Báo cáo kết quả thăm dò ý kiến về tác động của thuốc lá đối với sức khỏe và kinh tế - năm 2011

08/10/2012
Sử dụng thuốc lá đang có chiều hướng gia tăng, khuynh hướng giảm ở các nước phát triển nhưng tăng ở các nước đang phát triển. Tại Việt Nam tỷ lệ sử dụng thuốc lá ở nam thanh thiếu niên độ tuổi từ 17 - 24 là 43,6%.

PHẦN I

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Đặt vấn đề

Trên thế giới có khoảng 1,3 tỷ người sử dụng thuốc lá, trong đó khu vực Châu Á Thái Bình Dương có tỷ lệ sử dụng thuốc lá cao. Châu Á có 3 trong 5 quốc gia có tỷ lệ tiêu thụ thuốc lá cao nhất thế giới đó là Trung Quốc, Nhật Bản và Indonesia.

Sử dụng thuốc lá đang có chiều hướng gia tăng, khuynh hướng giảm ở các nước phát triển nhưng tăng ở các nước đang phát triển. Tại Việt Nam tỷ lệ sử dụng thuốc lá ở nam thanh thiếu niên độ tuổi từ 17 - 24  là 43,6%.

Qua các nghiên cứu cho thấy hút và sử dụng thuốc lá có những tác động đáng kể tới sức khỏe, phát triển kinh tế cũng như một số tác động xã hội khác. Cụ thể đối với sức khoẻ: Khói thuốc lá chứa hơn 4000 chất hoá học trong đó có nhiều chất là tác nhân gây ung thư, là tác nhân của 25 căn bệnh trong đó có nhiều căn bệnh nguy hiểm như: ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, nhồi máu cơ tim,.. Những người nghiện thuốc lá có nguy cơ tử vong cao gấp 2,5-10 lần so với người không hút thuốc lá. Theo Tổ chức Y tế thế giới, hàng năm có khoảng 5 triệu người chết do các bệnh có liên quan đến thuốc lá. Theo dự báo, ước tính trong những năm 2020-2030 sẽ có khoảng 10 triệu người chết mỗi năm do các căn bệnh có liên quan đến thuốc lá nếu không có các biện pháp ngăn chặn kịp thời. Ngoài ra, hút thuốc lá thụ động (hít phải khói thuốc lá) cũng là một nguy cơ lớn ảnh hưởng tới sức khoẻ. Người thường xuyên hít phải khói thuốc có nguy cơ bị ung thư phổi cao hơn 26% so với người không hít phải khói thuốc. Tổ chức Y tế thế giới ước tính có gần 700 triệu người, gần một nửa số trẻ em trên thế giới đang phải sống trong bầu không khí bị ô nhiễm bởi khói thuốc lá.

Đối với kinh tế của người dân: Hiện nay, các quốc gia đang phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật do hút thuốc lá và phải tăng chi phí vào y tế chữa trị các bệnh có liên quan đến thuốc lá, đồng thời năng suất lao động giảm sút do tình trạng bệnh tật có liên quan tới hút thuốc lá. Dự toán chi phí y tế điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá và việc giảm năng xuất lao động do thuốc lá chiếm 1-3% GDP. Tại Việt Nam, ước tính phần đóng góp của ngành công nghiệp thuốc lá cho ngân sách nhà nước chỉ chiếm 1/3 số tiền mà người dân dùng để hút thuốc lá.  Những tác động khác như: Việc trồng cây thuốc lá dễ làm đất bạc màu, người nông dân trồng cây thuốc lá phải tiếp xúc thường xuyên với  phân bón hóa học, thuốc trừ sâu ... sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ của người lao động, người nông dân trồng cây thuốc lá mắc hội chứng thuốc lá xanh nhiễm độc nicôtin do hấp thu nicôtin qua da. Công nhân sản xuất thuốc lá dễ mắc các bệnh nghề nghiệp. Nhà nước phải chi một khoản ngoại tệ lớn để nhập khẩu một số nguyên liệu cho sản xuất thuốc lá. Thuốc lá cũng làm phát sinh tệ nạn buôn lậu thuốc lá.

Hiện nay, cả nước có 7 đầu mối sản xuất thuốc lá điếu trực thuộc các ngành và địa phương quản lý. Diện tích trồng thuốc lá trên cả nước gần 18.000 ha, có khoảng 20.000 nghìn lao động nông nghiệp trong ngành thuốc lá.

Giá thuốc lá ở Việt Nam hiện nay khá thấp so với các nước nên đã giúp các thanh thiếu niên và người nghèo dễ dàng tiếp cận với việc hút thuốc lá hơn.

Việc thực hiện các quy định pháp luật về kiểm soát đối với hoạt động kinh doanh thuốc lá hiện nay vẫn còn những vi phạm. Các quy định về phòng chống tác hại và kiểm soát thuốc lá hiện hành vẫn chưa phát huy hết tác dụng.

Nhận thức rõ ảnh hưởng của thuốc lá đối với toàn bộ đời sống xã hội, ngày 19 tháng 6 năm 2010, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII đã thông qua Nghị quyết về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011 trong đó đưa dự án Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá vào chương trình cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII. Việc xây dựng dự án luật này nhằm nâng cao ý thức của toàn thể nhân dân đấu tranh phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Với chức năng nghiên cứu và cung cấp thông tin nghiên cứu, tham khảo phục vụ Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và các Đại biểu Quốc hội, Trung tâm Nghiên cứu khoa học, Viện Nghiên cứu lập pháp tổ chức nghiên cứu điều tra dư luận xã hội về: “Tác động của thuốc lá đối với sức khỏe và kinh tế” nhằm cung cấp cho các Đại biểu Quốc hội sự đánh giá khách quan của người dân về tác hại của thuốc lá, góp phần giúp các Đại biểu Quốc hội có thêm thông tin khi thảo luận về dự án luật này.

2. Mục đích và nội dung điều tra

- Xây dựng Báo cáo đánh giá một số ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc lá đối với sức khỏe, kinh tế và sự cần thiết xây dựng Luật phòng, chống tác hại thuốc lá.

- Nội dung của cuộc nghiên cưu điều tra dư luận này tập trung vào 1 số nội dung như sau:

A. Về đánh giá ảnh hưởng của hút thuốc lá đối với sức khỏe, kinh tế xã hội

1.Thực trạng hút thuốc lá, thuốc lào

2.Tìm hiểu về những ảnh hướng của thuốc lá đối với: Sức khỏe, kinh tế hộ gia đình và những ảnh hưởng xã hội khác

3.Việc thực hiện các quy định về hút thuốc nơi công cộng, nơi làm việc, trong nhà...

B. Sự cần thiết xây dựng Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá và những quy định cần thiết

4.Đánh giá về sự cần thiết ra đời của Luật phòng, chống tác hại thuốc lá

5.Việc in cảnh báo sức khỏe trên các sản phẩm thuốc lá, thuốc lào

6.Ý kiến về sự hoàn thiện chính sách phòng, chống tác hại thuốc lá

3.Đối tượng và phạm vi điều tra

a) Đối tượng nghiên cứu: đối tượng tham gia nghiên cứu là 1300 người, bao gồm 45% nữ, 55% là nam trong độ tuổi từ 15 tuổi trở lên, có khả năng tham gia và tình nguyện tham gia trả lời phiếu phỏng vấn.

b) Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện ở các thành phố/tỉnh Hà Nội, Cần Thơ, Bắc Giang, Vĩnh Phúc và một số địa phương khác. Địa bàn nghiên cứu bao gồm cả ở nông thôn, thành thị và khu vực ngoại thành các thành phố.

4.Phương pháp điều tra

Điều tra được tiến hành theo phương pháp Bảng hỏi, kết hợp phương pháp makét dựng sẵn các phương án được dự liệu bởi Nhóm nghiên cứu, và khả năng mở để các đối tượng điều tra bày tỏ chính kiến cũng như có thể đề xuất giải pháp về các vấn đề có liên quan đến các nội dung khảo sát cũng như các vấn đề mở đối với khuôn khổ thực trạng và pháp luật hiện hành về phòng, chống tác hại thuốc lá hiện nay của Việt Nam. Số liệu dựa trên phương pháp thống kê bảng hỏi và các ý kiến thu được được xử lý trên phần mềm được xây dựng bằng ngôn ngữ lập trình Visual Basic.Net, dữ liệu được xử lý bằng chương trình SQL Server 2000. 

PHẦN II

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA

1.Về đối tượng điều tra

+ Về tuổi: Phiếu nghiên cứu điều tra được sử dụng đối với 4 nhóm tuổi: dưới 18 tuổi là 61 người chiếm 4,69%, nhiều nhất là nhóm tuổi từ 18 – 30 tuổi là 641 người chiếm tỷ lệ gần 50%, nhóm tuổi từ 30-50 tuổi là 512 người chiếm 39,38% và nhóm tuổi cuối cùng là nhóm trên 50 tuổi chiếm 6,62%. Việc chia theo nhóm tuổi với mục đích liên quan tới khả năng tiếp cận thuốc lá, khả năng lao động, khả năng tạo thu nhập, tình trạng có bệnh tật…

Bảng 1: Đặc điểm cơ cấu tuổi của đối tượng tham gia nghiên cứu

+ Về trình độ học vấn: Trong số 1300 người tham gia cuộc điều tra có 1,38% là người có trình độ tiến sỹ, với tỷ lệ cao nhất là 42,92% thuộc nhóm người có trình độ cao đẳng, đại học, có 23,54% số người tham gia có trình độ Thạc sỹ và 30,5% là số người có trình độ phổ thông trung học (không có đối tượng nào tham gia trong nghiên cứu này có trình độ dưới mức phổ thông trung học). Điều này cho thấy, nghiên cứu tập trung ở nhóm có trình độ học vấn tương đối cao.

Biểu đồ 2: Đặc điểm về trình độ học vấn của đối tượng tham gia nghiên cứu

+ Về nơi ở/nơi làm việc: chỉ có 27% số người tham gia là sống/làm việc ở khu vực nông thôn, còn lại là sống ở khu vực thành phố và vùng ngoại ô thành phố (nơi có thể dễ dàng tiếp cận các thông tin liên quan tới thuốc lá cũng như có điều kiện để sử dụng/tiếp cận với các loại/sản phẩm thuốc lá).

Biểu đồ 3: Đặc điểm nơi sinh sống/làm việc của đối tượng được điều tra

2.Về tỷ lệ người hút thuốc lá

Có gần 50% (644/1300 người) trong số người tham gia trong nghiên cứu điều tra có hút thuốc lá/thuốc lào. Kết quả nghiên cứu cũng phù hợp với 1 nghiên cứu mới đây của GATS năm 2010 tại Việt Nam ( Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành), tại Việt Nam có 47,4% là nam giới và 1,4% là nữ giới từ 15 tuổi trở lên (người trưởng thành) hiện đang hút thuốc lá, thuốc lào.

Biểu đồ 4: Tỷ lệ người hút thuốc lá

Theo kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi bắt đầu hút thuốc: Trước 18 tuổi là 20,81%, từ 18 đến 30 là 67,08%, từ 30 đến 50 tuổi là 10,09% và trên 50 tuổi là 1,71%.

Câu hỏi 1.1: Quý vị có hút thuốc lá không? Và bắt đầu hút thuốc khi ở độ tuổi nào

Biểu đồ 5: Độ tuổi bắt đầu hút thuốc lá

 Và loại thuốc thường hút/quen dùng: chủ yếu là thuốc Vinataba ( 41%), thuốc Du lịch (15%),, Marboro (14%), còn lại là các thuốc như Caraven, White Horse, thuốc ba số .. chiếm tỷ lệ 6-8%, ngoài ra cũng có nhiều người cùng dùng nhiều loại thuốc

Những người trong nghiên cứu cho biết, số điếu thuốc lá trung bình họ hút mỗi ngày khoảng 5-20 điều chiếm tỷ lệ khoảng 80%, cũng có tới 15% hút 1 bao thuốc mỗi ngày (20 điếu/ngày)

Câu hỏi 1.3: Quý vị có hút thuốc lá không và  sử dụng bao nhiêu điếu thuốc mỗi ngày?

             

Biểu đồ 6: Tỷ lệ người hút thuốc lá và số điếu thuốc lá hút mỗi ngày

Không cần cân nhắc/lựa chọn địa điểm khi hút thuốc và có thể hút bất cứ địa điểm nào chiếm 26,7% số người hút thuốc trả lời. Tuy nhiên tỷ lệ người hút thuốc có cân nhắc về địa điểm hút thuốc (như trên xe khách, phòng có trẻ con…) để tránh phiền người khác cũng như tránh cho người khác khỏi nhiễm khói thuốc là 73,3%.

Câu hỏi 1.4: Quý vị có cân nhắc tới việc lựa chọn địa điểm khi hút thuốc không ? 

Biểu đồ 7: Cân nhắc tới việc lựa chọn địa điểm hút thuốc lá

Tương tự như vậy, khi hỏi về có hút thuốc ở những nơi có biển báo “cấm hút thuốc” hay không thì có tới 19,25% số người hút thuốc trong nghiên cứu cho rằng vẫn hút bình thường, và gần 47% trong số họ trả lời rằng cũng còn tùy, chỉ có 34% là không hút thuốc ở những nơi có biển báo như vậy. Điều này cho thấy còn 1 bộ phận người dân chưa ý thức được những tác hại cũng như những ảnh hưởng của khói thuốc lá đối với những người xung quanh khi mình hút thuốc, thể hiện sự thiếu ý thức cũng như thiếu tuân thủ pháp luật về cấm hút thuốc nơi công cộng.

Câu hỏi 1.5: Ở những nơi có biển báo “CẤM HÚT THUỐC”, Quý vị có hút thuốc không?

Biểu đồ 8: Hút thuốc ở những nơi có biển báo “cấm hút thuốc lá”

Trong số những người hút thuốc, thì có 18,63% cho rằng mình có mắc bệnh là do hút thuốc lá gây nên, có gần 45% cho rằng cũng không rõ là có bệnh gì liên quan tới thuốc lá hay không và cũng chưa bao giờ đi khám để phát hiện bệnh.

3.Về việc trong gia đình người hút thuốc lá

Có tới 53,23% số người được hỏi cho biết trong gia đình mình có người hút thuốc lá, thuốc lào, như vậy ít nhất là 53,23% số người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi khói thuốc lá, thuốc lào tại nhà (chưa kể họ trực tiếp là những người hút lá, thuốc lào) hay nói cách khác tỷ lệ hút thuốc thụ động trong nghiên cứu lớn hơn 53,23%. Trong khi đó, nghiên cứu của GATS cũng cho thấy hiện Việt Nam, tỷ lệ hút thuốc thụ động khoảng 67% tại nhà.

Để bảo vệ sức khỏe cộng đồng khỏi tác hại của khói thuốc thì bầu không khí trong nhà phải hoàn toàn không có khói thuốc. Môi trường hoàn toàn không khói thuốc còn có tác động tích cực trong việc hỗ trợ người hút thuốc giảm hút, thúc đẩy việc cai nghiện thuốc lá.

Hiện nay, các quy định cấm hút thuốc chưa toàn diện, việc thi hành các quy định này còn yếu, ý thức tuân thủ của người dân chưa cao nên việc vi phạm quy định cấm hút thuốc xảy ra rất phổ biến và chế tài phạt hành chính cũng thực hiện chưa nghiêm túc.

4.Việc một người hút thuốc lá có làm ảnh hưởng tới người xung quanh

Câu hỏi 3: Theo Quý vị, việc một người hút thuốc lá có làm ảnh hưởng tới người xung quanh không?

             

Biểu đồ 9: Đánh giá về ảnh hưởng của khói thuốc lá đối với người xung quanh

Trong 1300 người tham gia nghiên cứu, có tới gần 90% số người cho rằng việc hút thuốc lá, thuốc lào sẽ gây ảnh hưởng tới những người xung quanh, tuy nhiên cũng có 9,15% cho rằng việc này có ảnh hưởng hay không thì không cần biết, không quan tâm.

Theo kết quả nghiên cứu năm 2008 của trường đại học Y tế công cộng thì Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong ở nam giới Việt Nam, với gần 11% tổng số ca tử vong ở nam là do các bệnh liên quan đến thuốc lá các bệnh có nguyên nhân trực tiếp do thuốc lá - đột quỵ, mạch vành, phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), ung thư phổi- là những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong ở cả nam và nữ. Dù không hút thuốc nhưng sống trong môi trường có khói thuốc cũng góp phần làm tỷ lệ gánh nặng bệnh tật do viêm phổi ở trẻ em cao. Nếu ở Việt Nam không còn có ai hút thuốc lá hằng ngày (tỷ lệ hút thuốc là 0%) thì gánh nặng bệnh tật của Việt Nam sẽ giảm đi 526317 đơn vị (Là 4,39%), trên 12 triệu đơn vị cho toàn nước Việt Nam (chưa bao gồm nguy cơ hút thuốc thụ động).

5.Chi phí cho việc mua thuốc lá một khoản tiền đáng kể không?

Trong số 1300 người được hỏi, thì có 890 người ( chiếm 68,46%) cho rằng việc chi trả chi phí cho mua thuốc lá chiếm 1 khoản tiền đáng kể trong vốn tiền của người dân chi cho việc mua thuốc lá, chỉ có 7% cho rằng không hề tốn kém khi mua để sử dụng các sản phẩm thuốc lá.

Câu hỏi 4: Theo Quý vị, chi phí cho việc mua thuốc lá có phải là một khoản tiền đáng kể không?    

Biểu đồ 10: Đánh giá về chi phí cho mua thuốc lá

Ngành công nghiệp thuốc là hàng năm đã đóng góp 1 khoản tiền rất lớn vào ngân sách quốc gia, xong bên cạnh đó, ngân sách quốc gia và người dân lại phải chi trả phần do tác hại thuốc lá gây nên cao hơn nhiều lần. Ở Việt Nam, chi phí cho việc mua thuốc lá năm 2002 là 10.400 tỷ đồng, năm 2007 là 14.000 tỷ đồng. Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới năm 2006 thì một người hút thuốc có thể tiêu tốn cho thuốc lá số tiền tương ứng với 1/3 số tiền dành cho lương thực theo đầu người trong hộ gia đình, bằng 1,5 lần số tiền chi cho y tế bình quân đầu người. Ngoài ra, theo một nghiên cứu được thực hiện do trường đại học Y tế công cộng năm 2008 thì chi phí điều trị 3/25 bệnh do thuốc lá: 2.304 tỷ VND, chưa tính được chi phí chăm sóc sức khỏe cho 22 bệnh còn lại, năng suất lao động mất đi do bệnh tật và tử vong do thuốc lá, năng suất lao động mất đi do người thân chăm sóc người bệnh do thuốc lá, chi phí cháy nổ, vệ sinh... Thuốc lá là nguyên nhân gây ra gánh nặng tử vong và bệnh tật lớn thứ hai tại Việt Nam. Bệnh tật và tử vong liên quan đến thuốc lá chỉ xảy ra nhiều năm sau khi hút thuốc lá.

6. Sự hiểu biết về hút thuốc lá có hại cho sức khỏe

Câu hỏi 5: Quý vị có cho rằng hút thuốc lá có hại cho sức khỏe?  

Biểu đồ 11: Đánh giá của thuốc lá đối với sức khỏe

Hầu hết mọi người đều cho rằng hút thuốc lá là có hại cho sức khỏe, 77,85% số người tham gia nghiên cứu cho biết như vậy, tuy nhiên cũng có tới gần 20% cho rằng việc hút thuốc lá có ảnh hưởng tới sức khỏe hay không thì không rõ lắm và không quan tâm.

Có thể việc không rõ về tác hại của thuốc lá của người hút thuốc do họ chưa có được các thông tin về tác hại thuốc lá, do vậy việc tuyên truyền, cung cấp thông tin, in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh là quan trọng đối với người hút thuốc lá.

Việt Nam hiện nay mới chỉ quy định in cảnh báo sức khỏe bằng chữ chứ chưa có hình ảnh, theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới thì việc in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh là biện pháp giáo dục có chi phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao nhất trong việc tuyên truyền về tác hại của thuốc lá.

Khi được bày tỏ các ý kiến và sự hiểu biết của mình về các tác hại do thuốc lá gây ra thì có rất nhiều ý kiến (có 637 ý kiến) được nêu lên, các ý kiến này rất cụ thể và tập trung vào các bệnh như: bệnh Phổi, bệnh đường hô hấp, vòm họng, các bệnh tim mạch, hôi miệng, hen suyễn, lao, tăng nguy cơ ung thư phổi, giảm tuổi thọ, tăng huyết áp…(chi tiết trong phần file phụ lục).

Theo Tổ chức y tế thế giới, khói thuốc lá chứa hơn 4000 chất hóa học, trong đó có 43 chất là tác nhân gây ung thư, thuốc lá là yếu tố nguy cơ thứ 2 trong số 10 yếu tố nguy cở hàng đầu đe dọa sức khỏe người dân ở các nước đang phát triển. So với những người không hút thuốc, những người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh Ung thư phổi cáo gấp 10 lần, bệnh Phổi tắc nghẽn mạn tính cao gấp 13 lần, bệnh Mạch vàng cao gấp 10-15 lần… Người thường xuyên hít phải khói thuốc tăng nguy cơ bệnh mạch vành lên 25-30% và nguy cơ bị ung thư phổi lên 20-30%. Trẻ em hít phải khói thuốc dễ bị  viêm đường hô hấp, hen, viêm tai giữa và tăng  nguy cơ đột tử ở trẻ sơ sinh.

7. Sự hiểu biết về các quy định cấm hút thuốc lá nơi công cộng

Trong số 1300 người tham gia phỏng vấn, có 84,38% số họ cho rằng biết về các quy định cấm hút thuốc lá nơi cộng cộng. Trong số đó, chỉ có 23,61% cho rằng quy định này là có hiệu quả và 45,49% cho rằng quy định này không có hiệu quả.

Câu hỏi 6: Quý vị có biết là có các quy định cấm hút thuốc lá nơi công cộng không?

Biểu đồ 12: Hiểu biết về quy định cấm hút thuốc lá nơi công cộng

Có 26/1300 người (2%) cho rằng không hề biết và chưa bao giờ nghe về thông tin quy định cấm hút thuốc lá ở nơi công cộng. Còn lại 13,62% không biết hoặc không quan tâm tới quy định này.

Câu hỏi 6.1: Quý vị đánh giá thế nào về việc thực thi quy định cấm hút thuốc lá nơi công cộng?     

Biểu đồ 13: Đánh giá về việc thực thi quy định cấm hút thuốc lá nơi công cộng

Người không hút thuốc nhưng lại thường xuyên hít phải khói thuốc (hút thuốc thụ động) có nguy cơ bị ung thư phổi cao hơn 26% so với người không hít phải khói thuốc. Do những tác hại của môi trường khói thuốc như vậy nên trong Nghị quyết số 12/2002/NQ-CP được ban hành từ năm 2000,có quy định về các chính sách nhằm giảm sử dụng các sản phẩm thuốc lá (trong đó có quy định những nơi cấm hút thuốc lá…), hơn nữa Nghị định 45/2005/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong Lĩnh vực Y tế quy định phạt 50.000-100.000 đối với các hành vi hút thuốc lá nơi công cộng được thực hiện từ năm 2005. Tuy nhiên cho đến nay vẫn có rất nhiều người cho rằng những quy định này chưa thực sự được quan tâm, chưa có hiệu quả đích thực trong việc cấm hút lá ở nơi công cộng.

Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, nếu thực hiện môi trường không khói thuốc sẽ có những ích lợi đáng kể không chỉ ở mặt sức khỏe như giảm tỷ lệ mắc các bệnh và tử vong liên quan tới thuốc lá ở cả người hút và người hít phải khói thuốc, nâng cao chất lượng sức khoẻ sinh sản, bảo vệ sức khoẻ và sự phát triển của trẻ em mà còn có ích trong phát triển kinh tế xã hội và xóa đói giảm nghèo: môi trường không khói thuốc giúp giảm tỷ lệ hút thuốc, giảm các chi phí mua thuốc, giảm chi phí khám chữa các bệnh do thuốc lá gây ra, góp phần nâng cao mức sống dân cư, đặc biệt là của các hộ nghèo; giảm gánh nặng chi phí xã hội từ ngân sách nhà nước cho ngành  y tế để điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá….

8. Biện pháp tốt nhất để hạn chế việc hút thuốc lá

Theo kết quả điều tra của nghiên cứu này thì các ý kiến cho rằng việc cấm sản xuất, kinh doanh thuốc lá, tích cực tuyên truyền, giáo dục để người dân biết về tác hại của việc hút thuốc lá, xây dựng Luật về phòng, chống tác hại thuốc lá cũng như in cảnh báo bằng hình ảnh trên bao bì của thuốc lá sẽ là những biện pháp tối ưu trong việc hạn chế việc hút thuốc lá hiện nay ở Việt Nam. Cũng có nhiều ý kiến cho rằng việc đánh thuế cao các sản phẩm thuốc lá, phạt hành chính, phạt tiền thật nặng những cá nhân hút thuốc lá nơi công cộng, tập thể vi phạm về phòng, chống tác hại thuốc lá sẽ là những biện pháp tích cực. Bên cạnh đó, cũng có nhiều ý kiến cho rằng cấm quảng cáo thuốc lá, khuyến mại, tiếp thị thuốc lá, cấm bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi, hoặc phụ nữ trong thời kỳ mang thai, hỗ trợ cá nhân hút thuốc lá/nghiện thuốc lá trong việc từ bỏ hút thuốc cũng có ích và có tác dụng.

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới thì việc in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên các bao bì sản phẩm thuốc lá và đẩy mạnh các biện pháp tuyên truyền, cung cấp các thông tin về phòng, chống tác hại thuốc lá là biện pháp giáo dục có hiệu quả, chi phí thấp mà hiện nay nhiều nước đã áp dụng. Việt Nam nên sớm có quy định này để tăng hiệu quả trong lĩnh vực phòng, chống tác hại thuốc lá.

Bảng 1: Tổng hợp ý kiến về biện pháp trong phòng, chống tác hại thuốc lá

(số thứ tự từ 1, 2, 3 … với số 1 là biện pháp tốt nhất; hoặc bỏ qua (không đánh dấu) biện pháp không cần thiết)

9. Tác động của việc in cảnh báo trên vỏ bao thuốc

Đa số (69,85%) số người được hỏi cho rằng việc in cảnh báo bằng hình ảnh những tác hại của thuốc lá/hút thuốc lá là có tác động rõ nhất và trực tiếp nhất đối với người sử dụng các sản phẩm thuốc lá. Chỉ có 11,5% cho rằng nếu in cảnh báo trên bao bì thuốc lá dòng chữ cảnh báo “Hút thuốc lá có hai cho sức khỏe” thì người sử dụng sản phẩm thuốc lá sẽ có phần e ngại trước khi quyết định có sử dụng thuốc lá hay không. Tuy nhiên cũng có tới 16,23% cho rằng việc in cảnh báo bằng hình ảnh hay bằng dòng chữ cảnh báo như hiện nay thì cũng không ảnh hưởng, không quan trọng tới việc người sử dụng có băn khoăn trước khi sử dụng các sản phẩm thuốc lá.

Câu hỏi 8: Đối với việc cảnh báo trên vỏ bao thuốc, theo Quý vị, trường hợp nào người hút thuốc lá sẽ e ngại hơn (xin chỉ chọn một phương án)?

Biểu đồ 14: Đánh giá về sự e ngại hút thuốc lá khi thấy cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá

Theo 1 nghiên cứu của Bộ Y tế năm 2009 (nghiên cứu trên 1200 người dân ở 3 tính/thành phố) thì có tới hơn 50% trong số người được hỏi cho rằng lời cảnh báo hiện tại trên vỏ bao thuốc lá chưa nói hết tác hại do thuốc lá gây ra và như vậy có tới 54% số người hút thuốc cho rằng cảnh báo sức khỏe bằng chữ như hiện nay không làm họ quan tâm tới ảnh hưởng sức khỏe của việc có hút thuốc hay không.

Theo kết quả khảo sát của Hội người tiêu dùng Việt Nam (năm 2006) cho thấy có hơn 80% người tiêu dùng ủng hộ việc in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh và chữ chiếm 50% diện tích vỏ bao.

Hiện nay, trên thế giới có 39 nước áp dụng việc in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá, trong đó trong khối ASEAN có 4 nước có in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh đó là Thái Lan, Malaixia, Philipin và Xingapore.

10. Ý kiến mở nhằm phòng chống, tác hại của thuốc lá (xin Quý vị viết ra)?

Khi được hỏi về ý kiến cá nhân làm thế nào để có thể phòng, chống tác hại của thuốc lá thì có rất nhiều ý kiến (513 ý kiến) với các giải pháp cụ thể, tuy nhiên có thể nhóm các ý kiến đó vào một số nhóm giải pháp như sau:

a) Nhóm ý kiến về giải pháp tuyên truyền:

Cần có những hình thức tuyên truyền thiết thực để từ đó họ biết được rõ nhất về tác hại của việc hút thuốc lá

Nên có nhiều thông tin hình ảnh về tác hại của thuốc lá

b) Nhóm ý kiến về thuế

Cần đánh thuế thật cao đối với mặt hàng thuốc lá

Cần tăng giá thuốc lá lên thật cao

c) Nhóm ý kiến về quảng cáo tiếp thị

Cấm quảng bá, tiếp thị, khuyến mại thuốc lá

d) Nhóm ý kiến về Kinh doanh, sản xuất thuốc lá

 Cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu thuốc lá

Cần quy hoạch có hệ thống buôn bán và sản xuất thuốc lá theo tính hệ thống chặt chẽ hơn

Có ý kiến đề nghị cấm trồng cây thuốc lá

e) Nhóm ý kiến về chính sách

Cần ban hành luật về phòng, chống tác hại thuốc lá, đưa ra các chế tài để xử lý những người hút thuốc vi phạm quy định về hút thuốc lá ở nơi công cộng, cấm hút thuốc lá, cấm hút nơi công cộng và phạt tiền, tăng thuế thuốc lá, ….

Cần thành lập, xây dựng đội ngũ phòng chống thuốc lá

f) Nhóm ý kiến về hỗ trợ người nghiện thuốc lá

Nên có các hình thức hỗ trợ người hút thuốc lá cai nghiện thuốc lá

g) Nhóm ý kiến khác

Trên vỏ bao thuốc lá cần in những hình ảnh về tác hại của thuốc lá đối với mọi người

PHẦN III

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận: Qua nghiên cứu cho thấy:

Tỷ lệ hút thuốc ở người trưởng thành ở mức cao: gần 50% số người trong nghiên cứu có hút thuốc lá. Tỷ lệ hút thuốc thụ động còn cao: hơn 53% trong nghiên cứu này, mức độ hiểu biết về hút thuốc thụ động của người dân còn hạn chế và việc tuân thủ các quy định cấm hút thuốc nơi công cộng còn thấp. Việt Nam nằm trong nhóm 15 nước có số người hút thuốc cao nhất thế giới. Việt Nam đã và đang chịu các gánh nặng bệnh tật, tử vong, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng về kinh tế và xã hội do sử dụng thuốc lá/thuốc lào. 

Tác động của in cảnh báo sức khỏe bằng chữ ít có tác dụng, nếu in cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh sẽ có tác động nhiều hơn đối với người hút thuốc lá

Quy định cấm hút thuốc lá nơi công cộng hiện nay chưa mang lại hiệu quả

Những biện pháp có tác dụng lớn nhất trong phòng, chống tác hại thuốc lá đó là ban hành chính sách toàn diện về phòng, chống tác hại thuốc lá cụ thể là Luật phòng, chống tác hại thuốc lá hoặc Luật kiểm soát thuốc lá, trên các bao bì sản phẩm thuốc lá phải in cảnh báo bằng hình ảnh, việc tuyên truyền cấn phải thực hiện tốt hơn….

Kiến nghị:

Thuốc lá là nguyên nhân gây tử vong nhưng có thể phòng tránh được do vậy cần sớm xây dựng và ban hành Luật phòng, chống tác hại thuốc lá, Luật cần có những quy định tương đối cụ thể, kèm theo với các chế tài, tạo hành lang pháp lý cho việc thực hiện phòng, chống tác hại thuốc lá một cách dễ dàng nhất.

Nên lộ trình tăng thuế thuốc lá thuốc lá phù hợp để kiềm chế có hiệu quả việc sử dụng các sản phẩm thuốc lá (theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới và kinh nghiệm của các nước thì tỷ lệ thuế trong giá bán lẻ chiếm khoảng 65%.

Nên có quy định cụ thể việc in cảnh báo sức khỏe bằng chữ và hình ảnh, có thể lên đến 50% diện tích hai mặt chính của các bao bì sản phẩm thuốc lá và sử dụng luân phiên nhiều mẫu cảnh báo cho mỗi nhãn thuốc lá để tránh việc thông điệp bị lặp đi lặp lại. Vì cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh là biện pháp giáo dục có hiệu quả nhất hiện nay.

Các quy định về cấm hút thuốc lá đã được ban hành, thực tế Việt Nam hiện nay đã có nhiều cơ quan, đơn vị thực hiện tốt. Tuy nhiên nên ban hành quy định cấm hút thuốc lá hoàn toàn tại trụ sở cơ quan, tổ chức, nơi làm việc trong nhà, cơ sở y tế, cơ sở giáo dục, trên các phương tiện giao thông công cộng, khu vui chơi và nơi công cộng khác. Vì đây là cách tốt nhất để bảo vệ mọi người tránh khỏi việc hút thuốc thụ động.

Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông về tác hại của thuốc lá, các chính sách pháp luật trong phòng, chống tác hại thuốc lá, tăng cường có các hoạt động như xây dựng các tờ rơi, áp phíc, ở các nơi công cộng, có nhiều hoạt động nhằm thu hút, tham gia của thanh thiếu niên.

Nên có chính sách hỗ trợ để bỏ thuốc đối với nghiện thuốc lá (cai nghiện thuốc lá), hình thành và mở rộng các mạng lưới, phòng tư vấn về cai nghiện thuốc lá và nên lồng ghép vào các chương trình chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng.

Việt Nam cần xây dựng một cơ chế đảm bảo cung cấp nguồn tài chính phù hợp và bền vững cho hoạt động phòng, chống tác hại thuốc lá và nâng cao sức khỏe (Quỹ về phòng, chống tác hại thuốc lá là cần thiết), trên cơ sở kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và trong khu vực, Việt Nam nên có quy định thu thêm 2% phụ phí với các sản phẩm thuốc lá để phục vụ cho các hoạt động nâng cao sức khỏe nhân dân và phòng, chống tác hại thuốc lá.

Bảng hỏi thăm dò dư luận xã hội về tác động của thuốc lá đối với sức khỏe và kinh tế

Kính thưa Quý vị!

Thuốc lá được các nhà khoa học chứng minh là thủ phạm chính gây ra bệnh ung thư phổi. Trung bình mỗi ngày ở Việt Nam có 100 người chết vì các bệnh liên quan tới thuốc lá, nhiều hơn con số tử vong do tai nạn giao thông đường bộ. Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 40.000 người chết vì các bệnh liên quan tới thuốc lá, cao hơn tổng số người chết vì tai nạn giao thông và HIV/AIDS.

Để hạn chế những tác động xấu gây ra bởi thuốc lá, theo dự kiến, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII (dự kiến diễn ra từ 20/10/2012), Quốc hội sẽ xem xét và cho ý kiến đối với Dự án Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Với mục đích tìm kiếm thông tin phục vụ các đại biểu Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội xem xét, cho ý kiến về Dự án Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá, Viện Nghiên cứu lập pháp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức điều tra xã hội học về vấn đề này. Rất mong Quý vị dành thời gian cho ý kiến vào các nội dung dưới đây.

Ý kiến đóng góp của Quý vị sẽ góp phần quan trọng giúp chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu đề ra và chỉ được sử dụng vào mục đích nghiên cứu khoa học.

Cách trả lời: Quý vị đọc kỹ các câu hỏi và lựa chọn phương án trả lời mà Quý vị cho là đúng, bằng cách điền dấu  vào ô __ tương ứng hoặc viết ra câu trả lời, đánh số 1, 2, 3… chỗ nào có yêu cầu.

Xin chân thành cảm ơn sự hợp tác của Quý vị!

1.Quý vị có hút thuốc lá không?

Có (Nếu chọn phương án này, xin hãy trả lời câu hỏi từ 1.1 đến 1.6 dưới đây)                   

Không (Xin Quý vị bỏ qua các câu hỏi từ 1.1 đến 1.6 dưới đây)

1.1. Quý vị bắt đầu hút thuốc khi ở độ tuổi nào?

Trước 18 tuổi       18 đến 30                   30 đến 50                      Trên 50

1.2. Nhãn hiệu thuốc lá mà Quý vị quen dùng là gì (xin chỉ chọn một đáp án)?

__Bastos                      __Caraven                     __Du lịch                       __Dunhill

__Marlboro                 __White Horse                  __555                           __Vinataba                   

Loại thuốc khác (xin Quý vị viết ra):…………………………………………………

………………………………………………………………………………………

1.3. Quý vị sử dụng bao nhiêu điếu thuốc mỗi ngày?

__Dưới 5 điếu   __5 đến10 điếu __10 đến 20 điếu           __Trên 20 điếu

1.4. Quý vị có cân nhắc tới việc lựa chọn địa điểm khi hút thuốc không?

__Có, tránh các nơi có thể làm phiền người khác (ví dụ: trên xe khách, phòng có trẻ con,…)

Không, chỗ nào hút thuốc cũng được

1.5. Ở những nơi có biển báo “CẤM HÚT THUỐC”, Quý vị có hút thuốc không?

__Có                             __Không                       __Cũng còn tùy

Quý vị có mắc căn bệnh nào liên quan tới thuốc lá không?

__Có                             __Không                       __Không rõ, chưa đi khám bao giờ

2. Trong gia đình Quý vị, có người nào hút thuốc lá không?

__Có                 __Không

3. Theo Quý vị, việc một người hút thuốc lá có làm ảnh hưởng tới người xung quanh không?

__Có                 __Không           __Không rõ, không cần biết

4. Theo Quý vị, chi phí cho việc mua thuốc lá có phải là một khoản tiền đáng kể không?

__Có                 __Không           __Không để ý lắm

5. Quý vị có cho rằng hút thuốc lá có hại cho sức khỏe không?

__Có (Nếu chọn phương án này, xin Quý vị trả lời câu hỏi 5.1 bên dưới)

__Không

__Không rõ lắm, không quan tâm

5.1. Quý vị có thể nói rõ hơn, tác hại mà thuốc lá có thể gây ra đối với sức khỏe (xin Quý vị viết ra)?

…………………………………………………………...………………………

…………………………………………………………...………………………

…………………………………………………………...………………………

6. Quý vị có biết là có các quy định cấm hút thuốc lá nơi công cộng không?

__ Có (Nếu chọn phương án này, xin Quý vị trả lời câu hỏi 6.1 bên dưới)

__ Không, chưa bao giờ nghe thấy có quy định cấm

__Không rõ lắm, không quan tâm

6.1. Quý vị đánh giá thế nào về việc thực thi quy định cấm hút thuốc lá nơi công cộng?

__Hiệu quả                    __Không hiệu quả                      __Khó đánh giá

7. Theo Quý vị, đâu là biện pháp tốt nhất để hạn chế việc hút thuốc lá (xin đánh số thứ tự từ 1, 2, 3 … với số 1 là biện pháp tốt nhất; hoặc bỏ qua (không đánh dấu) biện pháp mà Quý vị cho là không cần thiết) ?

__ In hình ảnh cảnh báo trên vỏ bao thuốc lá

__ Phạt tiền thật nặng người hút thuốc lá nơi công cộng

__ Đánh thuế thật cao đối với mặt hàng thuốc lá

__ Cấm sản xuất, kinh doanh thuốc lá

__Hỗ trợ người nghiện thuốc lá cai nghiện thuốc

__Cần phải ban hành Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá

__Tích cực tuyên truyền, giáo dục để người dân hiểu biết về tác hại của thuốc lá

__ Thành lập Quỹ tiền dành cho các công tác phòng, chống tác hại thuốc lá

__Cần có chính sách hỗ trợ đối với người nông dân để họ từ bỏ việc trồng cây thuốc lá

__Cấm bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi, hoặc phụ nữ trong thời kỳ mang thai

__Cấm quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị thuốc lá

8. Đối với việc cảnh báo trên vỏ bao thuốc, theo Quý vị, trường hợp nào người hút thuốc lá sẽ e ngại hơn (xin chỉ chọn một phương án)?

__ Trên vỏ bao thuốc có in hình ảnh cảnh báo tác hại của thuốc lá

__ Trên vỏ bao thuốc có in dòng chữ cảnh báo “Hút thuốc lá có hai cho sức khỏe”

__Không quan trọng, không để ý lắm

9. Quý vị có thêm ý kiến gì không, để phòng chống, tác hại của thuốc lá (xin Quý vị viết ra)?

………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………

………………………………………………………………………………………………

10. Xin đánh dấu giới tính, lứa tuổi của Quý vị?

Giới tính: __ Nam                      __ Nữ

Lứa tuổi: __ Dưới 18                  __18 đến 30                  __ 30 đến 50                 __ Trên 50

11.        Xin đánh dấu khu vực sinh sống, trình độ học vấn của Quý vị?

Khu vực: __ Nông thôn  __ Thành phố                __Ngoại ô thành phố

Trình độ: __ PTTH                     __Cao đẳng, ĐH            __ Thạc sĩ                     __ Tiến sĩ

Một lần nữa, chúng tôi chân thành cảm ơn sự hợp tác của Quý vị!

Nguồn tin: Trung tâm nghiên cứu khoa học - Viện Nghiên cứu Lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống