Báo cáo kết quả thăm dò ý kiến về tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011)

09/10/2012
Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XII và sẽ kết thúc vào kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII (bắt đầu từ tháng 5 năm 2007 đến tháng 5 năm 2011). Đây là nhiệm kỳ Quốc hội được rút ngắn xuống một năm so với thường lệ, theo Nghị quyết số 05/2007/QH12 kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 04 tháng 8 năm 2007, và bầu cử Quốc hội khóa XIII như vậy sẽ dự kiến tiến hành vào khoảng tháng 5 năm 2011.

PHẦN I

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Đặt vấn đề

Nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XII và sẽ kết thúc vào kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII (bắt đầu từ tháng 5 năm 2007 đến tháng 5 năm 2011). Đây là nhiệm kỳ Quốc hội được rút ngắn xuống một năm so với thường lệ, theo Nghị quyết số 05/2007/QH12 kỳ họp thứ nhất thông qua ngày 04 tháng 8 năm 2007, và bầu cử Quốc hội khóa XIII như vậy sẽ dự kiến tiến hành vào khoảng tháng 5 năm 2011.

Cùng với những thành tựu phát triển về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại mà đất nước đạt được trong những năm gần đây. Tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII tiếp tục được đổi mới và thu được những kết quả quan trọng: (i) Hoạt động lập pháp có nhiều tiến bộ cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nữa yêu cầu của công cuộc phát triển đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập kinh tế quốc tế; (ii) Hoạt động giám sát cũng tiếp tục được đẩy mạnh, có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng, hiệu quả và hiệu lực ngày càng được nâng lên. Quyền giám sát tối cao của Quốc hội tại kỳ họp được tăng cường, cùng với đó, việc giám sát qua hình thức chất vấn trực tiếp tại phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng lần đầu tiên được tổ chức thực hiện, truyền hình và phát thanh trực tiếp đến đồng bào cử tri cả nước theo dõi; (iii) Hoạt động quyết định vấn đề quan trọng của đất nước về cơ bản thực hiện tốt và đạt được những kết quả nhất định, tạo cơ sở cho việc quản lý, điều hành kinh tế xã hội; giữ vững ổn định chính trị, tăng cường hội nhập quốc tế.

Về phía nhân dân, qua các phương tiện thông tin đại chúng cũng đã cho thấy, cử tri cả nước đã và đang ngày càng quan tâm theo dõi đến các hoạt động của Quốc hội, có thể nhận thấy niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước đã ngày càng được củng cố, nhiều cơ quan thông tấn báo chí và ý kiến của người dân đã thể hiện sự đồng tình ủng hộ và đánh giá cao kết quả các hoạt động của Quốc hội, thể hiện qua nhiều bài viết xung quanh các kỳ họp: “Quốc hội ngày càng thực quyền...”; “Vai trò giám sát của Quốc hội ngày càng nâng cao” ...

Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được là chủ yếu, tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII cũng còn những hạn chế nhất định. Trong đó, có một số nội dung đáng chú ý:

Về hoạt động lập pháp, vẫn còn tình trạng luật, pháp lệnh đáng nhẽ phải quy định cụ thể được thì lại quy định có tính nguyên tắc, phải có thêm văn bản hướng dẫn mới thực hiện được. Trong khi đó, văn bản hướng dẫn thi hành vẫn còn ban hành chậm, chưa đồng bộ, cá biệt còn chồng chéo; chương trình xây dựng luật còn chưa mang tính ổn định cao…;

Hiệu quả và hiệu lực của hoạt động giám sát chưa đáp ứng tốt với nhu cầu, đòi hỏi của cuộc sống, quy định của Hiến pháp, pháp luật và nguyện vọng của nhân dân. Giám sát quản lý, sử dụng ngân sách công tác cải cách hành chính chưa được tập trung cao. Quy định về bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn sau gần 2 nhiệm kỳ kể từ lần sửa đổi bổ sung Hiến pháp năm 1992 và sửa luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 đến nay vẫn chưa được thực thi trên thực tế hoạt động của Quốc hội; Hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội và đoàn ĐBQH còn nhiều khó khăn;

Hoạt động quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước tuy đã đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của đất nước và của nhân dân, nhưng việc thực hiện nhiệm vụ này vẫn chưa khắc phục được một số hạn chế như: chất lượng một số quyết định chưa cao, hiệu lực thực thi thấp. Tính dự báo trong một số quyết định còn bất cập.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, để có thông tin khách quan làm cơ sở cho việc tham khảo, nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII và phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XIII, Viện Nghiên cứu lập pháp tiến hành cuộc điều tra xã hội học về tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII. Đây là bước khởi động quan trọng cho việc xem xét những vấn đề cần tiếp tục triển khai nghiên cứu trong khuôn khổ các hoạt động nghiên cứu nhằm đề xuất, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Đây cũng là hoạt động nghiên cứu trực quan sinh động, trực tiếp thông qua việc thăm dò ý kiến các nội dung khảo sát, điều tra, từ đó cung cấp thông tin tham khảo đến các vị đại biểu Quốc hội khóa XII cũng như các vị đại biểu Quốc hội khóa XIII sắp tới về những vấn đề thực tiễn được rút ra từ những đánh giá, nhận định các đối tượng đa dạng trong  cuộc điều tra.

2.Mục đích và nội dung điều tra

Với vấn đề đặt ra như trên, trong khuôn khổ hoạt động nghiên cứu khoa học năm 2010 do Viện nghiên cứu lập pháp triển khai, hoạt động “Điều tra xã hội học về tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ 2007-2011” nhằm tìm kiếm thông tin hỗ trợ cho việc triển khai các hoạt động nghiên cứu, cũng như làm rõ thêm các căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp kiến nghị về hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội cũng như những vấn đề về quy trình, thủ tục hoạt động của Quốc hội trong thời gian tới.

Qua những nhận định và nghiên cứu bước đầu, Viện Nghiên cứu lập pháp định hướng triển khai các nội dung tập trung vào một số vấn đề lớn, từ đó tập trung khảo sát 2 vấn đề chủ yếu:

(i)Khảo sát thực tiễn tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII – Nhiệm kỳ Quốc hội có tính thời sự và đang vào thời kỳ cuối của nhiệm kỳ, với những bước chuyển biến quan trọng trong tổ chức và hoạt động. Những thông tin khảo sát chủ yếu được tiến hành hướng đến các vấn đề cụ thể trong 3 nội dung chính trong hoạt động của Quốc hội là lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Bên cạnh đó, cuộc khảo sát cũng đề cập tới công tác tiếp xúc cử tri trong thời gian vừa qua… Trên cơ sở những thông tin thu nhận được qua khảo sát, xem xét thực trạng, kết hợp với các thông tin nghiên cứu khác để xây dựng các đề xuất kiến nghị.

(ii)Tìm kiếm các giải pháp, đề xuất từ phía đa số đối tượng khảo sát; đồng thời xem xét các kiến nghị đề xuất có tính thuyết phục hoặc cơ sở lý luận cao để nghiên cứu khả năng, kết hợp việc chủ động rà soát của Nhóm nghiên cứu, trước khi chính thức quyết định các giải pháp, đề xuất, kiến nghị tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Trong phần này, những vấn đề khảo sát được chia nhỏ theo các nội dung cụ thể, xung quanh các quy định pháp luật hiện hành về công tác tổ chức và hoạt động của Quốc hội, mà Nhóm nghiên cứu nhận thấy cần tiến hành khảo sát đánh giá thêm.

3.Đối tượng và phạm vi điều tra

Để kết quả điều tra thu được phản ánh thực tiễn khách quan và trung thực, Viện nghiên cứu lập pháp tiến hành khảo sát, điều tra xã hội học đối với 1000 đối tượng được hỏi, chia thành 4 nhóm chính:

(i)Công dân Việt Nam trong độ tuổi bầu cử và đã từng tham gia bầu cử, bao gồm các đối tượng người dân đa dạng, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tông giáo, tín ngưỡng, nghề nghiệp,… Đây chính là nhóm cử tri trực tiếp đi bầu cử, nên cũng là những người có tiềm năng và sự quan tâm đến cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất trong các hoạt động;

(ii)Đại biểu Quốc hội; đại biểu Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

(iii)Những người làm công tác thực tiễn trong các bộ, ban, ngành có quan hệ mật thiết đối với công tác tổ chức và hoạt động của Quốc hội;

(iv)Các chuyên gia, nhà nghiên cứu, giảng dạy ở các Viện nghiên cứu và trường đại học trong nước có kinh nghiệm liên quan đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của lĩnh vực tổ chức nhà nước, đặc biệt là chuyên sâu về lĩnh vực tổ chức và hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước.

Bốn nhóm đối tượng được Nhóm nghiên cứu khảo sát theo phân vùng về đặc điểm kinh tế - xã hội và có tính đến yếu tố địa lý theo các vùng miền trên đất nước. Trong điều kiện nguồn lực và nhân lực phù hợp, khuôn khổ của cuộc điều tra lần này tập trung chủ yếu ở trên địa bàn Hà Nội. Nhóm nghiên cứu cũng chú trọng việc tiến hành khảo sát đối với nhóm đối tượng là các cán bộ, công chức, những người làm công tác thực tiễn ở các cơ quan trung ương (Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các bộ, ban, ngành, gọi chung là nhóm đối tượng ở các cơ quan trung ương).

Kết quả là, với tổng cộng 1000 phiếu điều tra được phát ra, Nhóm nghiên cứu thu về 955 phiếu hợp lệ.

4.Phương pháp điều tra

Điều tra được tiến hành theo phương pháp Bảng hỏi, kết hợp phương pháp makét dựng sẵn các phương án được dự liệu bởi Nhóm nghiên cứu, và khả năng mở để các đối tượng điều tra bày tỏ chính kiến cũng như có thể đề xuất kiến nghị về các vấn đề có liên quan đến các nội dung khảo sát cũng như các vấn đề mở đối với khuôn khổ thực trạng và pháp luật hiện hành về tổ chức và hoạt động của Quốc hội ở nước ta.

PHẦN II

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA

1.Về đối tượng điều tra

Với 4 nhóm đối tượng điều tra, thông tin cá nhân đối tượng được hỏi đã được Nhóm nghiên cứu xây dựng, khảo sát theo 2 nội dung trong Bảng hỏi: Đặc điểm bản thân người được hỏi; và trình độ học vấn/mức độ am hiểu về tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

Về đặc điểm người được hỏi

Nhóm nghiên cứu báo cáo nêu câu hỏi và liệt kê phương án trả lời đối với 8 nhóm thông tin bao gồm:

Ba khung về độ tuổi (dưới 30 tuổi; từ 30 đến 60 tuổi; và trên 60 tuổi);

Tham gia cơ quan dân cử (Đại biểu Quốc hội, Đại biểu HĐND).

Đảng viên.

Dân tộc thiểu số.

Tôn giáo.

Trình độ (Từ đại học trở lên, Giáo viên, Học sinh, sinh viên).

Nghề nghiệp (Nông dân, Công nhân, Doanh nhân, Làm nghề tự do) và

Khu vực công tác (Lực lượng vũ trang, Làm trong khu vực Nhà nước, Làm trong khu vực tư nhân).

Với kết quả thu được, xếp theo thứ tự tỷ lệ phần trăm từ cao nhất cho thấy, đối tượng người được hỏi có 55,8% có độ tuổi từ 30 đến 60; 38,5% trình độ từ đại học trở lên; 27,0% là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; 25,4% dưới 30 tuổi (chỉ có 14,3% người được hỏi có độ tuổi trên 60 tuổi); 23,6% làm trong khu vực Nhà nước.

Trong các nhóm đối tượng được hỏi chỉ có 3,7% là người dân tộc thiểu số, đây là nhóm người được khảo sát ít nhất trong các đối tượng điều tra

Biểu đồ 1: Thành phần đối tượng được điều tra

Như vậy, với tỷ lệ này, nhìn chung đối tượng được hỏi là những người có am hiểu (trên 38,5% có trình độ từ đại học trở lên); và cơ bản là hoạt động trong các cơ quan nhà nước, và ở độ tuổi trẻ.

2.Về đánh giá nhận xét như đối với một số hoạt động quan trọng của Quốc hội khoá XII trong thời gian qua

Trong phần này, thông tin được thăm dò xoay quanh 3 nội dung chính trong hoạt động của Quốc hội gồm lập pháp, giám sát tối cao và quyết định vấn đề quan trọng của đất nước. Trên cơ sở 3 nội dung chính này, những khía cạnh cụ thể được dự liệu trong bảng hỏi để khảo sát đều nhằm vào các vấn đề trực tiếp liên quan đến hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII thời gian vừa qua.

Về hoạt động lập pháp, ban hành số lượng lớn văn bản luật, pháp lệnh đáp ứng nhu cầu cuộc sống là hết sức quan trọng, mặt khác cũng cần đảm bảo tính khả thi trong nội dung các quy định, mặt khác vấn đề quy trình xây dựng luật, pháp lệnh cũng phải đảm bảo khoa học, và mở rộng dân chủ hơn nữa trong hoạt động lập pháp.

Câu hỏi 2.1: Ông/Bà có nhận xét thế nào về số lượng các luật, nghị quyết, pháp lệnh được ban hành của Quốc hội khoá XII trong thời gian qua?

Biểu đồ 2: Đánh giá về số lượng các luật, nghị quyết, pháp lệnh được ban hành

Xem xét Biểu đồ 2 cho thấy đa số người được hỏi nhận xét tốt về số lượng các luật, nghị quyết, pháp lệnh được ban hành. Tuy nhiên, về con số tuyệt đối, 48% tỷ lệ người hỏi khẳng định “Tốt” và có tới 36% tỷ lệ người hỏi chọn phương án “Bình thường”, cho thấy kết quả về số lượng của hoạt động lập pháp tuy có những khả quan nhưng về cơ bản chưa được đánh giá cao, chưa có thái độ chung đối với kết quả này từ nhiều người được hỏi. Vấn đề này dù đã được nhắc đến nhiều lần và đặc biệt là kể từ Quốc hội khóa XI trở lại đây mặc dù đã có nhiều đổi mới quan trọng trong đó có hoạt động lập pháp nhưng vẫn cần tiếp tục nghiên cứu đổi mới trong, đánh giá trong thời gian tới đây.

Câu hỏi 2.2: Ông/Bà có nhận xét thế nào về tính khả thi của các luật, nghị quyết, pháp lệnh được ban hành bởi Quốc hội khoá XII trong thời gian qua?

Biểu đồ 3: Đánh giá về tính khả thi của các luật, nghị quyết, pháp lệnh được ban hành

Câu hỏi 2.3: Ông/Bà có nhận xét thế nào về tính hợp lý của quy trình xây dựng luật, pháp lệnh được ban hành bởi Quốc hội khoá XII trong thời gian qua?

Biểu đồ 4: Đánh giá về tính hợp lý của quy trình xây dựng luật, pháp lệnh

Câu hỏi 2.4: Ông/Bà có nhận xét thế nào về việc xin ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp  đóng góp vào các dự án luật, pháp lệnh trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII thời gian qua?

Biểu đồ 5: Đánh giá về việc xin ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp  đóng góp vào các dự án luật, pháp lệnh

Biểu đồ 6: Biểu đồ tổng quan chung đánh giá về hoạt động lập pháp nói chung

Câu hỏi 2.5: Ông/Bà có nhận xét thế nào về hoạt động chất vấn các thành viên Chính phủ trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII thời gian qua?         

Biểu đồ 7: Đánh giá về hoạt động chất vấn các thành viên Chính phủ

Câu hỏi 2.6: Ông/Bà có nhận xét thế nào về hoạt động chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII thời gian qua?

Biểu đồ 8: Đánh giá về hoạt động chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Câu hỏi 2.7: Ông/Bà có nhận xét thế nào về hoạt động chất vấn Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII thời gian qua?

Biểu đồ 9: Đánh giá về hoạt động chất vấn Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Câu hỏi 2.8: Ông/Bà có nhận xét thế nào về hoạt động Quốc hội trực tiếp giám sát tại kỳ họp về các chuyên đề cụ thể trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII thời gian qua?

Biểu đồ 10: Đánh giá về hoạt động Quốc hội trực tiếp giám sát tại kỳ họp về các chuyên đề cụ thể

Câu hỏi 2.9: Ông/Bà có nhận xét thế nào về hoạt động Sự phối hợp của các cơ quan hữu quan trong hoạt động giám sát của Quốc hội trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII thời gian qua?

Biểu đồ 11: Đánh giá về sự phối hợp của các cơ quan hữu quan trong hoạt động giám sát của Quốc hội

Câu hỏi 2.10: Ông/Bà có nhận xét thế nào về hoạt động giám sát của các Đoàn đại biểu Quốc hội và các vị đại biểu Quốc hội ở địa phương trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII thời gian qua?       

Biểu đồ 12: Đánh giá về hoạt động giám sát của các Đoàn đại biểu Quốc hội và các vị đại biểu Quốc hội ở địa phương

Câu hỏi 2.11: Ông/Bà có nhận xét thế nào về việc tổ chức các đoàn giám sát của các cơ quan của Quốc hội xuống các địa phương trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII thời gian qua?

Biểu đồ 13: Đánh giá về việc tổ chức các đoàn giám sát của các cơ quan của Quốc hội xuống các địa phương

Biểu đồ 14: Biểu đồ trung bình đánh giá tổng quan về hoạt động giám sát của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội

Câu hỏi 2.12: Ông/Bà có nhận xét thế nào về hoạt động quyết định về chính sách tài chính, tiền tệ của Quốc hội trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII thời gian qua?           

Biểu đồ 15: Đánh giá về hoạt động quyết định về chính sách tài chính, tiền tệ của Quốc hội

Câu hỏi 2.13: Ông/Bà có nhận xét thế nào về hoạt động Quyết định về các chương trình, dự án quan trọng quốc gia trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII thời gian qua?       

Biểu đồ 16: Đánh giá về hoạt động quyết định các chương trình, dự án quan trọng quốc gia

Câu hỏi 2.14: Ông/Bà có nhận xét thế nào về hoạt động quyết định về tổ chức và nhân sự bộ máy nhà nước trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII thời gian qua?           

Biểu đồ 17: Đánh giá về hoạt động quyết định về tổ chức và nhân sự bộ máy nhà nước

Biểu đồ 18: Biểu đồ trung bình đánh giá tổng quan về hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

3.Về cách thức tổ chức hoạt động của Quốc hội khoá XII

Trải qua khoảng thời gian 3 năm của nhiệm kỳ, Quốc hội khóa XII có thể nói là đã để lại nhiều dấu ấn quan trọng trong cử tri và đồng bào cả nước về cách thức tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Vấn đề này cũng được báo giới dành sự quan tâm bày tỏ thiện cảm về những kết quả đạt được của Quốc hội với những lần ghi dấu ấn “đầu tiên”  như:

(i) Khóa XII là khóa Quốc hội mà đầu tiên Quốc hội đã tổ chức thảo luận theo nhóm vấn đề để tăng tranh luận, tăng đối thoại, tranh luận sâu, đối thoại đến cùng làm sáng tỏ những nhóm vấn đề lớn, những vấn đề nổi cộm của đất nước;

(ii) Lần đầu tiên Quốc hội tiến hành chất vấn theo nhóm vấn đề và ra nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn để giải quyết rốt ráo vấn đề hậu chất vấn, bước đầu tạo hành lang pháp lý nâng cao hiệu quả hiệu lực hoạt động giám sát của Quốc hội;

(iii) Lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ đứng trả lời chất vấn, đối thoại gần 4 tiếng đồng hồ tại diễn đàn Quốc hội, tạo bước đột phá cho phong cách làm việc mới làm cho hoạt động chất vấn trở lên hiệu quả hơn....

(iv) Lần đầu tiên tiến hành chất vấn tại Phiên họp của UBTVQH để hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước tối cao giải quyết kịp thời những tình huống phát sinh về kinh tế - xã hội giữa hai kỳ họp Quốc hội. Điều đáng chú ý và đặc biệt hơn nữa, các phiên chất vấn này được truyền hình và phát thanh trực tiếp đến cử tri cả nước quan tâm theo dõi và giám sát.

(v) Lần đầu tiên UBTVQH có báo cáo tự giám sát mình tại diễn đàn Quốc hội, có báo cáo giám sát về việc giải quyết các ý kiến kiến nghị của cử tri đối với các cơ quan chức năng.

Đồng thời, cũng như các nhiệm kỳ Quốc hội khóa trước, có thể nói Quốc hội khóa XII từ đầu nhiệm kỳ đến nay cũng vẫn còn những mặt còn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, như đã nêu ở phần đặt vấn đề.

Xuất phát từ những vấn đề đặt ra như trên, Nhóm nghiên cứu đã đưa vấn đề này thành nội dung để khảo sát các đối tượng điều tra.

Câu hỏi 3.1: Ông/Bà có nhận xét như thế nào về Việc thực hiện thủ tục rút gọn trong quy trình lập pháp      

Biểu đồ 19: Đánh giá việc thực hiện thủ tục rút gọn trong quy trình lập pháp

Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật trước đây theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 được sửa đổi, bổ sung năm 2002 và hiện nay được thực hiện theo Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 đã trực tiếp góp phần xác lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động lập pháp, lập quy, đưa công tác xây dựng luật của Quốc hội đi vào nền nếp.

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 lần đầu tiên quy định trình tự, thủ tục rút gọn được thực hiện trong trường hợp khẩn cấp hoặc cần sửa đổi bổ sung cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành. Trong trường hợp này, việc xây dựng, ban hành ngay luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội theo trình tự, thủ tục rút gọn.

Như vậy với câu hỏi Ông/Bà có nhận xét như thế nào về Việc thực hiện thủ tục rút gọn trong quy trình lập pháp, kết quả 44% người trả lời, chiếm đa số đánh giá là “hợp lý” cho thấy việc quy định thủ tục rút gọn trong quy trình lập pháp là cần thiết.

Câu hỏi 3.2: Ông/Bà có nhận xét như thế nào về việc thực hiện quy trình một luật sửa nhiều luật   

Biểu đồ 20: Đánh giá việc thực hiện quy trình một luật sửa nhiều luật

Quy trình một luật sửa nhiều luật trên thực tế đã được áp dụng từ nhiệm kỳ khóa XI, đến nay tiếp tục được áp dụng và phát huy những thành quả tiếp theo. Có thể thấy về bản chất một luật sửa nhiều luật là một kỹ thuật cũng không khác so với trường hợp ban hành văn bản theo trình tự, thủ tục rút gọn. Có nghĩa rằng, để đáp úng nhu cầu của cuộc sống, kịp thời ban hành các văn bản nhằm tiết kiệm thời gian, thủ tục mà vẫn đảm bảo chất lượng của dự án luật, thì thay vì sửa nhiều văn bản nhiều lần thì sẽ được sửa đổi, bổ sung vào trong một văn bản, ở một lần sửa đổi, bổ sung. Trên thực tế kỹ thuật này lần đầu tiên được áp dụng với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng và Thuế tiêu thụ đặc biệt, trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI.

Tuy nhiên với câu hỏi Ông/Bà có nhận xét như thế nào về việc thực hiện quy trình một luật sửa nhiều luật, và với kết quả chỉ có 29% số người cho là “hợp lý”, trong khi đó, đa phần chọn “tương đối hợp lý” với tỷ lệ 44% số người được hỏi cho thấy về mặt kỹ thuật lập pháp, việc một luật sửa nhiều luật không chỉ đơn thuần là tiết kiệm về thời gian mà nó có ý nghĩa và yêu cầu học thuật cao về kỹ thuật lập pháp, mặt khác cũng cho thấy đây là một hoạt động dù không mới, nhưng còn được thừa nhận khá “dè dặt” trong đối tượng người dân Việt Nam nói chung. Nếu như đa số người hỏi thừa nhận, ủng hộ mạnh mẽ “quy trình thủ tục rút gọn” thì với việc áp dụng kỹ thuật một luật sửa nhiều luật vẫn còn sự e dè nhất định đối với những người được hỏi.

Câu hỏi 3.3: Ông/Bà có nhận xét như thế nào về việc quy định số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách có ít nhất là 25% tổng số đại biểu Quốc hội     

Biểu đồ 21: Đánh giá việc quy định số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách có ít nhất là 25% tổng số đại biểu Quốc hội

Câu hỏi 3.4: Ông/Bà có nhận xét như thế nào về cải tiến hình thức chất vấn theo hướng đối thoại trực tiếp trên Hội trường, công khai trực tiếp trên truyền hình    

Biểu đồ 22: Đánh giá việc cải tiến hình thức chất vấn theo hướng đối thoại trực tiếp trên Hội trường, công khai trực tiếp trên truyền hình

Câu hỏi 3.5: Ông/Bà có nhận xét như thế nào về việc thực hiện chất vấn tại Ủy ban thường vụ Quốc hội    

Biểu đồ 23: Đánh giá việc thực hiện chất vấn tại Ủy ban thường vụ Quốc hội

Biểu đồ 24: Tổng hợp đánh giá cách thức tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII

Kết quả điều tra cho thấy, nhìn chung về phía người được hỏi đánh giá cao những đổi mới cải tiến trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII. Nếu so sánh giữa hai con số tuyệt đối là “Hợp lý” = 41,8% và “Tương đối hợp lý” = 37,8% cho thấy rõ chính kiến của người được hỏi khẳng định khá mạnh mức độ hiệu quả trong tổ chức hoạt động của Quốc hội thời gian vừa qua. Tuy vậy với số lượng không phải là nhỏ, tới 7,1% những người được hỏi cho rằng “Khó trả lời”, cũng là điều rất đáng lưu ý khi xem xét các vấn đề đánh giá về mức độ hiệu quả tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Nói cách khác, các tiêu chí để đánh giá mức độ thế nào là hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội là những vấn đề không chỉ mang tính lý luận cao mà cũng rất có ý nghĩa thực tiễn. Trên thực tế, tiêu chí đánh giá một kỳ họp tốt, một phiên họp tốt, một đại biểu hoạt động hiệu quả,… một Quốc hội hiệu năng và liệu lực thì rất cần thiết phải có nhận thức đúng về bản chất vấn đề cũng như những cần có sự hoàn thiện thêm về các công cụ lý luận khoa học khách quan để giúp cho việc đánh giá hiệu quả tổ chức và hoạt động nói chung của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

4.Về đánh giá hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn ĐBQH khoá XII ở các địa phương

Theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội và các văn bản pháp luật hiện hành, Đoàn đại biểu Quốc hội không phải là một cơ quan của Quốc hội, tuy nhiên, vị trí, vao trò của Đoàn đại biểu Quốc hội là rất quan trọng góp phần hỗ trợ đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Quốc hội hoạt động. Trên thực tế, đối với các đại biểu Quốc hội ở địa phương, đặc biệt là đối với các đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm, về cơ bản, nếu đại biểu không tham gia hoạt động tại các cơ quan của Quốc hội thì các hoạt động động đại diện của các đại biểu này chủ yếu được tiến hành trong khuôn khổ các hoạt động của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội dưới sự chủ trì của Đoàn đại biểu Quốc hội địa phương.

Từ đó, Nhóm nghiên cứu quyết định dự liệu và đưa ra vấn đề hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội gắn liền với Đoàn đại biểu Quốc hội để nêu thành phần để đưa vào Bảng hỏi khảo sát. Với câu hỏi “Ông/Bà đánh giá như thế nào về hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn ĐBQH khoá XII trong thời gian qua tại địa phương?”, Nhóm nghiên cứu đã dự liệu thành 5 câu hỏi nhỏ liên quan tới 3 khía cạnh “khó” trong hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn ĐBQH: tiếp xúc cử tri, giải quyết khiếu nại, tố cáo và hoạt động tham gia vào dự án luật, pháp lệnh tại đoàn ĐBQH địa phương.

Câu hỏi 4.1: Ông/Bà có nhận xét như thế nào về hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn ĐBQH khoá XII trong thời gian qua tại địa phương trong việc thực hiện chức năng đại diện cho ý chí và nguyện vọng của cử tri   

Biểu đồ 25: Đánh giá việc thực hiện chức năng đại diện cho ý chí và nguyện vọng của cử tri

Câu hỏi 4.2: Ông/Bà có nhận xét như thế nào về hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn ĐBQH khoá XII trong thời gian qua tại địa phương trong việc phản ánh nguyện vọng của cử tri   

Biểu đồ 26: Đánh giá việc phản ánh nguyện vọng của cử tri

Câu hỏi 4.3: Ông/Bà có nhận xét như thế nào về hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn ĐBQH khoá XII trong thời gian qua tại địa phương trong việc giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân      

Biểu đồ 27: Đánh giá việc giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Câu hỏi 4.4: Ông/Bà có nhận xét như thế nào về hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn ĐBQH khoá XII trong thời gian qua tại địa phương trong việc tham gia xây dựng dự  án luật, pháp lệnh   

Biểu đồ 28: Đánh giá việc tham gia xây dựng dự  án luật, pháp lệnh

Câu hỏi 4.5: Ông/Bà có nhận xét như thế nào về hoạt động của Đoàn ĐBQH khoá XII trong thời gian qua tại địa phương       

Biểu đồ 29: Đánh giá về hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương

Biểu đồ 30: Đánh giá chung về hoạt động của đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tại địa phương

5.Về về việc tổ chức hoạt động tiếp xúc cử tri nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII trong thời gian vừa qua

Câu hỏi 5.1: Ông/Bà có đánh giá thế nào về việc tổ chức hoạt động tiếp xúc cử tri trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII về vai trò của Mặt trận Tổ quốc ở địa phương trong việc tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri      

Biểu đồ 31: Đánh giá về vai trò của Mặt trận Tổ quốc ở địa phương trong việc tổ chức Hội nghị tiếp xúc cử tri

Câu hỏi 5.2: Ông/Bà có đánh giá thế nào về việc tổ chức hoạt động tiếp xúc cử tri trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII về cách thức tổ chức cụ thể của hoạt động tiếp xúc cử tri mà Ông/Bà biết

Biểu đồ 32: Đánh giá về cách thức tổ chức cụ thể của hoạt động tiếp xúc cử tri mà Ông/Bà biết

Câu hỏi 5.3: Ông/Bà có đánh giá thế nào về việc tổ chức hoạt động tiếp xúc cử tri trong nhiệm kỳ Quốc hội khoá XII về việc tổ chức tiếp xúc cử tri 2 lần (trước và sau kỳ họp Quốc hội)

Biểu đồ 33: Đánh giá về Việc tổ chức tiếp xúc cử tri 2 lần (trước và sau kỳ họp Quốc hội)

Biểu đồ 34: Tổng quan đánh giá về việc tổ chức hoạt động tiếp xúc cử tri trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII

Từ kết quả tổng quan điều tra theo Biểu đồ 34 ở trên có thể thấy về cơ bản, các ý kiến đều nhận xét khá tốt đối với việc tổ chức hoạt động tiếp xúc cử tri trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII thời gian vừa qua. Tuy nhiên, xem xét về giá trị tuyệt đối các và có đến 8% chọn phương án “Khó trả lời”. Trong các phương án đưa ra thăm dò ý kiến của các đối tượng được điều tra thì đây là nội dung được nhiều người chọn phương án “Khó trả lời” nhất, cho thấy tiếp xúc cử tri là một hoạt động dù đã có những kết quả và đã được quan tâm nhiều hơn đặc biệt trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII thời gian vừa qua cũng đã dành được sự quan tâm cao của Quốc hội. Trên thực tế, trong năm 2010, Ban Dân nguyện của Quốc hội cũng đã có Tờ trình về Đề án đổi mới công tác tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, với những đề xuất kiến nghị xác đánh, có tính khả thi cao trong bối cảnh đất nước ta ở thời điểm hiện nay. Đây là tín hiệu đáng mừng, song cũng rất cần sự ủng hộ, quan tâm mạnh mẽ của các vị đại biểu Quốc hội, các cơ quan Đảng và Nhà nước, cần nhận thức rằng tiếp xúc cử tri là nội dung “khó” và cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tiếp theo của nhiệm kỳ khóa XII cũng như trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII tới đây.

6.Về tiếp tục hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong nhiệm kỳ tới và các nhiệm kỳ tiếp theo

Điểm mới đáng lưu ý nhất trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII là việc sửa đổi bổ sung Luật tổ chức Quốc hội, theo đó việc thành lập mới Ủy ban pháp luật và Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Tài chính – Ngân sách trên cơ sở tách Ủy ban Pháp luật và Ủy ban Kinh tế và Ngân sách của Quốc Hội khóa XI để tiếp tục đổi mới và kiện toàn về tổ chức bộ máy của Quốc hội nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho các cơ quan này.

Mặc dù vậy, những định hướng như tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội, các đoàn đại biểu Quốc hội địa phương; việc tổ chức bộ máy giúp việc cho Quốc hội, các đại biểu Quốc hội và vấn đề bỏ phiếu tin nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn vẫn đang là những vấn đề không chỉ ở tầm lý luận và có nhiều khía cạnh thực tiễn đa dạng cần được nghiên cứu xem xét thấu đáo, chuẩn bị cho nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII.

Câu hỏi 6.1: Ông/Bà có ý kiến thế nào nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong nhiệm kỳ tới về việc tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách ở địa phương        

Biểu đồ 35: Về tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách ở địa phương

Với tỷ lệ tới 65% chiếm đa số người được hỏi chọn phương án “Đồng ý” cho thấy chủ trương của Đảng về việc tăng số lượng đại biểu chuyên trách nói chung, trong đó có tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách ở địa phương là hết sức cần thiết và đúng đắn. Các ý kiến cũng cho thấy nguyện vọng và nhu cầu của các tầng lớp đối tượng được hỏi rất mong muốn tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội ở khía cạnh nội dung này.

Tuy vậy, dù số lượng chọn “Không đồng ý” là khá nhỏ, với 10% người được hỏi, nhưng số lượng người lựa chọn phương án “Phân vân” tới 24% cũng cho thấy đây là nội dung không đơn giản trong việc thực hiện. Tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách đến đâu, nếu chỉ xác định chủ trương thì rất rõ nhưng xác định con số tỷ lệ cụ thể thì rất cần có sự nghiên cứu kỹ lưỡng các khía cạnh của vấn đề, đảm bảo tính khả thi cho chủ trương này trên thực tiễn đáp ứng nhu cầu cuộc sống, và đảm bảo yếu tốt khách quan khoa học trong xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Câu hỏi 6.2: Ông/Bà có ý kiến thế nào nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong nhiệm kỳ tới về việc tiếp tục tăng số lượng Ủy ban của Quốc hội       

Biểu đồ 36: Về tiếp tục tăng số lượng Ủy ban của Quốc hội

Khác với phương án về “tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách ở địa phương”, đối với việc tăng số lượng ủy ban của Quốc hội, dù so sánh tương quan thì tỷ lệ 43% người hỏi lựa chọn phương án “Đồng ý” thay vì 39% người được hỏi chọn phương án “Phân vân” và 17% người được hỏi chọn phương án “Không đồng ý”, cho thấy nhu cầu về tăng số lượng ủy ban trong đối tượng được hỏi là không nhiều và không thực sự rõ nét trong chính kiến của người được hỏi. Có thể xem là 50-50 giữa việc tăng hay không tăng. Điều này đặt trọng trách cho các nhà nghiên cứu những người làm công tác thực tiễn trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, cơ quan của Quốc hội trong thời gian tiếp theo. Trên thực tế, đối với một số ủy ban hiện nay của Quốc hội, như Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng, cũng như Ủy ban về Các vấn đề xã hội của Quốc hội đều là những Ủy ban hoạt động rất “đa năng”, nhiều hoạt động của các Ủy ban này thực chất nằm trong nhiệm vụ, chức năng của nhiều bộ ngành trong nhánh hành pháp của Chính phủ. Trên thực tế các ủy ban này xem xét về lịch sử thì cũng đều có sự điều chỉnh, tách và hợp nhất giữa các ủy ban của Quốc hội trong các nhiệm kỳ trước đây. Và rõ ràng, đây vẫn là nội dung cần tiếp tục nghiên cứu trong thời gian tới, để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả và mức độ chuyên sâu hoạt động của các ủy ban của Quốc hội.

Câu hỏi 6.3: Ông/Bà có ý kiến thế nào nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong nhiệm kỳ tới về việc tiếp tục tăng số thành viên chuyên trách của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội           

Biểu đồ 37: Về tiếp tục tăng số thành viên chuyên trách của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, cùng với những đổi mới quan trọng trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, số lượng các thành viên của ủy ban có xu hướng tăng so với các nhiệm kỳ trước. Cùng với đó, số lượng thành viên các ủy ban của Quốc hội hoạt động chuyên trách cũng được tăng cường. Thời gian gần đây các chế độ đối với đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội cũng đã được quan tâm nhiều hơn, chú trọng nhiều hơn trước.

Mặc dù vậy, việc tăng số lượng thành viên chuyên trách của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội là đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả hoạt động của các “công xưởng” của Quốc hội. Chính vì thế, điều này cũng đã thể hiện trong kết quả điều tra, với 49% người được hỏi cho rằng cần phải tiếp tục tăng số lượng thành viên chuyên trách của Hội đồng dân tộc và các ủy ban. Tuy nhiên, với 35% số người chọn phương án “Phân vân” và 15% số người chọn phương án “Không đồng ý”, cho thấy đây là nội dung còn có nhiều ý kiến khác nhau, tương quan tuy đa phần số người được hỏi khẳng định về sự cần thiết tăng số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách ở Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội.

Câu hỏi 6.4: Ông/Bà có ý kiến thế nào nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong nhiệm kỳ tới về việc tăng cường năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy giúp việc ở Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND ở địa phương

Biểu đồ 38: Đánh giá về tăng cường năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy giúp việc ở Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND ở địa phương

Trong bối cảnh đa phần đại biểu Quốc hội nước ta hoạt động kiêm nhiệm, tổ chức bộ máy giúp việc cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và cá nhân các vị đại biểu Quốc hội là đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo một Quốc hội chuyên nghiệp, hiệu quả. Đổi mới tổ chức bộ máy giúp việc trong đó có bộ máy giúp việc ở Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND ở địa phương là cần thiết trước tiên nhất trong bối cảnh hiện nay, điều này rõ ràng được minh chứng qua tỷ lệ đa số khá cao, tới 72% số người được xác nhận phương án “Đồng ý”, và chỉ có 7% số người được hỏi chọn “Không đồng ý”.

Câu hỏi 6.5: Ông/Bà có ý kiến thế nào nhằm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong nhiệm kỳ tới về việc định kỳ bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn 

Biểu đồ 39: Đánh giá về định kỳ bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn

Quy định về bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn là nội dung được sửa đổi bổ sung Hiến pháp năm 1992 và sửa luật Tổ chức Quốc hội năm 2001. Tuy nhiên, sau gần 2 nhiệm kỳ Quốc hội kể từ đó đến nay vẫn chưa được thực thi trên thực tế hoạt động của Quốc hội.

Tỷ lệ 68% người được hỏi lựa chọn phương án “Đồng ý” cho thấy nhu cầu về việc thực thi quy định này là rất cao. Dù rằng đã được nhắc tới nhiều lần trong các báo cáo của các cơ quan của Quốc hội, các thảo luận của các đại biểu Quốc hội, các chuyên gia, các nhà khoa học trên nhiều diễn đàn, đây vẫn là nội dung “khó”, cần nghiên cứu và dành sự quan tâm sâu sắc hơn nữa để đảm bảo khuôn khổ pháp lý, đặc biệt là về nhận thức để có thể ban hành các quy định phù hợp cụ thể hóa việc thực hiện trên thực tiễn tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

Biểu đồ 40: Đánh giá tổng quan về tiếp tục hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong nhiệm kỳ tới và các nhiệm kỳ tiếp theo

Kết quả đánh giá chung từ Biểu đồ 40 cho thấy đa số người được hỏi đều ủng hộ, đồng tình với các phương án được Nhóm nghiên cứu đề xuất cho việc tiếp tục hoàn thiện và đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội.

Mặc dù vậy, với tỷ lệ tương quan về con số 59,9% “Đồng ý”, 29% “Phân vân” và 11,1% “Không đồng ý”, cho thấy đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội về mức độ “khó” về mặt nhận thức lý luận cũng như thực tiễn của việc triển khai.

7.Đối với phần câu hỏi mở

Với mục đích tìm kiếm thông tin liên quan đến chủ đề tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII và định hướng cho việc tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong nhiệm kỳ khóa XIII, ngoài các vấn đề được liệt kê theo các phương án dự liệu trước, Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất câu hỏi mở giúp cho các đối tượng hỏi bày tỏ chính kiến thêm so với các phần được liệt kê sẵn.

Kết quả điều tra đối với tổng cộng 953 người được hỏi cho thấy có 29/953 người (chiếm tỷ lệ 0,30%) người được hỏi có trả lời phần câu hỏi mở. Đây là một tỷ lệ không nhiều, có thể cho thấy lĩnh vực tổ chức và hoạt động của Quốc hội mặc dù không phải là mới, những là một lĩnh vực có mức độ đa dạng, phức tạp cao, và cần có kinh nghiệm thực tiễn phong phú mới có thể đưa ra các giải pháp, đề xuất cho việc tiếp tục hoàn thiện. Mặt khác cũng không loại trừ khả năng do mức độ quan tâm của các đối tượng được hỏi chưa thực sự cao. Bởi lẽ, trong trường hợp có nhiều bức xúc hoặc những kiến nghị đề xuất nhất định nào đó mong muốn được giải tỏa, người được hỏi hoàn toàn có thể chủ động ghi rõ ý kiến của mình trong phiếu điều tra đã được Nhóm nghiên cứu chuyển đến (có thể chỉ là bày tỏ chính kiến đối với thực tiễn bầu cử, mà không đơn thuần là các đề xuất kiến nghị, giải pháp hoàn thiện).

Với những ý kiến thu thập được, có thể thấy có 5 nhóm kiến nghị được các ý kiến quan tâm:

(i)Vấn đề tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách. Được đặc biệt quan tâm, có đến 8/29 ý kiến đề cập vấn đề “tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách”. Các ý kiến cho rằng, cần hạn chế tối đa đại biểu kiêm nhiệm, tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách càng nhiều càng tốt. Trong đó, đáng chú ý có một ý kiến [của một Đảng viên, hiện công tác trong khu vực Nhà nước] đề nghị tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lên 50%;

(ii)Chú trọng năng lực đại biểu Quốc hội, là vấn đề thứ hai được nhiều quan tâm, cũng là vấn đề có mối quan hệ mật thiết với vấn đề đại biểu chuyên trách. Theo nhóm ý kiến này, đại biểu Quốc hội không nên cơ cấu mà là người có đủ đức tài. Đề nghị đưa những người thực sự có năng lực vào làm đại biểu Quốc hội. Có ý kiến nhấn mạnh, bầu cử đại biểu Quốc hội cần dân chủ công khai, chọn người có đức có tài, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Một ý kiến khác cho rằng, cần đặt tiêu chuẩn lên hàng đầu; Và cần nghiên cứu tăng hợp lí số người tự ứng cử . .

(iii)Về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội ở địa phương, cần tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách và nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động tư vấn, tham mưu giúp việc cho các đại biểu Quốc hội, đặc biệt là đại biểu Quốc hội ở các địa phương.

PHẦN III

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta đặt ra những yêu cầu mới về bảo đảm quyền của công dân, sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động của Nhà nước. Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nhà nước ta, do đó tiếp tục hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Quốc hội đảm bảo thực quyền hơn nữa, phát huy vai trò đại diện của Quốc hội là một lĩnh vực cần có sự nghiên cứu thấu đáo để ngày càng thực sự đảm bảo Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân. cơ quan quyền lưch Nhà Nước cao nhất ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Dù đã có nhiều đổi mới và những kết quả quan trọng, thời gian tới và trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, trước tiên là tiếp tục nhận thức đúng đắn về vị thế của Quốc hội, coi Quốc hội là thể chế quan trọng nhất của nền chính trị dân chủ - pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong việc bảo đảm quyền lực nhà nước là tập trung ở nơi dân, và đại diện là cơ quan do dân bầu ra, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, để làm sao phù hợp với tập quán sinh hoạt chính trị dân chủ của các nước hiện nay.

Với những kết quả đạt được từ cuộc điều tra, qua một số vấn đề cụ thể được khảo sát liên quan đến công tác tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XII trong thời gian qua, và trên cơ sở một số vấn đề nhận được đa số ý kiến, có một số nội dung cần được nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện thêm một bước trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội khóa XIII đó là:

(i)Năng lực đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân của ứng cử viên phải được xem là yếu tố trọng yếu, quan trọng bậc nhất quyết định hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của từng cá nhân đại biểu Quốc hội và của Quốc hội. Trên cơ sở phải có nhận thức như vậy, mới chủ động hoàn thiện cơ chế để kết quả hiệp thương phải tạo ra được nguồn ứng cử viên thực sự có năng lực, làm tiền đề quan trọng để cử tri có điều kiện bầu ra người đại diện thực sự xứng đáng vào Quốc hội và mới tổ chức một Quốc hội với những thành viên là các đại biểu Quốc hội đủ tâm, đủ tầm và đủ tài, đủ đức để cống hiến sức lực trí tuệ cho đất nước;

(ii)Khuôn khổ cuộc điều tra cũng cho thấy, các ý kiến được hỏi đều đề ủng hộ cao về mặt chủ trương đổi mới của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Quốc hội, nhưng việc tổ chức triển khai đảm bảo khả thi phù hợp trên thực tiễn đối với các chủ trương này cần phải có bước đi, lộ trình cụ thể.

(iii)Đối với viện hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về tổ chức và hoạt động của Quốc hội, mà trước tiến là Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, qua kết quả cuộc điều tra có thể thấy một số vấn đề cụ thể mà các văn bản luật này cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện thêm đó là:

a.Cần có các quy định cụ thể hơn để người tự ứng cử và những người có năng lực được ứng cử vào Quốc hội;

b.Quy định cụ thể các nội dung liên quan đến tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ở các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội ở các địa phương;

c.Bổ sung hoặc sửa đổi các quy định theo hướng tăng tính thực chất, hiệu lực và hiệu quả trong các hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

Nguồn tin: Viện Nghiên cứu Lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống