Nghiên cứu dư luận xã hội phục vụ công tác thẩm tra dự án luật, pháp lệnh của Hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội

18/09/2007
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử , Dư luận xã hội - Nguyện vọng của dân thuộc lĩnh vực tinh thần xã hội, nó phản ánh những giá trị thực tế về sự tồn tại, suy thoái và phát triển xã hội trên nền tảng cảm thụ bản chất tự nhiên về tính lợi ích của con người. Dự luận xã hội còn phản ánh trạng thái của ý thức xã hội, bao gồm thái độ của con người đối với các sự kiện, biến động, yêu cầu của hiện thực xã hội đối với các hoạt động chính trị, kinh tế-xã hội trên những mức độ động thái phát triển khác nhau.

1- Một số vấn đề về lý luận và phương pháp luận

Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và lịch sử , Dư luận xã hội[1]- Nguyện vọng của dân thuộc lĩnh vực tinh thần xã hội, nó phản ánh những giá trị thực tế về sự tồn tại, suy thoái và phát triển xã hội trên nền tảng cảm thụ bản chất tự nhiên về tính lợi ích của con người. Dự luận xã hội còn phản ánh trạng thái của ý thức xã hội, bao gồm thái độ của con người đối với các sự kiện, biến động, yêu cầu của hiện thực xã hội đối với các hoạt động chính trị, kinh tế-xã hội trên những mức độ động thái phát triển khác nhau.

Vào những năm đầu của thế kỷ 18, J. Rút Xô, (có thể xem như một trong những người khai sáng thế kỷ 18), trong tác phẩm "Khế ước xã hội”, Ông thể hiện nhận thức của mình vì vai trò quan trọng của dư luận xã hội và ý thức dân chúng. Ông nhận định: Các điều luật của Nhà nước cần phải phù hợp với nguyện vọng và ý chí của nhân dân lao động[2], giá trị nhân văn của tác phẩm "khế ước xã hội" (1726) về phương diện nhận thức của nhân loại có bước thay đổi đáng kể, tạo nên những tác động làm hạn chế và chấm dứt quyền lực thiêng liêng và vô hạn của Vua Chúa, khẳng định rõ chủ quyền của nhân dân. Nhà nước được xem như là người đại diện đích thực của quốc dân. Trong đó các quyền và lợi ích của dân được bảo vệ như mọi giá trị xã hội và bảo đảm tính pháp lý.

Trong tác phẩm nổi tiếng "Triết học pháp quyền" Hê ghen nhìn nhận vấn đề dư luận xã hội trong mối quan hệ với việc phân tích thể chế Nhà nước, có động thái uyển chuyển hơn. Mặc dù, là người bảo thủ cho ý thức bám giữ nền dân chủ hùng mạnh, ông vẫn khẳng định: dư luận xã hội có sức mạnh trong mỗi thời đại, bởi vì nó mở cho con người khả năng thổ lộ và bảo vệ ý kiến chủ quan của mình đối với lợi ích và cái chung. Thêm vào nữa, Hê ghen còn đánh giá vấn đề và cơ sở chủ yếu của việc hình thành dư luận xã hội về một vấn đề, sự kiện xã hội cuộc sống đúng, hay sai, cần có và thông qua trao đổi thảo luận. Trong quá trình trao đổi thảo luận có khả năng cho phép "tách bạch" những ý kiến thống nhất và có ý kiến riêng. Đây cũng là cơ hội góp phần làm tăng “tỷ trọng” lẽ phải, hợp lý của từng ý kiến. Từ mối quan hệ này, đã tạo nên cho việc nghiên cứu dư luận (về một hiện tượng xã hội cụ thể) có những nhận thức rất "tĩnh" sâu sắc, trong trạng thái “động” của tính phức tạp đa dạng của tư duy, ý kiến và dư luận xã hội.

Chính vì lẽ đó, khi đánh giá ý nghĩa hiệu quả của các công trình nghiên cứu dư luân xã hội, cần bắt đầu tạo lập hệ tư tưởng, nhận thức có tính hợp lý, có khả năng phán xét đúng đắn về vai trò tích cực, tiêu cực của cái yếu tố: truyền thống, thói quen tâm lý, ý tưởng, và đặc biệt về vai trò của quần chúng nhân dân trong đời sống chính trị, kinh tế-xã hội.

C. Mác, và F. Ăng ghen trong các tác phẩm kinh điển của mình, khẳng định vai trò và vị trí to lớn của dư luận xã hội, được xem như một động lực phát triển xã hội. Khi bình luận vai trò dư luận xã hội như là dư luận của nhân dân, Ông viết : "Các đại biểu thường xuyên kêu gọi sự ủng hộ của dư luận nhân dân và đem đến cho dư luận nguồn phát ngôn ý kiến thực sự của mình[3]. F. Ăng ghen nhận định:"Sự tiến bộ to lớn trong dư luận xã hội là tiền đề của các biến đổi xã hội”. Khi nghiên cứu về vai trò của dư luận xã hội trong các hoạt động điều hành, tổ chức và quản lý kinh tế-xã hội, V.I Lê nin khẳng định:"Chúng ta chỉ có thể quản lý được, khi nào chúng ta thể hiện đúng những gì mà nhân dân ý thức"[4]. và “Để chiến thắng, cách mạng cần phải dựa vào sức mạnh vật chất và tinh thần của dư luận xã hội"[5].

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu việc hình thành dư luận xã hội cần chú ý đến mối quan hệ phụ thuộc vào hệ thống các yếu tố khách quan và chủ quan về thực trạng kinh tế, chính trị xã hội, đời sống và hệ thông pháp luật. Do đó, chúng ta không thấy ngạc nhiên tự bản thân dư luận xã hội không những chỉ bộc lộ sự khác biệt về nhận thức các giá trị tư lợi ích vật chất, tinh thần, mà còn là sự phản ánh, "bộc lộ" khách quan và trình độ nhận thức, khả năng ứng sử, thói quen, nếp sống (nhiều khi không giống nhau) về những lợi ích của chính bản thân, đối tượng.

Do đó, dư luận xã hội là sự thể hiện tâm trạng xã hội, biểu hiện qua đánh giá của các nhóm xã hội lớn, của nhiều tầng lớp nhân dân nói chung về các biểu hiện, nhằm đại diện cho lợi ích xã hội cấp bách, dựa trên cơ sở các quan hệ xã hội đang tồn tại.

Qua các quan niệm trên, ta có thể nhận thấy: sự phản ánh thực tế trong dư luận xã hội về một sự kiện nhất định của cuộc sống, phải được đánh giá thông qua thái độ, hành vi ứng xử cuả con người. Từ nhận thức đó, ngay từ khi dư luận xã hội xuất hiện, hình thành và tác động, thì việc đầu tiên cần tập hợp các tranh luận để đánh giá bằng các mối quan hệ của các nhóm xã hội (với hành vi và hoạt động của từng cá thể riêng biệt). Động thái hình thành của bất kỳ một cuộc tranh luận tập thể nào về các hiện tượng xã hội, được xem như mầm mống, hay biểu hiện của dư luận xã hội. Trước biểu hiện đó cần nghiêm túc nghiên cứu, phải có sự đánh giá "âm tính", hay "dương tính" về hiện tượng đó. Đặc biệt, không phải ngẫu nhiên các mầm mống và sự biểu hiện của dư luận xã hội trở thành làn sóng quan điểm, nhận thức đúng hoặc chưa thật đúng đắn về một vài hiện tượng cá biệt xã hội.

Trên thực tế, để hình thành dư luận xã hội, các hiện tượng, sự kiện, ý nguyện của các tầng lớp nhân dân về một vấn đề, hay nội dung nhất định... phải trải qua các giai đoạn. Ta có thể hình tượng hoá các giai đoạn hình thành của nó theo sơ đồ 1

 

Sơ đồ 1  Quá trình hình thành dư luận xã hội.

 

Quá trình hình thành dư luận xã hội trước một sự kiện hoặc hiện tượng xã hội thường qua các bước sau:

Bước 1: Các cá nhân, các nhóm xã hội tiếp xúc, làm quen nghiên cứu tài liệu, từng bước tạo nên cảm giác ban đầu, có trao đổi thông tin về hiện tượng, sự kiện xã hội.

Bước 2: Các nhóm cá nhân trao đổi bàn luận về các ý kiến xung quanh đối tượng mà dư luận xã hội, ở thời điểm này ý kiến cá nhân chuyển đổi dần từ ý thức cá nhân sang ý thức xã hội.

Bước 3: Các ý kiến khác nhau được thống nhất lại trên quan điểm cơ bản để hình thành đúng sự đánh giá chung và các hiện tượng xã hội, các quá trình đánh giá những thoả mãn sự nhận định của đa số cộng đồng người.

Bước 4: Từ kết quả đánh giá dẫn đến sự phán xét về hành động, hiện tượng, mức độ, yêu cầu... và rút ra các kiến nghị trong hoạt động thực tiễn đời sống xã hội.

Từ đó, ta thấy có ba giai đoạn phát triển cơ bản của dư luận xã hội:

Giai đoạn 1: Hình thành dư luận xã hội.

Giai đoạn 2: Thể hiện dư luận trên các phương tiện thông tin qua kết quả nghiên cứu xã hội học.

Giai đoạn 3: Kết quả tác động của dư luận xã hội tới hệ thống pháp luật, chính sách, định hướng chính trị, kinh tế-xã hội, nếp sống, nhân thức... trên các mặt hoạt động xã hội.

 

Sơ đồ 2: Các giai đoạn phát triển của dư luận xã hội.

 

Cần phân biệt “hoá” các vấn đề liên qua đến hình thành dư luận xã hội và các bước phát triển về "dương tính", thì mới có khả năng khai thác các giá trị xã hội. Dư luận xã hội không phải là sự tập hợp "thô bạo" các ý kiến cụ thể, mà là sự thể hiện sâu sắc qua việc giữ lại (tích tụ) cái chung nhất đặc trưng hơn, sự lặp lại, lặp lại có tính quy luật của số đông các ý kiến cá thể. Khi đó, ý kiến cá thể là tế bào của dư luận xã hội, song không phải là dư luận xã hội. Chúng ta cần tránh "mặc cảm" với các ý kiến "ngược" dòng chảy tư duy nhận thức của một cá thể nào đó. Ngược lại, ý kiến cá nhân (ở nhiều trường hợp) có thể nhanh chóng trở thành dư luận xã hội, khi nó thể hiện mối quan tâm chung, sự tổng hợp và đánh giá chung của toàn xã hội về một hiện tượng, sự kiện xã hội nào đó.

Do đó, nghiên cứu dư luận xã hội, chính là bằng các phương pháp khoa khọc để tìm những giá trị tinh thần và thực tế của bản chất sự kiện, hiện tượng chính trị xã hội và các vấn đề liên quan đến: cấu trúc, động thái, mầm mống, xu thế xã hội, khả năng dự báo, tính đồng tình, tính khoan nhượng, dung hoà.... tính mục đích và lợi ích cá nhân và xã hội. Ở các điểm giao nhau tự nhiên của ý thức cá nhân và ý thức xã hội sẽ hình thành "mầm mống" dư luận xã hội mới theo chiều hướng “kiên định” thể hiện chức năng cơ bản của mình, có thể đó là các chức năng sau:

Một là, Chức năng góp phần điều hoà các quan hệ xã hội.

Hai là, Chức năng điều tra, xem xét - thẩm tra[6] kiểm soát... thông qua sự đánh giá của quần chúng và các hiện tượng, ý kiến, sự kiện... giúp ta có những thông tin tổng thể về thực trạng, tính hợp lý, nguyên nhân bất cập... mỗi một sự kiện xã hội riêng lẻ, hoặc tinh thần xã hội nói chung có liên quan đến các mặt điều hành, quản lý xã hội.

Ba là, Chức năng xây dựng, củng cố và giáo dục lòng tin, giúp con người biết lựa chọn các giải pháp ứng xử hợp lý, duy trì các khuôn mẫu hành vi, sao cho phù hợp với chuẩn mực đạo lý, truyền thống văn hoá chung.

Bốn là, Chức năng "tư vấn" thông qua quá trình phân tích,, dự báo khoa học sâu sắc, góp phần rút ngắn thời gian "mò mẫm" tìm kiếm các ý tưởng "cao xa", trong khi khả năng xem xét các giá trị xã hội của dư luận quần chúng còn nhiều hạn chế...

Từ bốn chức năng trên cho ta điều kiện xem xét sâu sắc và hợp lý hơn trong quá trình xác  định ý nghĩa xã hội của việc nghiên cứu dư luận xã hội. ý nghĩa đó có thể bao gồm:

Một là, Dư luận xã hội như là công cụ để thẩm định và mở rộng quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng nền dân chủ thực sự và trực tiếp.

Hai là, Dư luận xã hội góp phần trực tiếp làm tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các đoàn thể nhân dân.

Ba là, Dư luận xã hội góp phần đưa trình độ quản lý xã hội có chất lượng và hiệu quả dựa trên những phạm vi và cơ sở thành tựu các công trình nghiên cứu khoa học xã hội - xã  hội học.

Dư luận xã hội chỉ được xác định là cơ sở, nền tảng thực tiễn của tinh thần xã hội bằng các phương pháp  xã hội  học, như: Trưng cầu ý kiến bằng phiếu (câu hỏi), phỏng vấn, toạ đàm, quan sát, qua thông tin đại chúng... (vấn đề này sẽ được nêu rõ ở phần sau).

 

2- Một số nét về hoạt động nghiên cứu dư luận xã hội trên thế giới

Theo các tài liệu lịch sử, cuộc trưng cầu ý kiến đầu tiên được tiến hành vào đầu thế kỷ 20  đây là sáng kiến đầu tay của tạp chí New York Herald/Người đưa tin/tổ chức vào năm 1904, đã thu thập ý kiến của hơn 300 nghìn người dân New York. Tiếp đó, là cuộc trưng cầu ý kiến quy mô rộng lớn hơn, do tạp chí Literacy Digest/Bình luận văn học/tổ chức từ 1906 đến 1920, bằng cách gửi bảng câu hỏi (an-ket) đến khoảng 11 triệu người, dựa vào danh bạ điện thoại...

Do yêu cầu nghiên cứu dư luận ngày càng trở nên cần thiết và yêu cầu của xã hội đòi hỏi dịch vụ tư vấn cần phát triển, đã xuất hiện nhiều Viện, cơ quan tổ chức nghiên cứu dư luận ở các nước, kể cả các tổ chức tư nhân. Ở Mỹ, cơ quan có uy tín lớn nhất là cơ quan nghiên cứu dư luận xã hội, tên gọi Viện Gallup. Viện có chi nhánh ở rất nhiều nước trên thế giới, tiếp đó là Viện Harris, Viện nghiên cứu dư luận Trường  Đại học Chicago, Trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội mang tên Râupơ.. ở Anh có Viện nghiên cứu dư luận nước Anh; ở Pháp có Viện Dư luận xã hội Pháp, Viện SOFRES, Viện CSA... ở Đức có Viện Vickert;

Ở Nga có trung tâm nghiên cứu dư luận toàn Liên bang (Nga) Trung tâm nghiên cứu chính trị xã hội Matxcơva...

Việc nghiên cứu dư luận đã vượt phạm vi quốc gia và hình thành các tổ chức quốc tế. Từ năm 1948 những năm sau Đại chiến Thế giới lần thứ II) đã có Hội Tổ chức Quốc tế nghiên cứu dư luận vơí 200 hội viên từ 30 nước đại diện, năm 1962 trung tâm nghiên cứu dư luận Đông Nam á đã được tổ chức ở Băng Kok. Đồng thời giữa các Viện dư luận các nước cũng ngày càng có những quan hệ chặt chẽ về mặt nghiệp vụ, trao đổi thông tin.

Qua các tài liệu lịch sử về các kết quả điều tra dư luận xã hội tập trung nhằm cung cấp thông tin xã hội trên các lĩnh vực đạo đức, pháp luật, chính trị kinh tế - xã hội. Các nhà nghiên cứu kinh tế-xã hội, hoạt động chính trị quan tâm chú ý khai thác các giá trị thông tin này để đưa các giá trị kinh tế góp phần phát triển chính trị-xã hội. Ví dụ: Để chuẩn bị cho hai bài diễn văn tối ngày 23/1/1996 của Tổng thống B.Clintơn dài hơn 1 tiếng đồng hồ trước cử tri Mỹ, các cơ quan giúp việc đã tiến hành nhiều cuộc thăm dò dư luận nhằm sớm xác định xem cử tri Mỹ đang quan tâm nhiều nhất đền những vấn đề gì. ở Pháp, theo kết quả cuộc thăm dò dư luận do Viện SOFRES tiến hành đăng trên tạp chí "Le Figaro" ngày 4/7/1996 cho thấy uy tín của tổng thống J.Chiraque và thủ tướng A.Jupper - sau khi đã giữ được ổn định và có tăng chút ít trong cuộc thăm dò 6 tháng trước, đến đây lại đã bắt đầu giảm...

Sự kiện Đảng cộng sản Liên bang Nga có số lượng cử tri ủng hộ nhiều nhất, chính là do Quỹ hệ thống bầu cử Quốc tế (MFIS) phối hợp với các nhà xã hội học Mỹ và Nga tiến hành thăm dò dư luận theo phương pháp của Trường Đại học Michigan (Mỹ) công bố Matxcơva vào cuối tháng 9/1995... Cho mãi đến ngày 5/5/1996, trước ngày bầu cử Tổng thống chính thức chỉ hơn một tháng, cơ quan RAMIR - một chi nhánh của Viện thăm dò dư luận Gallup, vẫn cho biết đương kim Tổng thống B. Enxin và Chủ tịch Đảng Cộng sản Liên bang Nga G.Diuganôp đều giành được 28% số phiếu ủng hộ[7].

Nền kinh tế thị trường phát triển ở một mức độ sôi động đặc biệt và có sức thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu dư luận xã hội phục vụ cho công việc kinh doanh khai thác và tiếp thị. Khi đó các kết quả nghiên cứu có thiên hướng tập trung vào việc giải quyết nhu cầu thị trường và các vấn đề kinh tế - xã hội liên quan. Các Viện nghiên cứu dư luận xã hội ở một số nước đã tập trung vào các vấn đề đòi hỏi của nền kinh tế thị trường. Ví dụ Viện Gallúp phối hợp với Công ty quốc tế Bôzell gần đây đã tổ chức thăm dò dư luận khách hàng thế giới về chất lượng xuất khẩu của các nước[8].

 

3- Xã hội học - nghiên cứu dư luận xã hội và quá trình xây dựng pháp luật.

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa mọi mặt hoạt động và vấn đề tồn tại xã hội. V.I. Lê nin nói: Không phải  xã hội tồn tại trên cơ sở của pháp luật, mà ngược lại pháp luật phải dựa vào xã hội[9]. Do đó, hệ tư tưởng chính trị; ý thức và trình độ văn hoá pháp lý của đại bộ phận nhân dân; những thiết chế chính trị, phong tục, truyền thống  tôn trọng luật lệ... là các nhân tố tích cực để hình thành hệ thống pháp luật, tư duy và hành động xã hội đúng đắn và phù hợp với quy luật tự nhiên, khách quan.

Hệ thống pháp luật là một trong những điều kiện đảm bảo và quan trọng đối với việc điều hoà các quan hệ xã hội. Đây cũng là một phương tiện có hiệu quả để điều hoà và quản lý xã hội trong điều kiện nền kinh tế-xã hội đổi mới và phát triển như hiện nay ở nước ta.

Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu vai trò điều hoà của pháp luật đối với các quan hệ xã hội và ngược lại, đòi hỏi phải tiến hành tổ chức nghiên cứu xã hội học - phản ánh của dư luận xã hội trên phạm vi và mối quan hệ có tính tất yếu xã hội dựa trên các quy phạm pháp luật, chức năng điều hoà mà các quy phạm đó, cũng như sự tác động của các quy phạm pháp luật trong mọi mặt hoạt động xã hội, ảnh hưởng của nó đối với việc hoàn thiện quan hệ xã hội. Đặc biệt là sự tác động trở lại của nhận thức, ý thức xã hội, sự thay đổi trong quan hệ xã hội đối với việc hình thành nội dung, phạm vi, hình thức các quy phạm pháp luật khác. Như vậy, việc đưa các công trình nghiên cứu xã hội học qua kết quả phân tích dư luận xã hội,chính là việc tạo ra các cơ chế mới để chuyển các nhân tố xã hội thành các quy phạm pháp luật, cũng như cơ chế tác động của dư luận xã hội điều chỉnh việc hình thành các nội dung, phạm vi điều chỉnh, đối tượng tác động... của mỗi văn bản pháp luật cụ thể. Hay nói cách khác đây là sự thể hiện mối quan hệ tương tác giữa các quy phạm pháp luật với các quan hệ xã hội ở mức độ cao hơn trên nền tảng có tính xã hội hoá.

Thông qua các mặt của dư luận xã hội ta có thể xem xét việc thực hiện quy phạm pháp luật trong hành vi của chủ thể pháp luật ở các cấp khác nhau: như hành vi của xã hội nói chung, của các tập thể, tổ chức xã hội và của mỗi cá nhân. Từ dư luận xã hội về một quy phạm pháp luật, hay một nội dung điều luật cụ thể, ta có thể thấy bức tranh cụ thể hơn và sự tác động của các quy phạm pháp luật đối với dân cư nói chung, đối với tập thể, tổ chức xã hội và các dân tộc và cá nhân nói riêng.

Mặt khác, qua nghiên cứu dư luận xã hội về các vấn đề pháp luật không chỉ cho ta biết về mối quan tâm của xã hội đến vấn đề quy phạm pháp luật tồn tại như thế nào? đi vào cuộc sống ra sao? các quan hệ pháp luật và nhu cầu xã hội hình thành và tồn tại ra sao? tính chất phù hợp, mức độ và mục đích mà pháp luật đề ra xã hội đã thể hiện, "thẩm thấu" và "nhập cuộc" đến mức độ nào? Và ngược lại, dư luận xã hội về các vấn đề pháp luật được hình thành như thế nào? cụ thể, mức độ ảnh hưởng của các quy phạm pháp luật đến quan hệ xã hội phụ thuộc vào cái gì?

Trong quá trình xây dựng pháp luật, chúng ta chỉ chọn một khẩu - thẩm tra - dự án luật - cho thấy: đây là một bước hết sức quan trọng, có tính thuyết phục rất cao, để việc thông qua dự án luật tại kỳ họp Quốc hội được nâng cao chất lượng, các giá trị điều chỉnh hợp lý đến mức độ nào? chính là được xác định từ chất lượng của khâu này.

Do đó, trong khâu thẩm tra các dự án luật của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban cần bổ sung, nghiên cứu vấn đề gì? để góp phần nâng cao chất lượng thẩm tra. Theo chúng tôi, ngoài việc cần duy trì các quy trình có tính truyền thống của quá trình thẩm tra dự án luật, cần tổ chức có hệ thống, quy mô công tác nghiên cứu dư luận xã hội có liên quan đến dự án luật. Qua đó, để xác định các thông tin thu được góp phần làm nền tảng cho các báo cáo thẩm tra có cơ sở nghiên cứu, không chỉ mang giá trị định tính, mà còn có các kết quả khác trong quá trình ứng dụng phương pháp nghiên cứu định lượng.

 

4- Một số phương pháp và vấn đề tổ chức nghiên cứu dư luận xã hội phục vụ công tác thẩm tra dự án luật

Trong quá trình triển khai các  hướng nghiên cứu về dư luận xã hội trước một sự kiện một hiện tượng cụ thể (như phục vụ công tác thẩm tra dự án luật), các nhà nghiên cứu xã hội học thường áp dụng một số phương pháp cơ bản sau:

Phương pháp Ankét (bảng câu hỏi)

Phương pháp phỏng vấn

Một số phương pháp khác

Phương pháp phân tích tư liệu

Phương pháp định tính

Phương pháp định lượng

Phương pháp chuyên gia

Phương pháp hội thảo, hội nghị

Trước khi nghiên cứu các phương pháp nghiên cứu dư luận, ta cần hiểu rõ hơn những khái niệm thường gặp trong quá trình tiến hành các vấn đề cần nghiên cứu qua dư luận xã hội. Thăm dò dư luận là một phương pháp nghiên cứu của xã hội hoặc được dùng để thu thập ý kiến dư luận về một vấn đề, sự kiện hoặc hiện tượng xã hội, tự nhiên. Ta thường gặp hai khái niệm cơ bản sau:

Thăm dò dư luận, thăm dò ý kiến có thể được hiểu đồng nghĩa (Research Opinion) - hay thăm dò ý kiến - dự luận.

Dư luận biểu hiện ra thành lời, có ý kiến không chỉ biểu hiện thành lời, mà ở dưới dạng chính kiến, quan điểm.

Điều tra dư luận là một phương pháp thu thập những thông tin về dư luận xã  hội bằng cách trưng cầu ý kiến, phân tích tư liệu, quan sát... và một hiện tượng, sự kiện xã hội.

 

Sơ đồ 3. Mối quan hệ tác động của một số khái niệm trên

 

Trên thực tế trong quá trình thực thi nghiên cứu dư luận xã hội có thể gặp phải sự nhầm lẫn: điều tra dư luận là điều tra xã hội học và ngược lại. Vì lẽ:

Điều tra xã hội học là phương pháp thu thập thông tin về các hiện tượng và quá trình phát triển xã hội trong phạm vi không gian và thời gian cụ thể, nhằm phân tích, đưa ra các kiên nghị đối với công tác quản lý xã hội, do đó, có quy mô rộng lớn, nội dung phong phú.

Điều tra dư luận xã hội (thăm dò dư luận xã hội) với mục đích để biết về ý kiến, quan điểm, thái độ, cách ứng xử của các thành viên... Từ đó, ta có thể tập hợp thông tin định lượng để thấy đâu là vấn đề có thể  đồng tình, không đồng tình hay không tỏ thái độ... qua trả lời các câu hỏi mở giúp người trả lời tự do đề xuất, tạo nên môi trường dân chủ trực tiếp cho từng cá thể xã hội:

 

 

Sơ đồ 4: Các loại hình điều tra (thăm dò) trong quá trình nghiên cứu các vấn đề xã hội (hiện tượng, sự kiện).

 

1- Phương pháp dùng phiếu trưng cầu ý kiến (Anket)

Trưng cầu ý  kiến là một phương pháp chủ yếu để điều tra, thăm dò dư luận xã hội về một sự kiện, hiện tượng cụ thể, có tính điển hình và phổ thông. Trưng cầu ý kiến có thể được tiến hành trực tiếp phỏng vấn, hoặc gián tiếp qua bảng câu hỏi (an-ket).

Trưng cầu ý kiến đã được thực hiện dưới hình thức nào? (gián tiếp hoặc trực tiếp, thì hệ thống câu hỏi được xác định như một  công cụ rất “tinh vi”, “tế nhị”, trí tuệ... của quá trình thực hiện nghiên cứu dư luận xã hội.

Sơ đồ 5. Cấu trúc các loại hình câu hỏi để thực hiện trưng cầu ý kiến.




 

 

Sơ đồ 6. Các loại phỏng vấn bằng phiếu (ankét)



2- Phương pháp phỏng vấn :

 

Sơ đồ 7 : Các loại hình phỏng vấn

 

3- Các phương pháp khác.

Trong quá trình nghiên cứu dư luận xã hội với mục đích nhằm thu thập thông tin xác thực với bản chất hiện tại hay sự kiện xã hội, người ta thường sử dụng tổng hợp các phương pháp khác nhau. Song để đánh giá tính chất xã hội của ý kiến, dư luận, thường áp dụng hai phương pháp; định tính và định lượng.

Phương pháp định tính: tổng hợp và phân tích, tài liệu, đặc biệt là các phương pháp phân tích theo cấu trúc đa dạng và chiều sâu, để tìm ra những nguyên nhân sâu sắc, những nội dung tiềm ẩn của hình tượng, sự kiện, thể hiện qua tài liệu. Nội dung và các hướng phân tích là loại hình tài liệu khác nhau; phóng sự, bài phát biểu..., độ tin cậy, tính chất xác thực của những tư liệu, sự kiện, ảnh hưởng giá trị xã hội, lịch sử... các kết luận rút ra về các sự kiện, các nhận định đánh giá... Những phân tích về nội dung về tính chất pháp lý cần phối hợp phân tích về phạm vi diễn biến hình thành cơ sở tâm lý cả mối quan hệ xã hội, chính trị khác.

Phương pháp định lượng: được sử dụng để phân tích về tính quy mô, sâu sắc của tài liệu, nhằm lượng hoá những nội dung, ý nghĩa xã hội... có thể lượng hoá. Ví dụ: Số lượng phiếu điều tra tham khảo số tài liệu, số lần xin ý kiến các chuyên gia, số lượng các nhà khoa học... Để đánh giá các vấn đề chính trị, xã hội thì có số lượng đơn vị, số người đồng tình ký tên, tham gia biểu tình, các mục tiêu thúc đẩy (lợi ích kinh tế, xã hội) các phương thức sử dụng (phương tiện tuyên truyền, về số lần lấy ý kiến...)

Tuy vậy, do đặc điểm của phương pháp định lượng là tính phong phú, chiều sâu của nội dung cần có sự phối hợp với phương pháp định tính để có khả năng phân tích và dự báo các vấn đề toàn diện và sâu sắc hơn.

Phương pháp định tính và định lượng triển khai theo hai chiều hướng khác nhau, nhưng không loại trừ lãn nhau mà lại bổ sung cho nhau nhằm góp phần giải quyết các mục tiêu nghiên cứu để thu thập được những thông tin trung thực, tin cậy.

 

4- Tổ chức nghiên cứu dự luận xã hội phục vụ công tác thẩm tra các dự án luật

Sơ đồ 8: Quá trình hình thành và hoàn thiện báo cáo thẩm tra dự án luật của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội

 

5. Kết luận

Để nội dung báo cáo thẩm tra các dự án luật của HĐDT và các Uỷ ban của Quốc hội có sức thuyết phục hơn, có lẽ một trong những “giải” thông tin tham khảo cần thiết, đó là những kết quả nghiên cứu tìm hiểu dư luận xã hội về các vấn đề liên quan đến dự án luật.

Tổ chức nghiên cứu dư luận xã hội phục vụ công tác thẩm tra các dự án luật là vấn đề chúng ta đã làm (vào các năm 1992, 1993, 1996, 1997). Tuy nhiên, cần xác định tính cần thiết của vấn đề này lên một bước mới có ý nghĩa pháp lý và xã hội hơn, cụ thể là:

Tổ chức nghiên cứu dư luận xã hội trong quá trình xây dựng pháp luật nói chung và báo cáo thẩm tra dự án luật nói riêng được xác định như một quy trình cần thiết, nhằm góp phần thể hiện tính biện chứng trong quá trình hình thành và nâng cao ý thức pháp luật và trình độ văn hoá pháp lý chung cho toàn xã hội.

Đây là một mặt hoạt động của lĩnh vực xã hội học góp phần thể hiện tính khách quan của nội dung và hình thức khái niệm “dân chủ trực tiếp” trong hoàn cảnh hiện nay - chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN.

Nghiên cứu tìm hiểu dư luận xã hội ngay từ khâu tổ chức dự thảo luật và thẩm tra các dự án luật là một bước cần thiết. Có thể nói, đây là việc làm có ý nghĩa như: các nhà lập pháp đã “trải chiếu hoa” để luật thực sự đi vào cuộc sống xã hội. Việc này không chỉ là một thao tác kỹ thuật lập pháp, mà còn có ý nghĩa là một hoạt động của lĩnh vực khoa học chính trị.

Hình thành hệ thống sơ đồ minh hoạ là vấn đề khó, vì ngôn ngữ cầu trúc và mối quan hệ sơ đồ có những quy tắc riêng. Thêm vào nữa, để tạo sự phù hợp với ngôn ngữ pháp lý và thực tiễn xây dựng pháp luật của Quốc hội lại cũng là việc không phải dễ dàng. Ngôn ngữ và cấu trúc của sơ đồ nêu trên rất có thể mang nặng tính ước lệ và dự báo “gần”. Vì vậy, cần có bước sửa đổi, điều chỉnh hợp lý hơn là tất yếu và khách quan.

 



[1] Thuật ngữ dư luận xã hội hình thành tới hai từ public (cộng đồng) và opinion (ý kiến). Những nhà nghiên cứu lịch sử phát triển xã hội học public dư luận xã hội cho rằng: Nhà hoạt động xã hội người Anh Jonxonberi là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này vào năm 1159, đến thế kỷ 18, thuật ngữ này được mọi người công nhận.

[2] Mai Quỳnh Nam. Dư luận xã hội - mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu. T/C xã hội học. H N-1-1995 -T.3-8

[3] C.Mác và F. Ăng ghen. Toàn tập, T18. T.161 (tiếng Nga)

[4] Mai Quỳnh Nam sách đã dẫn.T.4.

[5] PTS. Lưu Minh Trị - Một số vấn đề về công tác tư tưởng và nghiên cứu dư luận xã hội. NXB "CT - Quốc gia". Hà Nội. 1997. Trang 150.

[6] Thẩm tra - Điều tra, xem xét lại có đúng, có chính xác không.

Từ điển tiếng Việt, NXB Trung tâm ngôn ngữ. Hà Nội, 1992, in lần 2. Trang 906

[7] Pgs.Ts. Từ Điển. Điều tra thăm dò DLXH. Nxb. Thống Kê. 1996. Tr.13-16

[8] Pgs.Ts. Từ Điển. Điều tra thăm dò DLXH. Nxb. Thống Kê. 1996. Tr.13-16

[9] S.V. Bobotov. Phương pháp xã hội học của pháp luật. Tạp chí Luật Học số 2/1984. Tr.44

Ts. Vũ Đào Hùng

Nguồn: Trung tâm Thông tin-Thư viện và Nghiên cứu khoa học - Văn phòng Quốc hội

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống