo. Năm 1997, tất cả mọi người trong gia đình bà (2 vợ chồng và 5 đứa con) toàn bộ đã chuyển lên ở trên lán trại để trồng rừng, phát triển vườn cây ăn quả, ao cá để làm kinh tế. Lâm trường Bố Trạch lúc đó được giao làm nhiệm vụ “bà đỡ” cho các hộ di dân trồng rừng, trong đó có gia đình bà. Qua một thời gian trồng và chăm sóc rừng tốt, gia đình bà được chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình (ông Phạm Phước) tặng Bằng khen là hộ gia đình đi đầu trong phong trào trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Năm 2001 được sự hỗ trợ của dự án về giao đất giao rừng, gia đình bà đã đề nghị và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Snapshot_20130128.JPGTuy nhiên, năm 2005 Khi cây keo đến thời kỳ khai thác, gia đình đã tôn trọng Lâm Trường nên vào xin ý kiến để được khai thác và hướng dẫn cách khai thác để đầu tư trở lại cho rừng và vườn. Nhưng lúc đó gia đình bà được trả lời rằng đó là tài sản của Lâm Trường, gia đình không được khai thác mà chỉ được hưởng 1/10 giá trị khai thác được, kể cả với các loại cây trồng khác trên diện tích đất lâm trường giao cho gia đình trồng như: Thông nhựa, cây ăn quả... Gia đình bà đã không đồng ý và đã liên tục phản ánh lên tỉnh, huyện, các sở ngành để được thực hiện quyền của mình trên mảnh đất mình đã được nhà nước chính thức cho quyền sử dụng.

“Đầu tiên, tôi kêu lên xã không giải quyết được, vì không thuộc thẩm quyền của xã, sau đó gia đình tôi lên huyện, tỉnh, Sở Nông nghiệp, Sở Tài nguyên, rồi đến Thanh tra Chính phủ… phải mất 3 năm sau gia đình tôi mới có đủ các quyền về mảnh đất được cấp sổ đỏ của mình và có thể khai thác cây keo DSC00116.JPGđể bán”

Tưởng mọi việc như vậy là đã yên ổn, gia đình bà có thể yên tâm sản xuất trên mảnh đất được giao. Thế nhưng mới đây, nhân chương trình cấp đổi bìa đỏ, gia đình bà tìm hiểu thì được biết việc cấp đổi bìa đỏ có thay đổi trạng thái rừng phòng hộ sang rừng sản xuất. Do các tiêu chí về đất, độ dốc đối với rừng của gia đình hiện tại không nằm trong tiêu chí rừng sản xuất, gia đình bà nghĩ rằng không cần đổi sổ vì không định chuyển đổi mục đích rừng. Kết quả là, khi gia đình bà định dùng “bìa đỏ” để thế chấp vay vốn sản xuất (một trong 5 quyền lợi của người có bìa đỏ), gia đình bà không được cán bộ địa chính xã ký xác nhận cho vay vốn. Gia đình bà Thủy đang rất hoang mang, không hiểu “bìa đỏ” nhà nước cấp cho mình thật sự có giá trị như nhà nước thông báo hay không, hay là có chỗ nào gia đình bà làm không đúng với ý của nhà nước mà chính gia đình cũng không được rõ.

Đất được giao cho người dân từ rất lâu nên đến nay xảy ra tình trạng có hộ thiếu đất sản xuất (do tăng thêm nhân khẩu mà không được chia thêm đất) trong khi nhiều người không có nhu cầu sử dụng vẫn đang “giữ” đất được giao mà không trả lại.

Cụ thể như gia đình ông Trương Minh Vời ở xã Châu Hóa huyện Tuyên Hóa có 7 khẩu (2 ông bà và 5 người con) đã được chia đất năm 1993 với diện tích được cấp là 8 thước/khẩu. Con trai út của ông bà đã có đất, đến năm 1996 anh lấy vợ, nay có 2 người con, hiện tại gia đình người con vẫn chưa có đất sản xuất, cả 4 người sản xuất trên diện tích đất 8 thước đất đã cấp cho người con trai. Trong khi đó các hộ gia đình khác thoát ly vẫn còn có đất mà không sử dụng đến.

Cũng tại xã Châu Hóa có gia đình ông Cao Lệ với 3 khẩu được cấp đất năm 1993 và từ đó tới giờ đã có thêm 4 người con. Các con hiện đang tuổi ăn tuổi lớn, hàng năm 2 ông bà phải lo tiền ăn, tiền học cho các con, tiền sinh hoạt phí hàng ngày cho 7 con người mà chỉ chờ vào 3 suất ruộng của cả gia đình 7 miệng ăn. Muốn hay không muốn, gia đình phải có thêm đất đất để sản xuất. Ở trong thôn có gia đình ông Nguyễn Thìn đã về sinh sống tại huyện Quảng trạch. Vì thế gia đình ông xin thuê lại đất để sản xuất với mức giá cao hơn nhiều lần so với nộp tiền thủy lợi phí (10 thước trả 45kg lúa/vụ trong khi đó theo giá thuê đất của HTX là 10kg/vụ). Ông Nguyễn Thìn là lái xe ủi hiện tại không sinh hoạt ở đây và đang cư trú tại huyện Quảng Trạch. Gia đình ông sinh sống tại thôn Uyên Phong trước năm 1994 (thời điểm chia đất nông nghiệp) đến năm 2001 Gia đình ông chuyển về Quảng Trạch. Vì vậy, đất đai của ông để lại cho những người có nhu cầu sử dụng thuê lại. Hiện tại gia đình ông Cao Lệ không chỉ thuê lại của gia đình ông Thìn mà còn thuê lại đất của nhiều gia đình khác nữa.

Đề xuất, khuyến nghị

Ø Cần hỗ trợ giao đất cho người dân tộc thiểu số. Trong đó có đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng bảo vệ nguồn nước, đất rừng thiêng.

Ø Rà soát, cân đối lại quỹ đất của các chủ rừng (các nông lâm trường, ban quản lý rừng phòng hộ) đất gần dân, dễ quản lý, bảo vệ và sử dụng để giao lại đất cho đồng bào.

Ø Thu hồi đất của người dân đã chết, người thoát ly làm việc nhà nước, người rời khỏi nơi cư trú…người không có nhu cầu sử dụng hoặc đi xa để chia lại cho những người không có đất.

2.3. Định giá

Ý kiến của người dân và chính quyền xã

Quy hoạch thay đổi nhưng giá đền bù không thay đổi dẫn tới những phản ứng gay gắt của người dân

Năm 2008, UBND tỉnh Quảng Bình có quyết định phê duyệt quy hoạch thiết kế xây dựng cầu Châu Hóa bắc qua Sông Gianh. Việc xây dựng cầu là cả một niềm mơ ước bao đời của người dân Châu Hóa, cho nên việc ủng hộ hiến đất làm cầu, đường được giải quyết nhanh chóng, người dân đồng lòng ủng hộ. Tuy nhiên, sau khi cầu hoàn thành, bản quy hoạch cũ trước đây của địa phương xét thấy không còn phù hợp. Trước đây, tại khu Cồn Cầu – Uyên Phong theo trục đường chính của xã có 16 lô đất quy hoạch của xã thuộc mặt tiền thuộc đất loại 1, bây giờ có đường lớn từ cầu chạy cắt ngang qua và đắp đất cao hơn nhiều so với đường xã, và khu đất có 16 lô đất được quy hoạch để cấp cho con em địa phương thành đường cụt. Nhưng giá đất vẫn sử dụng giá đất đường loại 1 để cấp bán.

Chính vì những bất cập đó và thấy không hợp lý, UBND xãChâu Hoá đã đề nghị lên UBND huyện Tuyên Hoá thay đổi quy hoạch chuyển đổi quy hoạch lại loại đường để áp giá và thuế đất phù hợp như thực tế, nhưng không được UBND huyện phê duyệt mà phải chờ hết thời hạn của quy hoạch (2015) mới có thể chuyển đổi lại. Điều này cho thấy bất cập trong việc điều chỉnh quy hoạch cứng nhắc của chính sách gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân và làm cho người dân có những bức xúc không đáng có.

Việc khiếu nại của người dân thường xuyên xảy ra ở địa phương, trong đó vấn đề khiếu nại liên quan tới đất đai chiếm đa số. Theo báo cáo của cơ quan tiếp dân tỉnh trong công tác tiếp nhận khiếu nại tại địa phương, có chiếm 50% trở lên khiếu nại liên quan tới đất đai, có năm lên tới 70%, năm 2012 giảm còn 48%. Nội dung liên quan đến vấn đề đất đai nhiều nhất là đền bù, giải phóng mặt bằng, trong đó có một số nguyên nhân liên quan tới định giá, việc thực hiện áp giá đền bù quá lâu nên giá đền bù trước thấp hơn đền bù sau, xảy ra trường hợp người chấp hành thì được giá thấp, người chây ỳ thì được giá cao hơn, làm bất bình cho người dân.

Đặc biệt xảy ra nhiều đơn thư khiếu nại xảy ra tại các vùng miền núi về tranh chấp đất rừng giữa người dân với các lâm trường hoặc với các công ty tư nhân như trường hợp tranh chấp giữa người dân ở xã Xuân Trạch với Lâm trường Bố Trạch, trường hợp tranh chấp người dân tộc bản Nà Lâm với công ty tư nhân Hồng Đức tại xã Trường Xuân… Hiện nay nhiều đơn thư khiếu nại chưa được giải quyết triệt để, còn chậm nên tình trạng khiếu nại tiếp tục còn xảy ra.

Đề xuất, khuyến nghị

Ø Có khung giá hợp lý theo từng vùng, từng địa phương.

Ø Khi có quy hoạch thay đổi cần có quyết định thay đổi giá kịp thời để đảm bảo phù hợp với thực tế.

Ø Người dân nên được tham gia vào quá trình định giá đất, đền bù, đấu giá trên cơ sở khung giá có nghiên cứu của địa phương.

Ø Cách tính giá cho các loại đất:

§ Đất ruộng (khi đền bù thì phải căn cứ vào thời gian còn lại được giao rồi nhân với khung giá đất hiện tại),

§ Đất màu, đất thổ cư phải tính giá ít nhất ngang giá thị trường để ổn định đời sống cho người dân khi di dời.

2.4. Thu hồi, bồi thường, tái định cư

Ý kiến của người dân và chính quyền xã

Sinh kế của người dân và cuộc sống của họ sau khi tái định cư chưa được tính đến khi lập quy hoạch. Cuộc sống của người dân vốn đã khó khăn nay càng khó khăn hơn

Xã Phúc Trạch nằm trong vùng quy hoạch khu bảo tồn Phong Nha- Kẻ Bàng. Người dân trước đây chủ yếu sống dựa vào rừng và khai thác đá. Nhưng từ khi quy hoạch khu bảo tồn Phong Nha- Kẻ Bàng, người dân không còn được hưởng lợi gì từ rừng, người dân không có việc làm, đất canh tác cũng không có, không được hưởng phụ phẩm từ rừng và khai thác đá làm nhà, chăn thả trâu. Việc chăn nuôi trâu bò cũng đang gặp rất nhiều khó khăn vì không có bãi chăn thả, các khu vực của vườn thì bị cấm. Kể cả việc cắt lá mui, về làm phân để trồng trọt cũng bị cấm. Đời sống của người dân cũng bị nhiều ảnh hưởng và khó khăn trong việc quy hoạch vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.

Theo anh Nguyễn Văn Duy, thôn Trường Nam, xã Trường Xuân, huyện Quảng Ninh thì kể “ Thực hiện chương trình tái định cư để xây dựng hồ Rào Đá. Đến nay đã chuyển về khu tái định cư nhưng cuộc sống của bà con chúng tôi còn gặp nhiều khó khăn. Bà con thiếu đất sản xuất và thiếu việc làm trầm trọng. Tôi là người tái định cư đến đây, Ở Rào Đá, gia đình tôi đã xây dựng một mô hình kinh tế rồi, có cao su gần lấy mủ để cho thu nhập đều đặn rồi. Nhưng khi qua đây lại phải xây dựng một mô hình kinh tế từ đầu ở khu tái định cư có nhiều khó khăn, không thể làm được vì đất đai ít, đất bạc màu nên bắt đầu lại từ đầu đâu có dễ. Khi thấy nhà nước tuyên truyền qua khu tái định cư sẽ sướng hơn chỗ ở cũ, gia đình cũng an tâm nhưng khi đưa vào đây nhưng người dân gặp khó khăn hơn” 

Phương án đền bù và hỗ trợ tái định cư chưa đủ để hỗ trợ người dân ổn định cuộc sống tại khu tái định cư

Đầu năm 1997, theo chủ trương rút dân từ xã biên về định cư, có 9 hộ và đến năm 2004 có 19 hộ về bản Khe Cát sinh sống gần đường giao thông và Trung tâm xã để có thể tiện trong việc tiếp cận các dịch vụ công cộng và phát triển kinh tế. Trước khi vận động về định cư ở các bản dọc đường sẽ có điện, đường, trường, trạm và đất đai cho người dân sản xuất và ổn định kinh tế. Tuy nhiên, việc hỗ trợ xây dựng điện, đường, nhà văn hóa cũng đã có, nhưng vấn đề đảm sinh kế lâu dài của người dân là đất đai thì không có. Đất ở UBND xã cấp cho 400m2/hộ, 60/77 hộ có đất màu để sản xuất (chủ yếu là các hộ định cư trước đây, bình quân mỗi khẩu chưa đầy nửa sào (250m2/người). 19 hộ mới ra định cư không có đất màu, các hộ định cư tại bản Khe Cát chưa có nước sạch và điện thắp sáng. 

Khu tái định cư còn sai lệch nhiều so với quy hoạch, không đảm bảo cuộc sống cho người dân

Năm 2005 Theo quy hoạch chung của huyện xây dựng hồ chứa nước Rào Đá tại xã Trường Xuân, trong khu vực xây dựng hồ Rào đá có hơn 54 hộ dân ảnh hưởng và phải di dời. Tháng 5/2005 UBND huyện cho quy hoạch khu tái định cư tại thôn Trường Nam và thông qua người dân lấy ý kiến đóng góp và thống nhất về quy hoạch khu tái định cư. Trong quy hoạch có nêu chi tiết về đất vườn, nhà ở, hội trường, nhà trẻ, điện, nước, và có đất sản xuất, đất trồng rừng. Tuy nhiên vào tháng 10 năm 2006 có 34 hộ dân dời về khu tái định cư theo kế hoạch thì thấy hiện trạng khu tái định cư sai lệch quá nhiều so với quy hoạch. Cam kết ban đầu là giao các loại đất khoảng 3000m2/hộ: đất nhà ở là 300m2, đất vườn là 700m2, đất màu 2000m2 thành thục[1]. Tuy nhiên thực tế mỗi hộ gia đình chỉ được giao loại đất sản xuất khai hoang qua loa không làm màu được đến nay đất vẫn để hoang, đất lúa thì không có, đất rừng cũng không.

Khu tái định cư có 34 hộ đăng kí thực tế chỉ 27 hộ 79 khẩu đến ở vì do điều kiện cuộc sống khó khăn, đất đại sản xuất ít, kém màu mở nên chuyển về quê cũ ở đồng bằng ở.. Tại khu tái định cư mới, người dân không có việc làm, huyện, xã hứa là sẽ giao 3-5 hecta để trồng rừng, nhưng 7 năm rồi không có đất để trồng rừng, bà con cứ phải chờ đợi và rất bức xúc về vấn đề này.

Thôn Trường Nam hiện nay rất khó khăn đất không có ruộng lúa nước, toàn thôn được 0,5 ha, đất xấu, ở xa cách khu tái định cư 3km nên khó chăm sóc và thường bị mất mùa, bà con bỏ ruộng và đi làm thuê nhưng công việc không ổn định.

Đề xuất, khuyến nghị

Ø Cần có chính sách quan tâm đến đời sống và sản xuất, tạo việc làm cho người dân sau khi thu hồi đất.

Ø Giá đất đền bù phải được cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến giá đất thu hồi, tái định cư cho người dân được biết, được bàn một cách cụ thể, rõ ràng. Thông tin phải dễ hiểu và được lặp lại nhiều lần.

Ø Người dân nằm trong vùng di dời giải tỏa phải được tham gia định giá đất đền bù. Thống nhất giá đất đền bù cụ thể, tránh chênh lệch quá lớn giữa các hộ trên một địa bàn.

Ø Nhà nước hoặc chủ đầu tư dự án phải tạo mọi điều kiện tốt nhất cho người dân sau khi di dời đến khu tái định cư. Nhằm hỗ trợ cho họ ổn định được cuộc sống ổn định trong thời gian ngắn nhằm hạn chế các trường hợp tái nghèo sau tái định cư như hiện nay./. 


[1] Đất thành thục: là đất đã được khai hoang phục hóa và có thể sản xuất ổn định.

 

 Nhóm báo cáo tham vấn

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống