BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC VỀ BẦU CỬ - năm 2010

08/10/2012
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Vì lẽ đó, bầu cử phải được xem là một nội dung thể hiện mức độ dân chủ của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cùng với những khó khăn hạn chế từ thực tiễn công tác bầu cử thời gian vừa qua cho thấy, đồng thời với việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật nói chung, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về bầu cử là vấn đề cần chú trọng đúng mức trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế - xã hội của đất nước đang có sự phát triển mạnh mẽ.

PHẦN I

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Đặt vấn đề

Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Vì lẽ đó, bầu cử phải được xem là một nội dung thể hiện mức độ dân chủ của một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.  Cùng với những khó khăn hạn chế từ thực tiễn công tác bầu cử thời gian vừa qua cho thấy, đồng thời với việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật nói chung, việc nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về bầu cử là vấn đề cần chú trọng đúng mức trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế - xã hội của đất nước đang có sự phát triển mạnh mẽ.

Nguyên tắc bầu cử đã được ghi nhận ngay tại Điều 1 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội là “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Một trong các tiêu chuẩn đối với đại biểu Quốc hội được pháp luật quy định là “Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” (Khoản 1, Điều 3 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội hiện hành, trong đó, cụm từ “dân chủ” được bổ sung vào giữa hai cụm từ “xã hội công bằng” và “văn minh” tại Điểm 1, Điều 3, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997). Đoạn 1, Điều 4 của Luật Bầu cử cũng quy định “Ủy ban thường vụ Quốc hội công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội; giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội, bảo đảm việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật”. Cùng với những quy định pháp luật khác, vấn đề dân chủ, bình đẳng và tiến bộ trong bầu cử đã được Đảng quan tâm và thể chế hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước.

Với những thành tựu về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại mà đất nước đạt được trong những năm gần đây, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước đã ngày càng được củng cố. Cử tri đã ý thức sâu sắc về quyền và nghĩa vụ của mình đối với cuộc bầu cử và đã tích cực tham gia cuộc bầu cử. Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, trong các cuộc bầu cử gần đây cũng còn những hạn chế nhất định. Đánh giá hoạt động của Quốc hội trong những năm qua, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Cần tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội”. Đánh giá của Hội đồng Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII cũng đã chỉ ra 5 hạn chế từ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII. Trong đó, có một số nội dung đáng chú ý:

-Việc dự kiến, điều chỉnh cơ cấu, thành phần đại biểu có điểm chưa thật phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới. Sau nhiều năm chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu dân cư, lao động cũng chuyển đổi theo, nhưng cơ cấu thành phần đại biểu cơ bản vẫn tương tự như các khóa trước đây;

-Việc sắp xếp các ứng cử viên theo đơn vị bầu cử ở một số tỉnh, thành phố có trường hợp chưa thật hợp lý: có tỉnh có 2 ứng cử viên trung ương thì cả hai đều được bố trí vào một đơn vị bầu cử; trình độ và chất lượng ứng cử viên ở một vài đơn vị rất cách biệt nhau, hoặc tập trung nhiều ứng cử viên cùng một cơ cấu làm cho cử tri khó lựa chọn. Việc giới thiệu ứng cử viên ở trung ương về ứng cử ở địa phương, có những khó khăn, lúng túng vì số ứng cử viên đông, luật lại chưa quy định tiêu chí giới thiệu;

-Các cơ cấu, thành phần như văn hóa – nghệ thuật, cơ cấu nữ thấp hơn dự kiến. Một số cơ quan của Quốc hội dự kiến tăng thêm đại biểu chuyên trách nhưng không thực hiện được trọn vẹn.

Báo cáo của Hội đồng Bầu cử cũng cho rằng, để khắc phục những hạn chế nói trên, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, như thời gian chuẩn bị; tiêu chuẩn đại biểu; tiêu chí ứng cử viên tự ứng cử; tiêu chí giới thiệu ứng cử viên trung ương về bầu ở địa phương; tiêu chí sắp xếp ứng cử viên vào đơn vị bầu cử; bổ sung ứng cử viên trong quá trình chuẩn bị; thống nhất thời gian và số lượng các cuộc tiếp xúc cử tri vận động bầu cử...

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, Viện Nghiên cứu lập pháp tiến hành cuộc điều tra xã hội học về bầu cử. Coi đây là bước khởi động quan trọng cho việc xem xét những vấn đề cần tiếp tục triển khai trong khuôn khổ các hoạt động nghiên cứu nhằm đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành về công tác bầu cử. Đây cũng là hoạt động nhằm cung cấp thông tin tham khảo đến các vị đại biểu Quốc hội về những vấn đề thực tiễn được rút ra từ những đánh giá, nhận định các đối tượng đa dạng trong  cuộc điều tra.

2. Mục đích và nội dung điều tra

Với vấn đề đặt ra như trên, trong khuôn khổ hoạt động nghiên cứu khoa học năm 2009 do Viện nghiên cứu lập pháp triển khai, hoạt động “Điều tra xã hội học về bầu cử” nhằm tìm kiếm thông tin hỗ trợ cho việc triển khai các hoạt động nghiên cứu, cũng như làm rõ thêm các căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp kiến nghị về công tác bầu cử ở nước ta trong thời gian tới.

Qua những nhận định và nghiên cứu bước đầu, Viện Nghiên cứu lập pháp định hướng triển khai các nội dung tập trung vào một số vấn đề lớn, từ đó tập trung khảo sát 2 vấn đề chủ yếu:

(i) Khảo sát thực tiễn triển khai công tác bầu cử Quốc hội ở nước ta trong một số năm gần đây. Những thông tin khảo sát chủ yếu được tiến hành hướng đến người đi bầu cử, bao gồm thông tin về thành phần người bầu cử, những nét chính về ứng cử viên được cử tri quan tâm; những yêu cầu chung từ phía cử tri đối với ứng cử viên đại biểu Quốc hội;… Trên cơ sở những thông tin này, xem xét thực trạng, kết hợp với các thông tin nghiên cứu khác để xây dựng các đề xuất kiến nghị.

(ii) Tìm kiếm các giải pháp, đề xuất từ phía đa số đối tượng khảo sát; đồng thời xem xét các đề xuất có tính thuyết phục hoặc cơ sở lý luận cao để nghiên cứu khả năng, kết hợp việc chủ động rà soát của Nhóm nghiên cứu, trước khi chính thức quyết định các giải pháp, đề xuất tiếp tục hoàn thiện một bước khuôn khổ pháp luật về bầu cử. Trong phần này, những vấn đề khảo sát có thể được chia nhỏ theo các nội dung cụ thể, xung quanh các quy định pháp luật hiện hành về công tác bầu cử, mà Nhóm nghiên cứu nhận thấy cần tiến hành khảo sát đánh giá thêm.

3. Đối tượng và phạm vi điều tra

Để kết quả điều tra thu được phản ánh thực tiễn khách quan và trung thực, Viện nghiên cứu lập pháp tiến hành khảo sát, điều tra xã hội học đối với 1000 đối tượng được hỏi, chia thành 4 nhóm chính:

(i) Công dân Việt Nam trong độ tuổi bầu cử và đã từng tham gia bầu cử, bao gồm các đối tượng người dân đa dạng, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tông giáo, tín ngưỡng, nghề nghiệp,… Đây chính là nhóm cử tri trực tiếp đi bầu cử, những người thực hiện quyền bầu cử, ủy quyền cho các đại biểu Quốc hội tham gia cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thông qua việc bỏ phiếu bầu cử ra các đại biểu xứng đáng đại diện cho mình;

(ii) Đại biểu Quốc hội; đại biểu Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

(iii) Những người làm công tác thực tiễn trong các bộ, ban, ngành có liên quan đến công tác bầu cử;

(iv) Các chuyên gia, nhà nghiên cứu, giảng dạy ở các Viện nghiên cứu và trường đại học trong nước có kinh nghiệm liên quan đến công tác bầu cử

Bốn nhóm đối tượng được Nhóm nghiên cứu khảo sát theo phân vùng về đặc điểm kinh tế - xã hội và có tính đến yếu tố địa lý theo các vùng miền trên đất nước. Trong điều kiện nguồn lực và nhân lực phù hợp, khuôn khổ của cuộc điều tra lần này tập trung ở 5 tỉnh, thành phố, phân bố cả 3 vùng miền Bắc, Trung và Nam gồm: Đăk Lăk, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Hà Nội, Phú Thọ. Trong đó, riêng trên địa bàn Hà Nội, ngoài đối tượng như các tỉnh khác, Nhóm nghiên cứu còn tiến hành khảo sát đối với nhóm đối tượng là các cán bộ, công chức, những người làm công tác thực tiễn ở các cơ quan trung ương (Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, các bộ, ban, ngành, gọi chung là nhóm đối tượng ở các cơ quan trung ương).

Kết quả là, với tổng cộng 1000 phiếu điều tra được phát ra, Nhóm nghiên cứu thu về 946 phiếu hợp lệ, trong đó gồm có Đăk Lăk: 197 phiếu; Lâm Đồng: 188 phiếu; Khánh Hòa: 173 phiếu; Hà Nội: 205 phiếu; Phú Thọ: 128 phiếu; và các cơ quan Trung ương: 55 phiếu.

4. Phương pháp điều tra

Điều tra được tiến hành theo phương pháp Bảng hỏi, kết hợp phương pháp makét dựng sẵn các phương án được dự liệu bởi Nhóm nghiên cứu, và khả năng mở để các đối tượng điều tra bày tỏ chính kiến cũng như có thể đề xuất kiến nghị về các vấn đề có liên quan đến các nội dung khảo sát cũng như các vấn đề mở đối với khuôn khổ thực trạng và pháp luật hiện hành về bầu cử ở nước ta.

PHẦN II

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA

1. Đối tượng điều tra

Với 4 nhóm đối tượng điều tra, thông tin cá nhân đối tượng được hỏi đã được Nhóm nghiên cứu xây dựng, khảo sát theo 2 nội dung trong Bảng hỏi: Đặc điểm bản thân người được hỏi; và Tư cách tham gia tại cuộc bầu cử Quốc hội gần nhất.

Về đặc điểm người được hỏi

Nhóm nghiên cứu báo cáo nêu câu hỏi và liệt kê phương án trả lời đối với 8 nhóm thông tin bao gồm:

- Ba khung về độ tuổi (dưới 30 tuổi; từ 31 đến 59 tuổi; và trên 60 tuổi);

- Tham gia cơ quan dân cử (Đại biểu Quốc hội; Đại biểu NĐND);

- Đảng viên;

- Dân tộc thiểu số;

- Tôn giáo;

- Trình độ (Từ đại học trở lên; Giáo viên; Học sinh, sinh viên);

- Nghề nghiệp (Nông dân; Công nhân; Doanh nhân; Làm nghề tự do); và

- Khu vực công tác (Lực lượng vũ trang; Làm trong khu vực Nhà nước; Làm trong khu vực tư nhân).

Với kết quả thu được, xếp theo thứ tự tỷ lệ phần trăm từ cao nhất cho thấy, đối tượng người được hỏi có 67% có độ tuổi từ 31 đến 59; 45% trình độ từ đại học trở lên; 42% làm trong khu vực Nhà nước; 41% là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; 27% dưới 30 tuổi (chỉ có 6% người được hỏi có độ tuổi trên 60 tuổi); 10% là giáo viên.

Trong các nhóm đối tượng được hỏi chỉ có 2% là doanh nhân, đây là nhóm người được khảo sát ít nhất trong các đối tượng điều tra


Biểu đồ 1: Thành phần đối tượng được điều tra

Như vậy, với tỷ lệ này, nhìn chung đối tượng được hỏi là những người có am hiểu (trên 45% có trình độ từ đại học trở lên); và cơ bản là hoạt động trong các cơ quan nhà nước, và ở độ tuổi trẻ.

Về tư cách tham gia trong cuộc bầu cử gần đây của các đối tượng được điều tra

Với câu hỏi “Tại cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội gần đây nhất, Ông (Bà) tham gia với tư cách nào?”, Nhóm biên soạn báo cáo đưa ra các phương án lựa chọn phủ khắp các đối tượng có thể khảo sát:

-Ứng cử viên (được đề cử; và tự ứng cử);

-Cán bộ phụ trách bầu cử;

-Người tham dự Hội nghị hiệp thương;

-Người trực tiếp đi bỏ phiếu;

-Người không trực tiếp đi bỏ phiếu


Biểu đồ 2: Tư cách tham gia tại cuộc bầu cử Quốc hội gần nhất

Kết quả điều tra cho thấy đa số gần như tuyệt đối người được hỏi là thuộc đối tượng “Người trực tiếp đi bỏ phiếu” (chiếm 87% tổng số người được hỏi). Điều này cho thấy kết quả điều tra về cơ bản sẽ là phản ánh ý kiến, nhận định của đối tượng người đi bầu cử, do đó, nhận định đánh giá sẽ trên nền quan điểm của đối tượng này. Mặc dù chỉ chiếm tỷ lệ thấp, với 8% số người được hỏi chọn phương án thuộc đối tượng “Người không trực tiếp đi bỏ phiếu”, nhưng xếp thứ hai chỉ sau đối tượng “Người trực tiếp đi bỏ phiếu” cho thấy về cơ bản, nguyên tắc bầu cử trực tiếp được tuân thủ đối với đại đa số người dân, nhưng cũng còn trường hợp “Người không trực tiếp đi bỏ phiếu”, có thể vì lý do khách quan hoặc điều kiện sức khỏe không thể tự mình đi bỏ phiếu, nhưng cũng có thể là trường hợp cử tri “nhờ” bỏ phiếu bầu.

2. Đánh giá mức độ quan trọng các đặc điểm của ứng cử viên

Lựa chọn, giới thiệu ứng cử viên và đánh giá chung của người đi bầu cử về các đặc điểu/tiêu chí quan trọng đối với ứng cử viên là hai mặt của một vấn đề tuyển chọn người đại biểu xứng đáng. Nếu lựa chọn, giới thiệu là công đoạn trước trong một quy trình hữu cơ, làm tiền đề và là cơ sở quan trọng cho quá trình “sàng lọc” ở công đoạn sau đó, thì tuyển chọn từ phía người đi bầu cử là công đoạn quyết định việc một ứng cử viên có xứng đáng trở thành người đại diện chính thức của cử tri vào cơ quan dân cử cao nhất hay không.

Nắm bắt “tâm tư” từ phía người bầu cử qua đó, có các cơ sở cho việc xem xét lựa chọn, giới thiệu ứng cử viên cũng là một nội dung quan trọng giúp cho công tác bầu cử hiệu quả, đáp ứng lòng dân.

Với câu hỏi “Những đặc điểm dưới đây của ứng cử viên có mức độ quan trọng như thế nào, xin Ông (Bà) đánh số thứ tự 1, 2, 3, 4 vào ô c, bắt đầu từ số 1 là đặc điểm quan trọng nhất trở đi”, kết quả thu được theo số thứ tự 1, 2, 3, 4 tương ứng từ trái qua phải thu được qua biểu đồ dưới đây.


Biểu đồ 3: Đánh giá mức độ quan trọng các đặc điểm của ứng cử viên

Như vậy, với 4 tiêu chí được đưa ra thì thứ tự ưu tiên theo mức độ lần lượt từ ưu tiên nhất đến ít ưu tiên nhất là: Năng lực đại diện; yếu tố giới tính; ngành nghề, vị trí, chức vụ; và yếu tố dân tộc. Điều này cho thấy về cơ bản cử tri đánh giá rất cao năng lực đại diện của đại biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho cử tri trong cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nhân dân, vì thế việc cử tri đề cao yếu tố năng lực đại diện cũng là lẽ đương nhiên. Đáng chú ngay sau yếu tố năng lực lại là yếu tố giới tính của ứng cử viên (ứng cử viên là nam hay nữ), chứ không phải yếu tố ngành, nghề công tác, vị trí và chức vụ của ứng cử viên. Điều này cho thấy yếu tố giới nhìn chung vẫn được xem trọng trong tâm lý của đa số cử tri đi bầu. Tuy nhiên, trong khuôn khổ điều tra xã hội học này, Bảng hỏi điều tra được nhóm nghiên cứu đưa ra đã chưa dự liệu đến khả năng về ưu tiên giới nam hay giới nữ trong cử tri đi bầu. Vấn đề này cũng sẽ được tiếp tục nghiên cứu làm rõ trong các dịp tiến hành các hoạt động nghiên cứu, đánh giá khác của Viện Nghiên cứu lập pháp.

3. Việc xem xét tố cáo nặc danh đối với tư cách ứng cử viên

Theo quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể là quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, “Kể từ ngày công bố danh sách những người ứng cử, công dân có quyền khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, khiếu nại, kiến nghị về những sai sót trong việc lập danh sách những người ứng cử với Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử, Hội đồng bầu cử” (Khoản 1, Điều 49). Tuy vậy, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội hiện hành loại trừ trường hợp đơn tố cáo nặc danh. Theo đó, Khoản 3, Điều 49 quy định: “Không xem xét, giải quyết đối với những đơn tố cáo nặc danh”. 

Trên thực tế, luôn tồn tại một số lượng ứng cử viên có đơn thư tố cáo trong quá trình bầu cử. Tại cuộc bầu cử Quốc hội khóa XII, theo số liệu thống kê của Hội đồng Bầu cử Quốc hội khóa XII, tính đến ngày 10 tháng 5 năm 2007, tức là trước ngày diễn ra bầu cử 10 ngày, số lượng đơn khiếu nại, tố cáo mà Hội đồng Bầu cử nhận được là 224 đơn đối với 105 người ứng cử, tương ứng với tỷ lệ 2,13 đơn/ứng cử viên. Từ ngày 11 đến ngày 28 tháng 5 năm 2007, có thêm 108 đơn tố cáo được gửi đến Hội đồng Bầu cử đối với 21 ứng cử viên . Và như vậy, với số liệu này, ước có khoảng  332 đơn tố cáo đối với  126 ứng cử viên, tương ứng tỷ lệ 2,63 đơn/ứng cử viên có đơn tố cáo. Trên thực tế, việc không xem xét, giải quyết các đơn, thư tố cáo nặc danh trong quá trình xem xét tư cách ứng cử viên đại biểu Quốc hội đã sàng lọc không đưa vào xem xét các đơn thư nặc danh với mục đích không tích cực, bên cạnh đó cũng loại trừ một số lượng đơn thư nhằm mục đích tích cực mà ở đó, vì tự bảo vệ mình khỏi các nguy cơ thiệt hại về lợi ích bản thân, người tố cáo viết đơn nặc danh đã không đích danh tên mình trong đơn tố cáo. Điều này cũng là dễ hiểu do và xuất phát từ e sợ về khả năng bị cản trở hoặc trả thù việc đã tiến hành tố cáo. Điểm đáng chú ý là trong các quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 không có quy định nào loại trừ trường hợp đơn thư tố cáo nặc danh trong quá trình xem xét tư cách ứng cử viên. Cũng có nghĩa việc tiếp nhận và xử lý đơn tố cáo nặc danh đối với ứng cử viên được thừa nhận trong Luật năm 1997. (Việc loại trừ xem xét đơn tố cáo nặc danh đã được bổ sung vào Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 2001).

Xuất phát từ những vấn đề đặt ra như trên, Nhóm nghiên cứu đã đưa vấn đề này thành nội dung để khảo sát các đối tượng điều tra.  


Biểu đồ 4: Nhận định về việc nên hay không nên xem xét, giải quyết những tố cáo nặc danh đối với tư cách ứng cử viên

Kết quả điều tra cho thấy, với câu hỏi “Theo Ông (Bà), có nên xem xét, giải quyết những tố cáo nặc danh đối với tư cách thành viên của ứng cử viên hay không?” thì có tới 58% số người được hỏi lựa chọn phương án “Nên”; chỉ có 34% chọn phương án “Không nên”; và 8% còn lại chọn phương án “Khó trả lời”. Với kết quả này, về phía người được hỏi cho thấy, rất cần thiết cân nhắc việc quy định vấn đề cần xem xét, giải quyết những tố cáo nặc danh đối với tư cách ứng cử viên trong quá trình bầu cử trong các văn bản quy phạm pháp luật.

4. Thành phần nên được chọn tham dự Hội nghị hiệp thương lựa chọn ứng cử viên đại biểu Quốc hội

Theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội hiện hành, việc tiến hành Hội nghị hiệp thương lựa chọn ứng cử viên đại biểu Quốc hội được tiến hành 3 lần trong mỗi kỳ bầu cử. Mỗi lần Hội nghị hiệp thương được thực hiện ở 2 cấp: Trung ương; và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, với 3 ý nghĩa khác nhau ở 3 lần Hội nghị:

(i) Hội nghị hiệp thương lần 1 nhằm thỏa thuận về cơ cấu thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương (nếu là Hội nghị hiệp thương ở trung ương)/hoặc địa phương (nếu là Hội nghị hiệp thương ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) được bầu làm đại biểu Quốc hội trên cơ sở dự kiến do Ủy ban thường vụ Quốc hội gửi đến .

(ii) Hội nghị hiệp thương lần 2 nhằm căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương (nếu là Hội nghị hiệp thương ở trung ương)/hoặc địa phương (nếu là Hội nghị hiệp thương ở địa phương) đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ nhất để lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội và gửi lấy ý kiến cử tri nơi cư trú .

(iii) Hội nghị hiệp thương lần 3 nhằm căn cứ vào tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội, cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương (nếu là Hội nghị hiệp thương ở trung ương)/hoặc địa phương (nếu là Hội nghị hiệp thương ở địa phương) đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh lần thứ hai và kết quả lấy ý kiến cử tri để lựa chọn, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội .

Trong 3 lần Hội nghị hiệp thương ở 2 cấp như vậy, thực chất đều do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, với mục đích cuối cùng là có danh sách ứng cử chính thức gửi đến Hội đồng bầu cử (ở trung ương), đến Ủy ban bầu cử (ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương). Nhưng về thành phần tham dự cụ thể các Hội nghị hiệp thương hiện chưa được Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội quy định rõ. Đối với Hội nghị hiệp thương lần 1 là Hội nghị được Luật Bầu cử quy định rõ hơn các lần còn lại, nhưng cũng chỉ được quy định chung chung. Theo đó, đối với Hội nghị hiệp thương lần 1 ở trung ương, “thành phần gồm Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại diện Ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận” (Điều 30); đối với Hội nghị hiệp thương  lần 1 ở địa phương, “thành phần gồm Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, đại diện Ban lãnh đạo các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc và đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” (Điều 31). Tại các Hội nghị hiệp thương, Luật đều quy định “Biên bản Hội nghị hiệp thương phải ghi rõ thành phần, số lượng người tham dự, diễn biến, kết quả của Hội nghị”.

Từ đó, Nhóm nghiên cứu quyết định dự liệu và đưa ra 7 thành phần để đưa vào Bảng hỏi khảo sát, với câu hỏi: “Theo Ông (Bà), thành viên tham dự Hội nghị hiệp thương lựa chọn ứng cử viên đại biểu Quốc hội nên thuộc các thành phần nào dưới đây?”, và các thành phần: Người được cộng đồng dân cư bầu chọn; Người bất kỳ được ban tổ chức mời tham dự; Đại diện Ban thường trực Mặt trận tổ quốc; Đại diện lãnh đạo tổ chức thành viên của Mặt trận tổ quốc; Đại diện Hội đồng bầu cử; Đại diện thường trực Hội đồng nhân dân; Đại diện Ủy ban nhân dân; và Thành phần khác (nếu có).

Kết quả cho thấy, 63% số người được hỏi chọn phương án “Người được cộng đồng dân cư bầu chọn”; 40% chọn phương án “Đại diện Hội đồng bầu cử”; 38% chọn phương án “Đại diện ban thường trực Mặt trận Tổ quốc”. Trong khi đó, chỉ có 19%  chọn phương án “Đại diện Ủy ban nhân dân”; và thấp nhất là 14% chọn phương án “Người bất kỳ được ban tổ chức mời tham dự”. Kết quả này cho thấy về cơ bản thành phần tham dự Hội nghị hiệp thương cần được chú trọng ở nhóm đối tượng người được cộng đồng dân cư bầu. Yêu cầu này được đặt ra để đảm bảo dân chủ trong hoạt động bầu cử.


Biểu đồ 5: Thành viên tham dự Hội nghị hiệp thương lựa chọn ứng cử viên đại biểu Quốc hội

Ngoài các kết quả theo các phương án được liệt kê và đã được thể hiện trên biểu đồ, Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra một phương án mở để các đối tượng trả lời bảng hỏi có thể chủ động đề xuất thành phần tham dự khác. Với 16/947 người được hỏi có ý kiến bổ sung thành phần tham dự khác ngoài 7 thành phần đã liệt kê, nhìn chung  tập trung vào 6 nhóm đối tượng: (i) Lão thành cách mạng; (ii) Người thực sự có uy tín trong khu vực dân cư; (iii) Người đại diện cho cơ quan tổ chức ứng cử viên làm việc; (iv) Đại diện tầng lớp trí thức; (v) Đại diện khối doanh nghiệp; (vi) Đại diện tổ chức Đảng; (vii) Đại diện Đoàn đại biểu Quốc hội. Trong đó, có thể thấy một số kiến nghị đáng chú ý đã đề xuất thành phần tham dự là “Lão thành cách mạng”; “Đại diện cơ quan người được chọn ứng cử”; “Đại diện nơi cư trú, nơi công tác của cử tri”; “Cử tri ở khu vực dân cư nơi ứng cử viên cư trú”. Thậm chí có ý kiến của một nông dân được hỏi còn cho rằng, “Nên mời một người dân đến dự”. Và như vậy, dễ nhận thấy thực chất các ý kiến này đều nhằm đến mục đích cuối cùng là đảm bảo cho quá trình lựa chọn, hiệp thương người để đưa vào danh sách ứng cử là công bằng và dân chủ, một điều mong mỏi của đa số cử tri, và cũng là chủ đích cần đạt được trong quy trình tổ chức bầu cử.

5. Hình thức Hội nghị hiệp thương quyết định danh sách ứng cử viên đại biểu Quốc hội


Biểu đồ 6: Hình thức Hội nghị hiệp thương quyết định danh sách ứng cử viên đại biểu Quốc hội

Kết quả điều tra cho thấy về cơ bản, các ý kiến khẳng định nên chọn  phương án “Bỏ phiếu kín” (chiếm tỷ lệ cao nhất, 58% số người được hỏi lựa chọn); tiếp đó việc biểu quyết công khai được xếp hàng ưu tiên thứ hai với 38% người được hỏi; và chỉ có 4% chọn phương án “Khó trả lời”.

6. Giá trị kết quả lấy ý kiến tín nhiệm của cử tri đối với ứng cử viên

Theo quy định của pháp luật hiện hành, công đoạn lấy ý kiến tín nhiệm của cử tri đối với ứng cử viên được thực hiện từ sau Hội nghị hiệp thương lần thứ 2 là một thủ tục pháp lý bắt buộc. Theo đó, trên cơ sở kết quả của Hội nghị hiệp thương lần thứ 2, danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội sẽ được lập và gửi lấy ý kiến cử tri ở nơi cư trú; đối với người tự ứng cử thì còn được gửi lấy ý kiến cử tri nơi người đó làm việc (nếu có). Trên cơ sở kết quả lấy ý kiến cử tri Hội nghị hiệp thương lần thứ 3 sẽ lựa chọn, lập danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội .

Việc lấy ý kiến cử tri nơi công tác và nơi cư trú thường xuyên là một thể thức nhìn chung được xem là khá quan trọng, tuy vậy cũng có những ý kiến bày tỏ sự băn khoăn về sự phù hợp và mức độ hiệu quả. Chẳng hạn có ý kiến cho rằng, thể thức này chưa phản ánh thực chất quyền dân chủ của nhân dân. Bởi vì 3 lý do :

(i) Cử tri thụ động, do họ chỉ được bày tỏ tín nhiệm đối với những người đã có sẵn trong danh sách;

(ii) Sự tín nhiệm này cũng chỉ mới so với tiêu chuẩn cần thiết (tư cách) của người đại biểu chứ chưa phải là người cử tri lựa chọn trong số những người tốt nhất, xứng đáng hơn giới thiệu ra ứng cử; và

(iii) Đại biểu, đặc biệt là đại biểu Quốc hội nếu mới chỉ nhận được sự đảm bảo tư cách của cử tri nơi công tác và nơi cư trú thường xuyên thì chưa đủ, còn phải có sự đảm bảo rộng rãi hơn.

 Với câu hỏi “Theo Ông (Bà), kết quả lấy ý kiến tín nhiệm của cử tri đối với ứng cử viên tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc có giá trị như thế nào?”, kết quả thu được là 56% người được hỏi chọn phương án trả lời là “Có giá trị tham khảo”; 34% lựa chọn phương án “Có giá trị pháp lý”; và 10% còn lại lựa chọn phương án “Khó trả lời”. Như vậy, kết quả này cho thấy các quy định pháp luật hiện hành về giá trị của kết quả lấy ý kiến tín nhiệm của cử tri đối với ứng cử viên tại nơi cư trú, hoặc nơi làm việc cũng cần được tiếp tục nghiên cứu để đảm bảo thực sự phù hợp tuyệt đối với nguyện vọng của đa số người được hỏi. Với tỷ lệ đến 10% lựa chọn phương án “Khó trả lời” cũng cho thấy sự “băn khoăn” nhất định đối với kết quả lấy ý kiến tín nhiệm.


Biểu đồ 7: Nhận định về giá trị kết quả lấy ý kiến tín nhiệm của cử tri đối với ứng cử viên tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc

7. Tương quan giữa số lượng ứng cử viên và số đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử

Hiện tại pháp luật hiện hành không quy định yêu cầu tương quan số lượng giữa số ứng cử viên và số đại biểu Quốc hội được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử, mà chỉ quy định, “Số người trong danh sách ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu ở đơn vị đó”; còn về số lượng “nhiều hơn” là bao nhiêu không được quy định cụ thể (Cùng liên quan đến vấn đề này, Điều 42, Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân năm 2003 đã quy định danh sách ứng cử viên phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu là 2 người). Trên thực tế, “thực tiễn qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội cho thấy, số dư ở hầu hết các đơn vị bầu cử chỉ là một người” .

Vấn đề tiếp nữa, theo một số nhà nghiên cứu cho rằng, cần tạo cơ chế  để cử tri có điều kiện lựa chọn tốt hơn giữa các ứng cử viên . Theo đó, nhận thức phổ biến trên thế giới hiện nay, một cuộc bầu cử dân chủ bao giờ cũng phải là một cuộc bầu cử mở ra cơ hội lựa chọn tối ưu cho cử tri. Triệt tiêu yếu tố đó, bầu cử mất đi ý nghĩa đích thực của nó. Và do vậy, số lượng các ứng cử viên tại mỗi đơn vị bầu cử phải được tính toán kỹ. Để tạo điều kiện cho sự lựa chọn rộng rãi của cử tri, “mỗi đơn vị bầu cử cần có số lượng ứng cử viên tối thiểu gấp đôi số đại biểu cần bầu” . Đồng quan điểm này, cũng có ý kiến khác cho rằng, “nếu chỉ yêu cầu danh sách nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu là chưa đủ mà nên quy định cụ thể: nhiều hơn ít nhất là gấp đôi số lượng đại biểu được bầu, để tạo điều kiện cho cử tri được lựa chọn”. Một minh chứng về sự thành công trong ấn định tỷ lệ ứng cử viên cao hơn hai lần số đại biểu Quốc hội được chọn, mà nhà nghiên cứu này đưa ra và được xem là một “chuẩn mực điển hình” là cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 của nước ta bầu ra Quốc hội khóa I. Trong đó, riêng ở Hà Nội, có 74 ứng cử viên, chỉ chọn lấy 6 đại biểu .

Từ một số vấn đề nêu trên, Nhóm nghiên cứu tiến hành đặt câu hỏi về vấn đề này đối với các đối tượng điều tra nhằm khảo sát chính kiến (đa phần là cử tri). Kết quả là, với câu hỏi “Theo Ông (Bà), nên quy định số ứng cử viên ở mỗi đơn vị bầu cử nhiều hơn số đại biểu được bầu bao nhiêu thì hợp lý?”, đa số người được hỏi (27%) chọn phương án “02 người”; tiếp đó là 21% chọn phương án “03 người”; sau đó là phương án “01 người” được 18% số người được hỏi lựa chọn. Chỉ có 9% người được hỏi chọn phương án “Gấp đôi số đại biểu được bầu”. Việc “Không nên giới hạn” cũng chỉ được 12% số người được hỏi lựa chọn. Như vậy nhìn chung, các đối tượng được khảo sát nhận định nên có giới hạn về số lượng chênh lệch giữa số lượng ứng cử viên và đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử, tuy nhiên về cơ bản, tương quan ứng cử viên không nên chênh lệch quá nhiều. Mặt khác, với tỷ lệ 13% số người được hỏi chọn phương án “Khó trả lời”, cho thấy về cơ bản, chúng ta cần quan tâm công tác thông tin, tuyên truyền nhiều hơn để đảm bảo toàn thể cử tri, trong đó có các cử tri có ít điều kiện tiếp cận các quy định pháp luật về bầu cử được biết về quy trình cũng như các công việc liên quan đến công tác bầu cử. Chính việc lựa chọn “Khó trả lời”  cho thấy nhóm các cử tri ít hiểu biết cần được cung cấp thêm thông tin cho việc quyết định trả lời của mình.


Biểu đồ 8: Tương quan giữa số ứng cử viên và số đại biểu Quốc hội được bầu trong mỗi đơn vị bầu cử

8. Số lượng người tự ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử

Tự do ứng cử là tạo điều kiện cho công dân với tiêu chuẩn luật định có quyền bình đẳng tham gia vào bầu cử với tư cách ứng cử viên (đương nhiên là việc công dân thực sự trở thành đại biểu nhân dân tùy thuộc vào sự tín nhiệm của người dân). Trong các thể chế dân chủ, tiêu chuẩn ứng cử viên và cơ sở để một người bị từ chối đưa vào danh sách ứng cử viên tương đối rõ ràng. Thậm chí có những quốc gia, với những chức danh dân cử nhất định, pháp luật còn không quy định tiêu chuẩn cho ứng cử viên, chỉ quy định công dân trong điều kiện nào thì không thể trở thành ứng cử viên, theo đúng nghĩa “công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm” .

 Mặc dù pháp luật hiện nay có quy định cho người tự ứng cử, nhưng những quy định này còn chưa đầy đủ để đảm bảo công bằng, bình đẳng và chưa đảm bảo rằng người tự ứng cử là người được nhân dân tín nhiệm .Về chủ trương, thể chế và tâm lý xã hội vẫn chưa thật sự sẵn sàng cho các cá nhân tự ứng cử. Cơ cấu cho đại biểu tự ứng cử rất thấp (khoảng 10% cho đại biểu Quốc hội lần thứ XII) .

 

Biểu đồ 9: Số lượng người tự ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử

Với câu hỏi “Theo Ông (Bà) nên quy định số ứng cử viên ở mỗi đơn vị bầu cử nhiều hơn số đại biểu được bầu là bao nhiêu thì hợp lý”, kết quả điều tra Nhóm nghiên cứu thu được cho thấy 66% số người được hỏi chiếm đa số lựa chọn phương án “Có số lượng cụ thể”, chỉ có 26% chọn phương án “Không hạn chế số lượng”; số còn lại chọn phương án “Khó trả lời” với 8% tỷ lệ người được hỏi. Điều này phản ánh nhận định chung của đa số người được hỏi là, số lượng người tự ứng cử nên được giới hạn với một con số cụ thể nhất định.

9. Việc quy định điều kiện đối với người tự ứng cử

Với một số vấn đề đã nêu ở trên, để khảo sát rõ thêm chính kiến của các đối tượng được điều tra, Nhóm nghiên cứu thiết kế câu hỏi nhằm vào việc các điều kiện cần thiết đối với người tự ứng cử để một mặt đảm bảo quyền tự do ứng cử trong khuôn khổ pháp luật của công dân.


Biểu đồ 10: Việc nên hay không nên quy định điều kiện đối với người tự ứng cử

Kết quả cho thấy với câu hỏi “Theo Ông (Bà), có nên quy định về điều kiện đối với người tự ứng cử để tránh tình trạng lợi dụng quyền này hay không?”, thì có đến 85% người được hỏi lựa chọn phương án “Nên”; chỉ 10% lựa chọn phương án “Không nên”; và 5% lựa chọn phương án “Khó trả lời”. Như vậy, nhìn chung các ý kiến thống nhất cao việc nên có các quy định nhất định về điều kiện đối với người tự ứng cử để tránh tình trạng người tự ứng cử lợi dụng quyền này.

10. Việc sắp xếp ứng cử viên vào đơn vị bầu cử

Hiện tại pháp luật bầu cử quy định, căn cứ vào danh sách chính thức những người ứng cử được Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu, Hội đồng bầu cử gửi tới các Ủy ban bầu cử hữu quan danh sách những người được giới thiệu về ứng cử tại địa phương. Hội đồng bầu cử lập và công bố danh sách những người ứng cử theo từng đơn vị bầu cử trong cả nước theo danh sách chính thức do Ban thường trực Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban bầu cử gửi đến. Người ứng cử chỉ được ghi tên vào danh sách ứng cử ở một đơn vị bầu cử (Điều 46, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội).


Biểu đồ 11: Việc sắp xếp ứng cử viên vào đơn vị bầu cử

Với câu hỏi đưa ra là“Theo Ông (Bà), nên sắp xếp ứng cử viên vào đơn vị bầu cử như thế nào thì hợp lý?”, đa số người được hỏi (70%) lựa chọn phương án “Theo sự sắp xếp của Hội đồng bầu cử”; chỉ có 16% lựa chọn phương án “Ứng cử viên tự lựa chọn”; và 14% chọn phương án “Khó trả lời”. Kết quả này cho thấy việc quy định Hội đồng bầu cử lập và công bố danh sách những người ứng cử trong cả nước là phù hợp với nguyện vọng của đa số người được hỏi. Tuy vậy, với tỷ lệ đến 14% người lựa chọn phương án “Khó trả lời” có những băn khoăn nhất định trong công đoạn lập và công bố danh sách người ứng cử.

11. Đối với phần câu hỏi mở

Với mục đích tìm kiếm thông tin liên quan đến chủ đề bầu cử, ngoài các vấn đề được liệt kê theo các phương án dự liệu trước, Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất câu hỏi mở giúp cho các đối tượng hỏi bày tỏ chính kiến thêm so với các phần được liệt kê sẵn. Kết quả điều tra đối với tổng cộng 947 người được hỏi cho thấy có 29/947 người (chiếm tỷ lệ 0,30%) người được hỏi có trả lời phần câu hỏi mở. Đây là một tỷ lệ không nhiều, có thể cho thấy bầu cử là một lĩnh vực có mức độ đa dạng, phức tạp cao, và cần có kinh nghiệm thực tiễn phong phú mới có thể đưa ra các giải pháp, đề xuất cho việc tiếp tục hoàn thiện. Mặt khác cũng không loại trừ khả năng do mức độ quan tâm của các đối tượng được hỏi chưa thực sự cao. Bởi lẽ, trong trường hợp có nhiều bức xúc hoặc những kiến nghị đề xuất nhất định nào đó mong muốn được giải tỏa, người được hỏi hoàn toàn có thể chủ động ghi rõ ý kiến của mình trong phiếu điều tra đã được Nhóm nghiên cứu chuyển đến (có thể chỉ là bày tỏ chính kiến đối với thực tiễn bầu cử, mà không đơn thuần là các đề xuất kiến nghị, giải pháp hoàn thiện).

Với những ý kiến thu thập được, có thể thấy có 5 nhóm kiến nghị được các ý kiến quan tâm:

(i) Vấn đề tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách. Được đặc biệt quan tâm, có đến 8/29 ý kiến đề cập vấn đề “tăng số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách”. Các ý kiến cho rằng, cần hạn chế tối đa đại biểu kiêm nhiệm, tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách càng nhiều càng tốt. Trong đó, đáng chú ý có một ý kiến [của một Đảng viên, hiện công tác trong khu vực Nhà nước] đề nghị tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lên 50%;

(ii) Chú trọng năng lực đại biểu Quốc hội, là vấn đề thứ hai được nhiều quan tâm, cũng là vấn đề có mối quan hệ mật thiết với vấn đề đại biểu chuyên trách. Theo nhóm ý kiến này, đại biểu Quốc hội không nên cơ cấu mà là người có đủ đức tài. Đề nghị đưa những người thực sự có năng lực vào làm đại biểu Quốc hội. Có ý kiến nhấn mạnh, bầu cử đại biểu Quốc hội cần dân chủ công khai, chọn người có đức có tài, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Một ý kiến khác cho rằng, cần đặt tiêu chuẩn lên hàng đầu. Và do vậy, trong bầu cử cần có dân chủ thực sự bằng hình thức tranh cử; và cần phải tăng số người tự ứng cử.

(iii) Về sắp xếp ứng cử viên vào đơn vị bầu cử, đây là nội dung đáng chú ý thứ hai được sự quan tâm của 8/29 người được hỏi có ý kiến đối với phần câu hỏi mở. Các phương án được nhóm ý kiến này đề xuất đưa ra bao gồm:

•Nên kết hợp cả phương án 1 (“Theo sự sắp xếp của Hội đồng bầu cử”) và 2 (“Ứng cử viên tự lựa chọn”) với nhau vì trên cơ sở sự tự lựa chọn của ứng cử viên, Hội đồng sẽ sắp xếp

•Nên bốc thăm chọn nơi ứng cử

•Nên kết hợp cả 2 tiêu chí theo sự lựa chọn và sắp xếp của hội đồng bầu cử

•Việc sắp xếp ứng cử viên vào đơn vị bầu cử nên dựa trên cơ sở ứng cử viên tự lựa chọn sau đó Hội đồng bầu cử sắp xếp. Không nên chỉ theo Hội đồng bầu cử vì có thể có yếu tố không thật phù hợp nhưng cũng không phải hoàn toàn theo ứng cử viên vì có thể một nơi nhiều ứng cử viên đều lựa chọn

•Trước hết ưu tiên cho sư lựa chọn của ứng cử viên. Trong trường hợp có nhiều ứng cử viên cùng có nguyện vọng ứng cử ở một số đơn vị bầu cử, vươt quá số quy định thì Hội đồng bầu cử điều chỉnh

•Cân nhắc khả năng kết hợp cả hai phương án theo sự sắp xếp của Hội đồng bầu cử và Ứng cử viên lựa chọn để quyết định hợp lí nhất.

•Kết hợp cả sự sắp xếp của Hội đồng bầu cử và tự lựa chọn của ứng cử viên để tránh áp đặt, dân chủ hình thức

•Nên kết hợp nguyện vọng của ứng cử viên với sự sắp xếp của Hội đồng bầu cử.

Như vậy, từ 8 ý kiến cụ thể dẫn trên, cho thấy thực chất chỉ tập trung vào phương án: (a) Kết hợp giữa sắp xếp của Hội đồng bầu cử và Ứng cử viên lựa chọn (theo hướng trước tiên ưu tiên ứng cử viên lựa chọn trước. Trong trường hợp có nhiều ứng cử viên có nguyện vọng vượt quá số quy định thì lúc đó Hội đồng bầu cử mới quyết định căn cứ và tình hình thực tế); và (b) Bốc thăm để chọn nơi ứng cử. Có lẽ hình thức này đảm bảo sự khách quan, dân chủ và công bằng nhất.

(iv) Về việc quy định số lượng người tự ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử, có 4 ý kiến quan tâm vấn đề này. Có ý kiến cho rằng, nếu quy định giới hạn số lượng người tự ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử là chưa hợp lí. Cũng có ý kiến cho rằng, số lượng người ứng cử không nên hạn chế nhưng phải đáp ứng đủ các điều kiện do Hội đồng bầu cử quy định. Có ý kiến góp ý trực tiếp đối với nhóm ứng cử viên là doanh nhân cho rằng, ứng cử viên là doanh nhân chỉ nên cơ cấu số lượng hợp lí.

(v) Một số kiến nghị về chính sách, pháp luật liên quan đến bầu cử. Có 6 ý kiến quan tâm, bày tỏ ý kiến xung quanh vấn đề này đề xuất các kiến nghị bao gồm:

•Đối với vấn đề thư nặc danh, nếu đơn, thư tố cáo nặc danh nhưng có địa chỉ và nội dung cụ thể rõ ràng thì cần ý kiến  xem xét, giải quyết, báo cáo cơ quan, tổ chức có thẩm quyền

•Cử tri ở tỉnh nào có quyền lựa chọn (bầu) toàn bộ Đại biểu Quốc hội của tỉnh đó (hiện nay là chia nhỏ thành đơn vị bầu cử. Nên tính đại diện chưa cao). Tăng mạnh thành phần đại biểu Quốc hội chuyên trách Cần có các quy định về vận động bầu cử của các ứng cử viên.

•Cần có các quy định cụ thể hơn về vận động bầu cử của các ứng cử viên.

•Cần yêu cầu xây dựng cơ chế giám sát, kiểm tra việc kiểm phiếu để ngăn ngừa  khả năng sai sót  xảy ra.

PHẦN III

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta đặt ra những yêu cầu mới về bảo đảm quyền của công dân, sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động của Nhà nước. Bầu cử là một lĩnh vực cần có sự nghiên cứu thấu đáo để ngày càng thực sự đảm bảo bầu cử tự do, dân chủ. Điều quan trọng trước tiên là nhận thức đúng đắn về thể chế bầu cử, coi bầu cử là thể chế quan trọng nhất của nền chính trị dân chủ - pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong việc bảo đảm quyền lực chính trị của công dân.

Với những kết quả đạt được từ cuộc điều tra, qua một số vấn đề cụ thể được khảo sát liên quan đến công tác bầu cử thời gian qua cho thấy, và trên cơ sở một số vấn đề nhận được đa số ý kiến, có một số nội dung cần có nghiên cứu để tiếp tục hoàn thiện thêm một bước hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội đó là:

(i) Năng lực đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân của ứng cử viên phải được xem là yếu tố trọng yếu, quan trọng bậc nhất quyết định hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của từng cá nhân đại biểu Quốc hội và của Quốc hội. Điều này thể hiện rõ qua kết quả khảo sát về việc “đánh giá mức độ quan trọng các đặc điểm của ứng cử viên”, với tỷ lệ 85,73% người được hỏi lựa chọn ưu tiên số một là “Năng lực đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân). Như vậy, người đại diện thực sự hoạt động hiệu quả trước tiên phải là người có năng lực thực sự. Trên cơ sở phải có nhận thức như vậy, mới chủ động hoàn thiện cơ chế để kết quả hiệp thương phải tạo ra được nguồn ứng cử viên thực sự có năng lực, làm tiền đề quan trọng để cử tri có điều kiện bầu ra người đại diện thực sự xứng đáng;

(ii) Có quan điểm cho rằng “Chúng ta chưa có một cơ chế thực sự hữu hiệu bảo đảm dân chủ và công bằng của quá trình tuyển lựa đại biểu” . Nhận định này có căn cứ nhất định xuất phát từ thực tiễn công tác bầu cử thời gian vừa qua. Do đó, hoàn thiện cơ chế bầu cử  cần chú trọng hơn nữa đến tăng cường dân chủ và công bằng trong quá trình tuyển lựa đại biểu. Khuôn khổ cuộc điều tra cũng cho thấy, các ý kiến được hỏi đều đề cao sự tham gia của “Người được cộng đồng dân cư bầu chọn” (tỷ lệ 63% người được hỏi) trong quá trình hiệp thương lựa chọn ứng cử viên đại biểu;

(iii) Đối với viện hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về bầu cử, mà trước tiến là Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, qua kết quả cuộc điều tra có thể thấy một số vấn đề cụ thể mà Luật cần được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện thêm đó là:

a. Cần có quy định về việc cần thiết xem xét, giải quyết những đơn tố cáo nặc danh đối với ứng cử viên (ý kiến của 58% người được điều tra);

b. Quy định cụ thể các nội dung liên quan đến vấn đề hiệp thương, trong đó hình thức quyết định danh sách ứng cử viên đại biểu Quốc hội nên là “Biểu quyết công khai” (ý kiến của 58% người được hỏi). Cũng trong quá trình hiệp thương, cân nhắc việc không quy định giá trị pháp lý đối với kết quả lấy ý kiến tín nhiệm của cử tri đối với ứng cử viên tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc (Kết quả điều tra cho thấy, 56% người được hỏi cho rằng kết quả lấy ý kiến tín nhiệm chỉ nên là “Có giá trị tham khảo”);

c. Bổ sung hoặc sửa đổi các quy định theo hướng tăng tính cạnh tranh để đảm bảo dân chủ và công bằng trong quá trình tuyển lựa đại biểu: quy định cụ thể số ứng cử viên cần nhiều hơn số đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử là bao nhiêu; bổ sung các quy định đảm bảo quyền tự ứng cử của công dân, theo hướng thực sự tự do, dân chủ nhưng đủ chặt chẽ để tránh lạm dụng quyền tự ứng cử (Kết quả điều tra cho thấy 66% người được hỏi cho rằng “Có số lượng cụ thể” đối với số lượng người tự ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử; và đại đa số, 85% người được hỏi cho rằng “Nên” có quy định về điều kiện đối với người tự ứng cử);

d. Về vấn đề ứng cử viên tự lựa chọn đơn vị bầu cử, cũng là một nội dung có thể được nghiên cứu tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bầu cử. Mặc dù kết quả điều tra cho thấy, việc sắp xếp ứng cử viên vào đơn vị bầu cử được đa số ý kiến người được hỏi (70%) cho rằng nên là “Theo sự sắp xếp của Hội đồng bầu cử”, và chỉ 16% chọn phương án “Ứng cử viên tự lựa chọn”. Thực tiễn kinh nghiệm ở ngay trong đất nước ta, cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 cũng triển khai theo hướng ứng cử viên tự lựa chọn đơn vị bầu cử cho mình [chỉ một đơn vị bầu cử]. Trên thực tế, đây là một yếu tố thể hiện tính dân chủ, tự do trong lựa chọn đại biểu Quốc hội. Đặc biệt, điều này xét trong quan hệ với đối tượng ứng cử viên là người tự ứng cử là rất có ý nghĩa.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hiến pháp năm 1992

2. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997

3. ThS. Lưu Văn Quảng – “Đổi mới công tác bầu cử để có một Quốc hội mang tính đại diện cao” – Tạp chí HKLP tháng 3 năm 2007 (số 94)

4. Báo cáo số 472/HĐBCKXII ngày 18 tháng 7 năm 2007 của Hội đồng Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII về kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII.

5. PGS. TS. Phan Xuân Sơn – “Thực trạng và giải pháp đổi mới công tác bầu cử ở nước ta” – Tạp chí NCLP tháng 4 năm 2007 (số 97)

6. Trần Thanh Hương – “Hiệp thương và tác động của hiệp thương đến việc phát huy tính tích cực của công dân trong thực hiện quyền bầu cử” – Tạp chí NCLP tháng 4 năm 2007 (số 97)

7. Trần Ngọc Nhẫn – “Bầu cử Quốc hội khóa XII cần được hướng dẫn bổ sung” – Tạp chí NCLP tháng 01 năm 2007 (Số 90)

Nguồn tin: Viện nghiên cứu Lập pháp

 

 

Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống