Qua kinh nghiệm Trung Quốc hội nhập nền kinh tế thế giới suy nghĩ về vấn đề hội nhập của Việt Nam

12/09/2012

Tôn Trung Sơn - người đặt viên gạch đầu tiên cho nền cộng hoà của nước Trung Hoa - đã từng nhận định: “Triều sóng phát triển của thế giới đang dâng lên cuồn cuộn, thuận dòng thì tồn tại phát triển, nghịch dòng thì nhất định bị diệt vong” [1] . Câu nói này giúp chúng ta nhận thức được một chân lý: sự phát triển của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia không thể tách rời sự phát triển chung của các dân tộc và quốc gia khác trên thế giới . Để có thể phát triển, các quốc gia không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc hoà mình vào dòng chảy chung của nhân loại. Đóng cửa, quay lưng với thế giới bên ngoài chỉ đem lại đói nghèo và lạc hậu mở cửa hội nhập tuy phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức song sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển. Lịch sử đã không ít lần chứng minh thực tế này. Nhật Bản tiến hành Minh Trị duy tân năm 1868, Trung Quốc và Việt Nam thực hiện bế quan toả cảng trước khi Nhật Bản tiến hành duy tân không lâu. Hai cách phản ứng với “sự gõ cửa” của thế giới bên ngoài đó đã đem lại hai kết quả thật trái ngược: Trong khi Nhật Bản nhanh chóng trở thành một nước phát triển về kinh tế và văn hoá thì Trung Quốc sau đó vẫn buộc phải mở cửa cho thực dân phương Tây (sau thất bại trong chiến tranh Nha phiến - 1840), cam chịu những năm tháng tủi nhục, Việt Nan cũng trở thành thuộc địa của thực dân Pháp (năm 1858). Sự chuyển mình của Trung Quốc sau hơn 20 năm cải cách mở cửa và của Việt Nam sau hơn 15 năm thực hiện đổi mới đã một lần nữa cho thấy tính đúng đắn của sự lựa chọn mở cửa hội nhập. Trung Quốc và Việt Nam hội nhập nền kinh tế thế giới trong làn sóng hội nhập thứ ba [2] - làn sóng cuối cùng của thế kỷ XX. Cùng tham gia vào làn sóng này có rất nhiều quốc gia đang phát triển khác. Như vậy, những lợi thế so sánh của Trung Quốc và Việt Nam (những lợi thế về một thị trường rộng lớn, lao động rẻ, giàu tài nguyên) rõ ràng đã giảm đi rất nhiều. Để có thể tận dụng tốt những cơ hội phục vụ cho sự phát triển của đất nước đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược hội nhập thích hợp. Một chiến lược hội nhập đúng đắn sẽ giảm thiểu thách thức, đồng thời có thể tạo ra và làm tăng thêm các cơ hội. Trong việc tìm một chiến lược hội nhập thích hợp, kinh nghiệm hội nhập của Trung Quốc - một nước láng giềng có nhiều quan điểm tương đồng - thật đáng để chúng ta suy ngẫm.

Tư tưởng căn bản, cũng có thể gọi là mục tiêu cơ bản của chiến lược hội nhập của Trung Quốc là: Hội nhập nền kinh tế thế giới, tận dụng các lợi thế trong phân công quốc tế để nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ “Bốn hiện đại hoá” [3] , đưa Trung Quốc từ một nước nghèo nàn lạc hậu trở thành một quốc gia có nền kinh tế phát triển, nâng cao vị thế và uy tín của Trung Quốc trên trường quốc tế, góp phần xứng đáng vào việc củng cố hoà bình thế giới. Trên cơ sở những mục tiêu đó, Trung Quốc đã thực hiện hội nhập kinh tế thế giới với những chiến lược sau:
Thứ nhất, chuẩn bị kỹ càng cho việc hội nhập nhằm tích luỹ thực lực đủ mạnh để đảm bảo cho việc hội nhập có hiệu quả nhất. Như chúng ta đã biết, để trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) - một cái mốc quan trọng trên bước đường hội nhập - Trung Quốc đã phải đi mất 15 năm. Khoảng thời gian đó thật là dài, bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có cả những nguyên nhân chủ quan (thời gian đầu do chưa nhận thức được tính tất yếu cũng như lợi ích của việc gia nhập WTO nên Trung Quốc đã để lỡ mất nhiều cơ hội) và những nguyên nhân khách quan (sau này, Trung Quốc muốn gia nhập  WTO nhưng khi đàm phán đã luôn gặp phải nhiều sức ép từ phía Mỹ và EU không chỉ trong các vấn đề kinh tế). Vì thế, khoảng thời gian 15 năm không phải là kết quả nằm trong suy tính ban đầu của Trung Quốc. Tuy nhiên, khoảng thời gian ấy cũng cho phép Trung Quốc có thêm điều kiện để chuẩn bị cho việc hội nhập này, Trung Quốc đã luôn kết hợp giữa cải cách kinh tế với hội nhập từng phần [4] và đàm phán. Cải cách kinh tế là “động lực” để tạo ra những chuyển biến của bản thân nền kinh tế, tạo tiền đề thuận lợi cho hội nhập; thử nghiệm hội nhập một bộ phận bằng cách xây dựng 5 đặc khu kinh tế ven biển với thể chế thông thoáng là để kiểm nghiệm và lường trước những tác động của hội nhập đối với sự phát triển của Trung Quốc chuẩn bị cho hội nhập; thử nghiệm và lường trước những tác động của hội nhập đối với sự phát triển của Trung Quốc chuẩn bị khi hội nhập hoàn toàn. Còn đàm phán là để giảm bớt những gánh nặng mà Trung quốc phải đảm đương khi tham gia hội nhập. Kết quả của chiến lược này là sau 20 năm tiến hành cải cách kinh tế, tổng giá trị sản xuất trong nước của Trung Quốc năm 1997 đã đạt 7477,2 tỷ NDT, tăng gần 7000 tỷ so với năm 1980 khi vừa tiến hành cải cách [5] . Rõ ràng, thực tế thực lực kinh tế của Trung Quốc qua cải cách đã được cải thiện đáng kể. Đặc biệt, với sự đàm phán bền bỉ, Trung Quốc đã gia nhập WTO với tư cách là một nước đang phát triển - điều này đồng nghĩa với việc Trung Quốc sẽ được hưởng nhiều chế độ ưu đãi, đồng thời các nghĩa vụ mà Trung Quốc phải gánh vác là công bằng và phù hợp với thực lực của nước này.
Hội nhập là một vấn đề sống còn, tuy nhiên, việc gia nhập WTO hay gia nhập các tổ chức quốc tế khác mới chỉ là chặng đầu tiên trên con đường phát triển. Khả năng tồn tại, phát triển của bản thân nền kinh tế sau khi hội nhập mới thực sự quyết định tính vững mạnh trước thử thách của một đất nước. Muốn đứng vững và phát triển được trong một môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt như hiện nay đòi hỏi phải có một khả năng cạnh tranh tốt. Vì vậy, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và sức cạnh tranh của hàng hoá là một nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Trong khi tham gia hội nhập, Trung Quốc cũng đã sớm nhận thức được vấn đề này, đồng thời coi việc nâng cao khả năng cạnh tranh  là “điều then chốt” để đứng vững sau hội nhập. Theo bảng xếp hạng tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thì tính cạnh tranh của nền kinh tế Trung Quốc năm 2000 đứng hàng thứ 41 [6] .
Thứ hai, trong quá trình hội nhập, Trung Quốc đã biết tận dụng tốt ưu thế về vị trí địa lý cũng như ưu thế về các nguồn lực khác của khu vực miền Đông và duyên hải ven biển, biến đây thành “đầu tầu” của nền kinh tế. Song song với chiến lược này, Nhà nước cũng chú trọng nâng cao thu nhập của một bộ phận dân cư lên trước, sau đó mới nâng cao dần thu nhập của các bộ phận dân cư khác. Điều này không những xoá bỏ được tác hại của chủ nghĩa “bình quân vào bằng” mà còn thực sự tạo điều kiện phát triển cho những khu vực và bộ phận dân cư giàu tiềm năng; phát huy tính tích cực, tính sáng tạo, tính chủ động ở các khu vực và bộ phận dân cư này. Đến lượt mình, các khu vực và bộ phận dân cư được tạo điều kiện phát triển lại đóng góp tích cực hơn cho sự chuyển mình của nền kinh tế. Sự khởi sắc của một số vùng, của một số người đã trở thành tấm gương, đồng thời cũng thôi thúc các vùng khác, các bộ phận dân cư khác vươn lên.
Thứ ba, trong khi hội nhập, Trung Quốc xác định phải luôn luôn giữ vững các giá trị văn hoá truyền thống, nhấn mạnh phải kết hợp hài hoà giữa việc phát triển văn minh vật chất với việc xây dựng nền văn minh tinh thần; lấy nền văn hoá truyền thống làm nền tảng cho sự cất cánh của nền kinh tế. Chiến lược này là hoàn toàn đúng đắn, bởi xét cho cùng không có một nền kinh tế nào lại phát triển mà không dựa trên một cơ tầng văn hoá truyền thống. Lịch sử đã từng chứng kiến sự chuyển mình “thần kỳ” của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai - từ một nước bại trận trở thành một siêu cường thứ hai trên thế giới. Lịch sử cũng chứng kiến sự vươn lênh mạnh mẽ và nhanh chóng của Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông trong vài ba thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX. Tất cả những sự chuyển mình đó đều có sự đóng góp không nhỏ của một nhân tố mà các nhà nghiên cứu phương Tây gọi là “các giá trị Đông á”. “Các giá trị Đông á” đó không phải là cái gì cao siêu, xa lạ mà chính là các giá trị đạo đức, luân lý gia đình trong văn hoá truyền thống của các nước vùng Đông á. Nói khác đi, “các giá trị Đông á” chính là sự tiếp nối mạch nguồn văn hoá truyền thống, đẩy nền văn hoá đó tiếp tục đi xa trên cơ sở có sự biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại.
Với những chiến lược hội nhập được tính toán kỹ lưỡng, Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu lớn trên bước đường hội nhập, đánh dấu bằng việc Trung Quốc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Sự kiện này (cùng với Cách mạng Tân Hợi, sự ra đời của nước CHND Trung Hoa) được đánh giá là một trong ba thành tựu vĩ đại của Trung Quốc trong thế kỷ XX. Cách mạng Tân Hợi đánh dấu sự cáo chung của chế độ phong kiến đã tồn tại ở Trung Quốc hàng ngàn năm; sự ra đời của nước CHND Trung Hoa đánh dấu sự ra đời của một Nhà nước độc lập, thống nhất sau hơn 100 năm chiến tranh, bị nô dịch; việc gia nhập WTO khẳng định sự lớn mạnh vượt bậc của Trung Quốc cả về quy mô kinh tế lẫn, tâm vóc chính trị. Sau khi gia nhập WTO, nền kinh tế Trung Quốc 6 tháng đầu năm 2002 đã có nhiều khởi sắc: tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 16%, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng 31,5%, dự trữ ngoại tệ vượt 250 tỷ USD [7] . Những con số đó đã khẳng định sự thành công của Trung Quốc trong chiến lược hội nhập sau một thời gian dài chuẩn bị. Dẫu rằng thách thức phía trước còn nhiều, chặng đường phải đi còn xa, song chúng ta không thể không thừa nhận một thực tế là: nền kinh tế Trung Quốc đang vững bước tiến về phía trước.
Cần nói thêm rằng Trung Quốc đã tiến hành hai lần hội nhập với hai tư thế hoàn toàn khác nhau [8] . Nếu lần thứ nhất, Trung Quốc phải mở cửa với thế giới bên ngoài trong tình thế bắt buộc của một người trong tình thế bắt buộc của một người thua trận, tiến hành mở cửa trong cái cảm giác “dị ứng”, trong thế chống đối với các nền văn minh phát triển cao hơn thì lần thứ hai này là sự hội nhập hoàn toàn chủ động. Trung Quốc không đợi các nước đến gõ cửa mà hàng hoá của Trung Quốc đã chủ động tìm đến gõ cửa thị trường các nước khác. Cách phản ứng lần này cho thấy các chiến lược hội nhập của Trung Quốc không phải là các chiến lược mang tính chất đối phó với thách thức của quá trình toàn cầu hoá mà là những chiến lược có tính chủ động - chủ động tận dụng các lợi thế từ quá trình này.
Tuy là nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng về lịch sử, văn hoá và chính trị tương đồng với Trung Quốc song những hạn chế về thế và lực của nền kinh tế đã đặt chúng ta trước rất nhiều thách thức. So với Trung Quốc, trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới lần này, chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức vẫn luôn luôn đi liền với nhau. Thực tế này không thể khiến chúng ta nản lòng và chùn bước, bởi nếu càng chậm trễ trong việc hội nhập thì các cơ hội đối với chúng ta sẽ càng giảm đi, thách thức sẽ càng tăng thêm. Chuyến tàu toàn cầu hoá lần này không chờ đợi bất cứ một ai chậm chân. Nhận thức về khó khăn chính là để chúng ta kịp thời có những chiến lược hội nhập thích hợp, những chiến lược thận trọng, được tính toán và cân nhắc kỹ càng. Những thách thức đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập chủ yếu bao gồm:
Thứ nhất, thời gian để Việt Nam chuẩn bị cho quá trình hội nhập không nhiều. Có thể nói, chúng ta đang ở trên “chuyến tàu vét” của quá trình toàn cầu hoá, bởi cho đến nay chỉ còn khoảng 30 nước chưa gia nhập WTO. Vấn đề hội nhập thực ra đã được nêu lên từ năm 1986 nhưng khi đó Việt Nam mới chỉ tiến hành “mở cửa theo một hướng” - tức sự mở cửa với các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Đến năm 1991, chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ quốc tế mới được nêu ra và phải đến năm 1996, chính sách đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới mới được nêu lên. Thời gian chuẩn bị không nhiều, hơn nữa, thực lực của nền kinh tế của chúng ta chưa mạnh. Vì thế, để đạt được thành công, tận dụng được những lợi thế của quá trình phân công quốc tế, Việt Nam sẽ phải nỗ lực rất nhiều và không thể chậm trễ.
Thứ hai, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn yếu kém, không chỉ có một khoảng cách xa so với các nước phát triển mà còn kém hơn các nước đang phát triển khác trong cùng khu vực. Theo định nghĩa được quốc tế công nhận thì: “Khả năng cạnh tranh quốc tế là năng lực cung cấp các hàng hoá tốt, dịch vụ tốt trên thị trường quốc tế, đồng thời có thể nâng cao được đời sống nhân dân nước mình trong điều kiện thị trường tự do lành mạnh”. Dựa trên số liệu năm 2000, năng lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam đứng hàng thứ 53 trên thế giới, trong khi Thái Lan đứng hàng 31, Philippin đứng hàng thứ 37 và Malaixia đứng hàng thứ 25 [9] .
Thứ ba, năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam không cao. Nếu là một phép so sánh đơn giản, chúng ta có thể nhận thấy giá cả một số mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam thấp hơn nhiều so với giá cả các mặt hàng cùng loại của các nước khác. Chẳng hạn, năm 1998, giá cà phê của Việt Nam chỉ có 1554 USD/tấn trong khi giá cà phê của Braxin là 2343,5 USD/tấn và chung của thế giới là 2583 USD/tấn [10] ; giá gạo và giá cao su của chúng ta cũng ở trong tình cảnh tương tự. Giá gạo của Việt Nam năm 1998 là 289 USD trong khi giá gạo Thái Lan là 393,3 USD/tấn cao hơn cả mức giá chung của thế giới (347 USD/tấn) [11] . Điều này là do khâu chế biến và tiếp thị sản phẩm của chúng ta còn yếu kém . Chính sự yếu kém trong các khâu này đã dẫn đến những thua thiệt không đáng có của hàng hoá Việt Nam .
Thứ tư, Việt Nam hội nhập nền kinh tế thế giới trong làn sóng cuối cùng của thế kỷ XX, chính yếu tố thời gian này dã đặt chúng ta vào một thách thức lớn. Đó là, chúng ta phải cùng lúc tham gia hai quá trình cạnh tranh: Cạnh tranh với các nước phát triển và cạnh tranh với các nước đang phát triển. Nếu các thập kỷ trước, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Công tham gia hội nhập mà ít phải tính đến yếu tố cạnh tranh với các nước đang phát triển (điều này giúp họ tận dụng được ưu thế về nguồn lao động rẻ mạt, cần cù, năng suất lao động cao để đánh bại hàng hoá của các nước phát triển vốn phải thuê lao động tương đương thậm chí là kém hơn), đồng thời các nước này còn có thể sử dụng mạnh mẽ các hàng rào bảo hộ thuế quan và phi thuế quan để phát triển nền công nghiệp trong nước thì đến đợt hội nhập lần này, chúng ta gặp phải khó khăn hơn gấp nhiều lần. Việt Nam phải tham gia vào vòng xoáy cạnh tranh “song trùng” lại phải dỡ bỏ trong một thời gian ngắn các rào cản thương mại. Trước mắt, đến năm 2006, hàng rào thuế quan của nước ta với các nước ASEAN đối với hàng công nghiệp chế biến sẽ giảm xuống còn 0-5%, hàng rào phi thuế quan sẽ bị bãi bỏ. Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ được Quốc Hội hai bên thông qua quy định các hàng rào thương mại và đầu tư sẽ phải giảm thiểu trong vòng 10 năm tới. Điều này tạo ra sức ép không nhỏ cho hàng hoá Việt Nam khi hàng hoá từ các nước đang phát triển khác tràn vào. Hơn nữa, như trên đã nêu, khả năng cạnh tranh của Việt Nam thấp hơn nhiều so với một số nước đang phát triển trong cùng khu vực (Thái Lan, Malaixia, Philippin). Do vậy, các ngành sản xuất của ta cần chú trọng đến việc chiếm lĩnh thị trường trong nước, tránh bị thua ngay trên sân nhà.
Tóm lại, tuy phải đối mặt với nhiều thách thức song chúng ta đã nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa lâu dài của vấn đề hội nhập. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định: “Hội nhập quốc tế là xu thế thời đại, là con đường tất yếu để du nhập thị trường quốc tế, để tạo vốn liếng, tiếp thu kỹ thuật mới, nhằm rút ngắn thời gian tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá” [12] , đồng thời khẳng định Việt Nam cần phải : “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc, bảo đảm được độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộ, bảo vệ môi trường” [13] . Việc Việt Nam xin gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) [14] một lần nữa khẳng định quyết tâm thực hiện chính sách đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của Chính phủ Việc Nam một lần nữa khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc hoà mình vào “triều sóng phát triển của thế giới”.
 

Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 5/2003

 

 

[1] Tôn Trung Sơn tuyển tập, (trung văn), Tập 1, Nxb Nhân dân, Bắc Kinh, 1962, Bút tích, tr5 .
 

[2] Làn sóng hội nhập lần thứ nhất 1870-1914, làn sóng hội nhập lần thứ hai từ năm 1945-1980 và làn sóng hội nhập lần thứ ba là từ những năm 80 đến này. (Xem thêm Toàn cầu hoá, tăng trưởng và nghèo đói-Xây dựng một nền kinh tế hội nhập, trong tập Báo cáo Nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2002).
[3] “Bốn hiện đại hoá” gồm: hiện đại hoá về công nghiệp, nông nghiệp, khoa học kỹ thuật và quốc phòng - Tg
[4] Ở đây, khái niệm “hội nhập từng phần” chỉ đơn thuần dùng đẻ chỉ một không gian địa lý, có nghĩa là tiến hành thí điểm hội nhập ở trên một phần lãnh thổ chứ không phải là trong không gian địa lý toàn bộ đất nước - Tg
[5] Lưu Lực: Toàn cầu hoá kinh tế, lối thoát của Trung Quốc là ở đâu?, Nxb KHXH, Hà Nội, 2002, tr125.
[6] Dẫn theo Trần Thu Hà, “ Năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ”, Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới, số 2 (76) năm 2002, tr.67.
[7] Dẫn theo số liệu trong Bài phát biểu của Đại sứ nước CHND Trung Hoa tại VN Tề Kiến Quốc tại Lễ ra mắt Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc và Hội thảo khoa học “Trung Quốc cải cách mở cửa-Những bài học kinh nghiệm”, Hà Nội, 4/10/2002.
[8] Lần hội nhập thứ nhất diễn ra vào thời Thanh, khi nổ ra Chiến tranh Nha phiến và lần thứ hai là từ năm 1978-Tg.
 

[9] Dẫn theo Trần Thu Hà, “ Năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”, tr 67.
 

 

[10] Dẫn theo Trần Thu Hà, “ Năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”, tr 66.
 

[11] Dẫn theo Trần Thu Hà, “ Năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trong bối cảnh hội nhập”, tr66
 

[12] Xem thêm Nguyễn Cao Sơn: Những khía cạnh pháp lý của vấn đề gia nhập Tổ chức thương mại thế giới và tiến trình gia nhập của Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp, Học viện quan hệ quốc tế, Hà Nội, tháng 8/2000.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr 120.
[14] Việt Nam chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO vào tháng 1 năm 1995.

 

Phạm Sĩ Thành (Khoa Đông Phương học, Trường ĐH KHXH & NV, Đại học QGHN)

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống