Cách thức và thủ tục tiến hành điều trần tại Ủy ban nghị viện các nước

22/11/2011

Câu hỏi đặt ra ở đây là làm thế nào để nâng vị thế, vai trò của các uỷ ban của Quốc hội trong quy trình lập pháp hiện nay? Một phần câu trả lời có thể là việc nghiên cứu kinh nghiệm tổ chức phiên điều trần tại các uỷ ban của một số nghị viện trên thế giới trong quy trình lập pháp để áp dụng thủ tục điều trần trong hoạt động thẩm tra của các Uỷ ban của Quốc hội nước ta. Chắc chắn nếu áp dụng hình thức này sẽ găp phải một vài khó khăn, nhưng không phải là không thể giải quyết được nếu được nghiên cứu và xem xét một cách kỹ lưỡng, khoa học.

 Định nghĩa, tầm quan trọng của điều trần

Điều trần là phiên họp của UB nghị viện một số nước như Mỹ, Canada, Úc, Braxin, Thuỵ Điển, Na Uy, Philipinnes, thường là mở công khai, để thu thập thông tin và ý kiến về một dự luật nào đó, hoặc để tiến hành điều tra về một vấn đề thời sự nào đó, hoặc để giám sát, đánh giá hoạt động của chính phủ hoặc việc thực thi pháp luật. Trong một số trường hợp, điều trần hoàn toàn mang tính chất giải thích, cung cấp những chứng cứ hoặc số liệu về một vấn đề đang diễn ra. Trong tài liệu Types of Committee Hearings, Richard C.Sách đã liệt kê có bốn loại điều trần: điều trần lập pháp, điều trần giám sát, điều trần điều tra, và điều trần thông báo. Trong số này, điều trần lập pháp là phổ biến nhất, và thậm chí nhiều khi các dạng điều trần khác cũng phục vụ cho hoạt động lập pháp. Bài viết này bàn về dạng điều trần lập pháp.

Điều trần là một khâu không thể thiếu trong quy trình lập pháp ở Mỹ và một số nước khác. Trong những năm gần đây, rất hiếm khi các UB của QH Mỹ trình báo cáo ra phiên họp toàn thể về các dự luật quan trọng mà không tổ chức các phiên điều trần về dự lụât đó. Thậm chí, nếu một dự luật không được xếp vào lịch điều trần thì coi như dự luật đó đã “chết”. Hoặc nếu một dự luật được đưa ra Quốc hội Mỹ mà không qua bước điều trần sẽ trở thành mục tiêu công kích kịch liệt. Có tác giả ví điều trần như một “phiên toà lập pháp” đối với dự luật, có tiếng nói quyết định đối với số phận của dự luật. Bởi lẽ, tại phiên điều trần, các nghị sỹ không quyết định về dự luật, nhưng họ tiếp nhận thông tin, lý lẽ, luận chứng, sự việc ủng hộ hay phản đối dự luật để có cơ sở sau đó quyết định có để dự luật được đưa ra toàn thể nghị viện hay không.

Thành phần tham dự

Đại diện cho mọi lợi ích trong xã hội có thể được mời tham dự những cuộc điều trần: ví dụ, ở Mỹ đó là những người vận động hành lang, các chuyên gia, người của Lầu Năm Góc, người của Phố Wall, nhà buôn, nhà nông, luật sư, thẩm phán. Tất cả đều muốn lên tiếng tại “cơ quan lập pháp nhỏ” này, nơi mà những báo cáo UB có thể có tiếng nói quyết định lên tiến trình biểu quyết ở phiên họp toàn thể. Tại đây Quốc hội có thể tiếp xúc công chúng, cơ quan lập pháp gặp công dân để đáp ứng những đòi hỏi của một xã hội luôn thay đổi. Để bảo vệ và khuyến khích các nhân chứng

 

Phiên điều trần về trao quy chế PNTR cho Việt Nam

Vào năm 2006, Uỷ ban Tài chính Thượng viện Mỹ đã tổ chức các phiên điều trần về việc trao quy chế PNTR cho Việt Nam. Được mời tham dự và trình bày tại một trong những phiên điều trần đó có: Phó Đại diện Thương mại Mỹ Karan Bhatia; Thứ trưởng Ngoại giao phụ trách khu vực Đông Á-Thái Bình Dương Eric John; 3 nhân chứng đến từ Hiệp hội các nhà sản xuất Thịt heo quốc gia (NPPC), Hiệp hội làm vườn khu vực tây bắc Mỹ và tập đoàn Citigroup; Chủ tịch Hội đồng Thương mại Mỹ-Việt Virginia Foote.

 

được mời đến phiên điều trần, pháp luật các nước có cơ chế này đã quy định cho họ những đặc quyền như đặc quyền của nghị sỹ. Ví dụ, ở Úc các nhân chứng có thể thoải mái cung cấp chứng cứ cho phiên điều trần mà không sợ bị kiện về tội vu khống; không được sử dụng thông tin mà họ cung cấp cho uỷ ban điều trần để chống lại họ trong kiện tụng sau này nếu xảy ra kiện tụng; đặc quyền của nhân chứng cũng bảo vệ họ trước mọi sự hăm dọa hay ý đồ khác nhằm ngăn cản việc cung cấp chứng cứ.

Về sự tham gia của nghị sỹ, chẳng hạn hàng tháng các UB Hạ viện Mỹ có hơn 500 phiên họp, hơn nữa một nghị sỹ có thể tham gia nhiều uỷ ban. Vì vậy hiếm khi các phiên điều trần có đầy đủ thành viên UB. Tác giả cuốn “Quốc hội Mỹ ngày nay” mô tả sự tham gia của thành viên UB ở các phiên họp như sau: “Thông thường thành viên UB vội vàng đến, đưa cho chuyên viên giúp việc những ghi chép của mình, hỏi vài câu, lúng búng vài lời xin lỗi rồi vội vàng rời phiên họp”. Bởi vậy, nhiều khi trong các phiên điều trần các chuyên viên giúp việc đông hơn nghị sỹ, và mặc dù các chuyên viên này ít khi được nói, nhưng những câu hỏi ghi trong những mảnh giấy mà nghị sỹ đưa cho họ trước đó đã được chuyển đến chủ toạ phiên họp để chủ toạ hỏi các bên liên quan.

Thành công và hiệu quả của các phiên điều trần phụ thuộc nhiều vào báo chí. Ví dụ, vào năm 1956, một hạ nghị sỹ Mỹ tổ chức một loạt cuộc điều trần về an toàn ô tô, nhưng báo chí bỏ qua và QH Mỹ cũng bỏ qua chuyện ấy, dự luật bị chìm vào quên lãng. Chín năm sau, hai nghị sỹ khác đưa vấn đề này ra điều trần, được các báo đưa tin trang nhất, góp phần lớn vào sự ra đời của đạo luật 1966 về an toàn của xe ô tô. Tuy nhiên, nếu nhân chứng yêu cầu, báo chí và công chúng có thể phải rời phòng họp trong một thời gian ngắn, ví dụ trong khoảng 10-15 phút.

 Cách thức tiến hành

Trước khi diễn ra phiên điều trần, UB phải quyết định có cần đưa dự luật ra phiên đó không. Các uỷ ban phải quyết định xem họ cần thông tin gì, các điểm trong dự luật cần trao đổi, sau đó mới quyết định điều trần có phải là phương thức tốt nhất để đạt các mục đích đó hay không. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định dạng này của uỷ ban gồm tầm quan trọng của vấn đề đối với quốc gia, tiếng nói của cử tri và các nhóm lợi ích, tác động của cá nhân nghị sỹ. Theo thủ tục làm việc, các UB quyết định về việc có đưa dự luật ra phiên điều trần hay không bằng cách biểu quyết theo đa số. Tuy nhiên, trên thực tế, trong nhiều trường hợp, chủ nhiệm UB quyết định về việc tổ chức phiên điều trần.

Ở Mỹ phiên điều trần có thể tổ chức bất cứ lúc nào, trừ khi có phiên họp hỗn hợp giữa Thượng viện và Hạ viện. Tuy nhiên, khi sắp xếp thời điểm, các Ủy ban thường phải sắp xếp để không bị trùng nhau về thời gian với các hoạt động khác của Uỷ ban, của Uỷ ban khác và của cá nhân nghị sỹ để nghị sỹ có thể tham gia tốt nhất. Uỷ ban phải thông báo muộn nhất là một tuần trước khi tiến hành phiên điều trần về địa điểm, thời gian, các vấn đề sẽ đưa ra điều trần, thành phần tham dự. Những thông tin này phải được đăng trên Congressional Record. Các Uỷ ban còn phải gửi đến các nghị sỹ và những người tham dự khác các tài liệu cần thiết như giấy mời, tóm tắt các vấn đề đưa ra điều trần, danh sách nhân chứng…Các thành viên Uỷ ban còn nhận được từ bộ phận phục vụ các báo cáo của các bộ ngành về đến các vấn đề đưa ra điều trần.

Tại phiên điều trần, sau khi đại diện chính phủ trình bày, đến lượt đại diện các nhóm lợi ích thể hiện quan điểm. Họ có thể ủng hộ toàn bộ dự luật hoặc từng phần. Họ có thể yêu cầu sửa đổi một số nội dung trong dự luật, hoặc có thể phản đối toàn bộ dự luật, và đưa ra một dự luật khác do mình tự soạn thảo. Tiếp theo đến lượt các thành viên UB hỏi, bắt đầu bằng chủ toạ. Mọi thành viên UB đều có quyền hỏi, mỗi người được hỏi trong 10 phút. Một phiên điều trần kéo dài từ vài giờ đồng hồ cho đến hàng tháng.

Biên bản phiên điều trần là một nguồn thông tin và nguồn tuyên truyền có giá trị. Thành viên UB được phát một số lượng lớn đủ để phát lại cho các nghị sỹ khác không tham dự phiên điều trần. Các thành viên UB và những nhân vật đã phát biểu trong phiên điều trần được phép xem lại và sửa lại câu chữ nếu thấy cần thiết. Phần lớn biên bản điều trần và các tài liệu khác sử dụng trong phiên điều trần được xuất bản sau đó sáu tháng đến một năm. Một số tài liệu điều trần không được xuất bản rộng rãi trong vòng 20 đến 30 năm. Ở nghị viện Mỹ, biên bản của hầu hết các phiên điều trần được in và phát hành rộng rãi hoặc được đăng tải trên Internet.(Xem trang web của US Government Printing Office http://www.gpoaccess.gov )

Các UB Quốc hội Mỹ còn tổ chức các cuộc điều trần hỗn hợp với các UB khác, hoặc điều trần “tại chỗ” (field hearings) bên ngoài toà nhà Quốc hội. Chẳng hạn, UB Tư pháp của Hạ viện Mỹ đã tổ chức nhiều phiên điều trần tại chỗ năm 1995 nhằm thu thập ý kiến đóng góp và tranh thủ sự ủng hộ của công chúng đối với dự luật sửa đổi Hiến pháp về tín ngưỡng học đường. Quốc hội Mỹ cũng đã thử nghiệm phương thức điều trần từ xa qua hội nghị truyền hình (video conference), có nghĩa là người làm chứng có thể giải trình các vấn đề cần trình bày trước một UB từ một nơi khác qua phương tiện này.

Nguyễn Đức Lam

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống