Về việc hoàn thiện các quy định về thuế suất chung và chính sách ưu đãi thuế trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

10/06/2013

I. Định nghĩa và đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế suất và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

1. Thuế thu nhập doanh nghiệp 

Là loại thuế trực thu mà đối tượng chịu thuế là thu nhập của doanh nghiệp, tổ chức có hoạt động sản xuất kinh doanh.

Chủ thể nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là doanh nghiệp và các tổ chức có hoạt động kinh doanh được quy định trong Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

Thuế thu nhập doanh nghiệp không được coi là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.

Mục đích chính của loại thuế này là tái phân phối thu nhập giữa doanh nghiệp và nhà nước, nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách phục vụ lợi ích chung của xã hội.

Trước thời điểm 1/1/2009, thuế thu nhập doanh nghiệp còn áp dụng đối với cá nhân có hành vi sản xuất, kinh doanh, cá nhân hành nghề độc lập hoặc có tài sản cho thuê. Tuy nhiên, sau thời điểm 1/1/2009, những chủ thể này chuyển sang nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân.

Theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, chủ thể nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp bao gồm:

- Tổ chức Việt Nam có hoạt động sản xuất kinh doanh (bao gồm doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, hợp tác xã, v.v.) phải nộp thuế cho toàn bộ các khoản thu nhập của mình, không phụ thuộc vào việc thu nhập đó phát sinh trong nước hay ngoài nước.

- Tổ chức nước ngoài có hoạt động sản xuất kinh doanh phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh ở Việt Nam, kể cả có hiện diện hay không hiện diện tại Việt Nam.

Thu nhập chịu thuế là toàn bộ các khoản thu nhập, bao gồm thu nhập từ hoạt động kinh doanh và thu nhập khác (như thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ, v.v.).

Căn cứ tính thuế Thu nhập doanh nghiệp bao gồm thu nhập tính thuế và thuế suất.

Thu nhập tính thuế trong kỳ tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước.Thu nhập chịu thuế được xác định bằng cách lấy doanh thu trừ các khoản chi được phép trừ của hoạt động sản xuất, kinh doanh cộng với thu nhập khác. Riêng thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải xác định riêng để kê khai nộp thuế và không được bù trừ với thu nhập từ các hoạt động kinh doanh khác.

Thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp phổ biến ở mức 25% và hiện nay được coi là tương đối cao trong khu vực. Riêng đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quí hiếm khác từ 32% đến 50% phù hợp với từng dự án, từng cơ sở kinh doanh. Thuế Thu nhập doanh nghiệp được xác định bằng cách lấy thu nhập tính thuế nhân với thuế suất.

Kỳ tính thuế Thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính (nếu doanh nghiệp được phép áp dụng năm tài chính khác năm dương lịch). Kỳ tính thuế Thu nhập doanh nghiệp xác định cho từng lần phát sinh thu nhập đối với doanh nghiệp nước ngoài phát sinh thu nhập ở Việt Nam nếu không liên quan đến cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú ở Việt Nam.

2. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

Thuế suất là tỷ lệ động viên tính trên giá trị đối tượng chịu thuế. Trong luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành thì thuế suất chung của thuế Thu nhập doanh nghiệp ở mức 25% thu nhập chịu thuế.

3. Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 

Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là việc Nhà nước dành cho các doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc cung ứng dịch vụ trong những lĩnh vực, địa bàn, loại hình mà Nhà nước khuyến khích phát triển những điều kiện thuận lợi hơn về thuế suất, thời gian miễn, giảm thuế và những vấn đề khác nhằm thu hút đầu tư, hỗ trợ các doanh nghiệp đó trong quá trình hoạt động, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đất nước.[1]

Mục đích của việc ưu đãi thuế là nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân có hành vi ứng xử phù hợp với định hướng của nhà nước trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng hoặc chia sẻ với người nộp thuế khi họ gặp khó khăn chịu thiệt hại ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế.

Ưu đãi thuế có các hình thức cơ bản sau đây:

- Mức thuế suất thấp: là việc quy định mức thuế suất thấp hơn bình quân để khuyến khích. Ví dụ: một số mặt hàng như phân bón, thuốc chữa bệnh, hàng chế biến từ nông sản được hưởng mức thuế giá trị gia tăng 5%, thay vì mức bình quân là 10% áp dụng cho đa số hàng hoá, dịch vụ khác.

- Giảm thuế: là giảm số thuế phải nộp ở mức nhất định.

- Miễn thuế: là miễn không phải nộp thuế trong một số trường hợp.

- Tín dụng thuế: là trường hợp nhà nước cho phép chậm trả thuế hoặc hoàn thuế đầu vào trong thuế giá trị gia tăng trong một số trường hợp.

Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, chính sách ưu đãi được thể hiện dưới những phương thức cơ bản sau:

Miễn thuế: Một số khoản thu nhập được miễn thuế do được nhà nước khuyến khích để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội hoặc đã chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp như: thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã; thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp; thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; thu nhập được chia từ hoạt động góp vốn, liên doanh, liên kết với doanh nghiệp trong nước sau khi đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, v.v..

Thuế suất thấp: Một số trường hợp được ưu đãi thuế với mức thuế suất 10% hoặc 20% như doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường được áp dụng thuế suất; hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và quỹ tín dụng nhân dân, v.v..

Tín dụng thuế: Hiện nay, chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp còn được Chính phủ thực hiện thông qua việc cho phép giãn nợ thuế, hoãn nộp thuế…

II. Hoàn thiện quy định về thuế suất chung và chính sách ưu đãi thuế trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

Thuế suất và chính sách ưu đãi thuế là những vấn đề cốt yếu trong đại đa số các sắc thuế của không chỉ Việt Nam mà còn ở nhiều quốc gia khác. Việc xem xét mức thuế suất và các biện pháp ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam trong từng thời kỳ dĩ nhiên cần phải dựa trên những cơ sở nhất định. Trong bối cảnh hiện nay thiết nghĩ các cơ sở đó bao gồm:

Thứ nhất, chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 732/2011/QĐ-TTg ngày 17/5/2011.

Thứ hai, cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan vấn đề này và kinh nghiệm của các nước.

Thứ ba, tình hình kinh tế của đất nước.

Chuyên đề sẽ tập trung làm rõ các cơ sở này gắn với việc bình luận và đề xuất mức thuế suất cũng như các biện pháp ưu đãi thuế cần có trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Việt Nam lần này.

1. Quan điểm của Chính phủ về điều chỉnh thuế suất và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp giai đoạn 2011 - 2020

Việc xác lập mức thuế suất và các biện pháp ưu đãi thuế trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp rõ ràng không thể nằm ngoài mục tiêu chung đã được nêu rõ trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 đã được Thủ tướng phê duyệt, cụ thể gồm các mục tiêu sau:

+ Xây dựng và thực hiện chính sách huy động từ thuế, phí và lệ phí hợp lý nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư nhất là đầu tư ứng dụng công nghệ cao, vào vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững, góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo nhu cầu chi tiêu cần thiết hợp lý của ngân sách nhà nước.

+ Hệ thống chính sách thuế, phí và lệ phí được sửa đổi bổ sung phù hợp với định hướng phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; góp phần chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia; khuyến khích thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế và đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; bảo hộ hợp lý, có chọn lọc, có thời hạn các sản phẩm, hàng hóa sản xuất trong nước phù hợp với các cam kết, thông lệ quốc tế.

+ Hệ thống chính sách thuế được xây dựng, hoàn thiện bảo đảm minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện; mở rộng cơ sở thuế để phát triển nguồn thu, bao quát các nguồn thu mới phát sinh và cơ cấu lại theo hướng tăng nguồn thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) đến năm 2015 đạt trên 70% tổng thu ngân sách nhà nước và đến năm 2020 đạt trên 80% tổng thu ngân sách nhà nước.

Tỷ lệ huy động thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 khoảng 23 - 24% GDP, trong đó tỷ lệ động viên từ thuế, phí và lệ phí khoảng 22 - 23% GDP; tốc độ tăng trưởng số thu thuế, phí và lệ phí bình quân hàng năm từ 16% - 18%/năm.

Giai đoạn 2016 - 2020: Tỷ lệ huy động thu ngân sách nhà nước và tỷ lệ động viên từ thuế, phí và lệ phí trên GDP ở mức hợp lý theo hướng giảm mức động viên về thuế trên một đơn vị hàng hóa, dịch vụ để khuyến khích cạnh tranh, tích tụ vốn cho sản xuất kinh doanh.

 Liên quan trực tiếp đến vấn đề thuế suất và ưu đãi thuế trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Chiến lược xác định: “Điều chỉnh giảm mức thuế suất chung theo lộ trình phù hợp để thu hút đầu tư tạo điều kiện để doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy để đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh; đơn giản hóa chính sách ưu đãi thuế theo hướng hẹp về lĩnh vực, tiếp tục khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, dịch vụ chất lượng cao, lĩnh vực xã hội hóa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn;…”

2. Về thuế suất chung

2.1. Kinh nghiệm các nước

Cho dù nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của các quốc gia xu hướng chung trên thế giới trong thời gian vừa qua là cắt giảm thuế suất đối với sắc thuế này. Từ năm 1996 đến nay, ở nhiều nước phát triển, mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đã được giảm đáng kể. Nước Anh giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ 33% (năm 1996) xuống 30% (năm 2000), 26% (năm 2011) và 24% (năm 2012). Hàn quốc giảm từ 28% (năm 2000) xuống 25% (năm 2005), 22% (năm 2011).

Nhiều nước ASEAN và một số nước Châu Á cũng đã tiến hành giảm thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp và tiếp tục có lộ trình giảm thêm trong thời gian tới.[2] Singapore đã giảm thuế suất từ 26% (năm 2000) xuống còn 17% (từ năm 2010). Malaysia giảm thuế suất từ 28% (năm 2005) xuống còn 25% (từ năm 2009). Trong khi đó Thái lan giảm thuế suất từ 30% (năm 2005) xuống 23% (năm 2012) và 20% (2013). Quốc gia có nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ như Trung Quốc cũng có bước điều chỉnh lớn đối với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp từ mức 33% (năm 2005) xuống còn 25% (từ năm 2008). Ấn Độ tuy vẫn còn giữ mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp khá cao so với các nước ASEAN, nhưng vào năm 2011 cũng đã giảm từ 34% xuống còn 32%. Hiện nay ở Châu Á, Singapore và Đài Loan đang áp mức thuế suất thấp nhất là 17%.

2.2. Về thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam 

Phù hợp với xu thế chung của thế giới, từ khi ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp tới nay, Việt Nam liên tục điều chỉnh giảm thuế suất ở sắc thuế này. Vào năm 1997 thuế suất là 32% cho doanh nghiệp trong nước và thuế suất 25% cho doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Năm 2003 Việt Nam áp dụng mức thuế suất thống nhất là 28% cho cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Năm 2008, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp giảm còn 25% (mức thuế suất hiện hành).[3]

So sánh với các nước trên thế giới, thì mức thuế suất chung 25% trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 trong thời gian vừa qua là ở mức trung bình. Tuy nhiên, trong xu thế giảm dần thuế suất của các nước cũng như trong bối cảnh nền kinh tế bị ảnh hưởng mạnh bởi khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu, và được dự báo sẽ còn nhiều khó khăn, tình hình sản xuất, kinh doanh của nhiều doanh nghiệp đình trệ, sức mua thị trường thấp, giá trị tồn kho lớn, tăng trưởng tín dụng thấp,…[4] thì việc xem xét giảm mức thuế suất là hết sức cần thiết.

Theo Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp gần nhất[5] thì mức thuế suất được đề xuất giảm từ 25% (theo Luật hiện hành) xuống còn 22% từ năm 2014, và còn 20% từ năm 2016. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa - là những doanh nghiệp sử dụng dưới 200 lao động và có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng - thì được áp mức thuế là 20% ngay từ năm 2014. Trong khi mức thuế suất đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu, khí và tài nguyên quý hiếm khác được giữ nguyên ở mức từ 32% đến 50%.

Đề xuất như trên là phù hợp với Chiến lược cải cách thuế, cũng như xu thế cải cách thuế của các nước. Việc giảm thuế suất theo hướng trên cũng vừa đảm bảo được tính cạnh tranh, hấp dẫn đầu tư của Việt Nam so với các nước trong khu vực, vừa không gây ra tác động giảm thu ngân sách quá đột ngột. Điều này hết sức cần thiết trong bối cảnh nền kinh tế đang bị ảnh hưởng lớn của khủng hoảng và suy thoái kinh tế toàn cầu đang cần sớm hồi phục và phát triển mạnh trong những năm sắp tới theo như chiến lược kinh tế - xã hội đã được Đảng đề ra tại Đại hội XI.

Cũng cần thấy rằng, trên thực tế thì việc giảm thuế suất theo kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam thì chưa hẳn đã khiến giảm thu ngân sách mà trong nhiều trường hợp lại theo hướng ngược lại. Lý do là việc giảm thuế sẽ thu hút thêm nhiều doanh nghiệp trong nước thành lập mới, nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, khuyến khích doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất - kinh doanh, từ đó tăng doanh thu và khiến số thuế mang lại có thể cao hơn. Dù thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp được điều chỉnh giảm, nhưng tỷ trọng nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp ở một số nước lại có xu hướng tăng lên.[6] Ở Việt Nam, từ năm 1990 đến năm 2010, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp liên tục được điều chỉnh giảm nhưng số thuế thu nhập doanh nghiệp thu được hầu như năm sau đều tăng lên so với năm trước: 14.128 tỷ đồng (năm 2001), 16.585 tỷ đồng (năm 2002, tăng so với năm 2001 là 17,4%), 19.539 tỷ đồng (năm 2003, tăng so với năm 2002 là 17,8%), 23.322 tỷ đồng (năm 2004, tăng so với năm 2003 là 19,4%), 29.000 tỷ đồng (năm 2005, tăng so với năm 2004 là 25%), 36.000 tỷ đồng (năm 2006, tăng so với năm 2005 là 23,6%), 41.700 tỷ đồng (năm 2007, tăng so với năm 2006 là 15,7%), 66.000 tỷ đồng (năm 2008, tăng so với năm 2007 là 59%), 57.600 tỷ đồng (năm 2009, giảm so với năm 2008 là 13%), và gần 80.000 tỷ đồng (năm 2010, tăng so với năm 2009 là 38,7%).[7]

Việc đưa ra lộ trình về việc giảm thuế suất chung xuống còn 20% từ năm 2016 sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc lựa chọn, ra quyết định đầu tư ngay từ khi Luật được ban hành và hệ quả là khiến cho thị trường sớm phục hồi.[8] Mức thuế suất 20% được công bố sớm cũng sẽ có tác động mạnh tới việc thu hút đầu tư do mức thuế suất này khá thấp so với các nước trong khu vực. Việc quy định lộ trình thuế suất như vậy cũng đã được thực hiện có hiệu quả tại Luật thuế tiêu thụ đặc biệt (lộ trình thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô chở người trong lần sửa đổi năm 2003, lộ trình tăng thuế mặt hàng bia trong lần sửa đổi năm 2009).

Việc cho phép doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa được áp dụng mức thuế suất thấp hơn sẽ giúp cho các doanh nghiệp này có điều kiện tăng tích tụ, tích lũy tái đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh và nâng cao được năng lực cạnh tranh. Quy định như vậy là phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng nhu cầu thực tiễn và không ảnh hưởng lớn tới nguồn thu ngân sách. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn hơn, dễ bị tổn thương trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng nhưng lại chiếm số đông (gần 88% doanh nghiệp ở Việt Nam) và tạo nhiều việc làm cho xã hội. 2 tiêu chí được đưa ra để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là phù hợp với kinh nghiệm của các nước - hầu hết các nước đều sử dụng đồng thời 2 tiêu chí trở lên để xác định doanh nghiệp được áp dụng mức thuế suất thấp hơn mức phổ thông.[9] Chẳng hạn Pháp sử dụng tiêu chí doanh thu và thu nhập, Lithuania sử dụng tiêu chí lao động và thu nhập, trong khi Trung Quốc sử dụng cùng lúc 3 tiêu chí là số lao động, doanh thu và tổng tài sản[10]

Hiện cũng có những ý kiến đề xuất cần đưa thuế suất chung xuống mức 20% ngay từ năm 2014 để tăng mức độ hấp dẫn về đầu tư sản xuất - kinh doanh với tất cả các doanh nghiệp, giúp tạo ra nhiều lợi nhuận, giảm nhẹ được chi phí quản lý và đồng thời tạo sức ép cạnh tranh trong cộng đồng doanh nghiệp.[11] Lẽ dĩ nhiên mức thuế suất chung 20% sẽ mang lại tính cạnh tranh cao hơn trong thu hút đầu tư của nền kinh tế Việt Nam trong tương quan so sánh với các nước trong khu vực. Tuy vậy, nếu giảm xuống mức đó có thể sẽ ảnh hưởng quá lớn tới cân đối ngân sách. Từ năm 2014 số thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ giảm đi khoảng 30.160 tỷ đồng/năm. Nếu cộng cả nguồn thu bị giảm từ thuế thu nhập cá nhân theo Luật số 26/2012/QH13 (khoảng 13.350 tỷ đồng/năm) và nguồn thu bị giảm do việc bổ sung ưu đãi thuế (khoảng 2.081 tỷ đồng/năm),… thì nguồn thu ngân sách năm 2014 sẽ bị giảm tới 45.591 tỷ đồng.[12] Như đã nói ở trên, có thể việc giảm thuế suất sẽ tạo điều kiện phát triển mạnh mẽ sản xuất - kinh doanh, từ đó doanh thu của các doanh nghiệp tăng giúp bù lại khoản sụt giảm do điều chỉnh giảm thuế suất. Tuy nhiên điều này chỉ là kỳ vọng và trong bối cảnh kinh tế trong nước bị ảnh hưởng nặng nề bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu như giai đoạn hiện nay thì kỳ vọng rất khó trở thành hiện thực, mức sụt giảm được bù đắp từ doanh thu của doanh nghiệp tăng lên nếu có cũng chỉ rất ít và không thể một sớm một chiều như những năm trước đây. Vì thế việc điều chỉnh giảm quá sâu thuế suất chung như thế sẽ tạo nên khó khăn quá lớn cho việc cân đối ngân sách nhà nước.

Với việc quy định lộ trình giảm thuế suất chung xuống còn 20% vào năm 2016 thì thiết nghĩ để tiếp tục có sự hỗ trợ, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp nhỏ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp cũng cần tiếp tục giảm thuế suất cho nhóm đối tượng này từ năm 2016, có thể nên ở mức vẫn như trong tương quan so sánh với mức thuế suất chung hiện thời là 18% - nghĩa là thấp hơn 2% so với mức thuế suất chung.

3. Về chính sách ưu đãi thuế

3.1. Kinh nghiệm các nước 

Việc áp dụng chính sách ưu đãi thuế ở các nước trên thế giới có sự khác nhau. Các nước phát triển phương Tây ít áp dụng vì cho rằng việc ưu đãi thuế sẽ gây nên sự méo mó đối với luật thuế và dễ bị lợi dụng. Trong khi đó, các nước đang phá triển ở hầu hết các nước ASEAN cũng như Châu Á thì thường sử dụng các biện pháp ưu đãi thuế nhằm thu hút đầu tư, khuyến khích một số ngành, lĩnh vực nhất định như công nghệ cao, công nghiệp tiên phong hay đặc khu kinh tế…[13]

Các biện pháp ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở các nước cũng được quy định khá đa dạng. Trong đó các biện pháp ưu đãi được áp dụng phổ biến gồm: ưu đãi về thuế suất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa; ưu đãi thuế đối với công nghiệp hỗ trợ; cho phép chuyển lỗ; miễn, giảm thuế có thời hạn; giảm nghĩa vụ thuế; cho phép khấu hao nhanh; hỗ trợ tái đầu tư; ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp hoạt động khoa học và công nghệ.[14]

Ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa

Do xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò là động lực quan trọng trong việc thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động, nhiều nước đã dành ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho nhóm doanh nghiệp này. Ví dụ Hàn Quốc quy định doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế đến 200 triệu Won (khoảng 200.000 đô la Mỹ) thì chỉ phải chịu mức thuế thu nhập doanh nghiệp 10%; có thu nhập chịu thuế từ 200 triệu Won đến 20 tỷ Won (khoảng 20 triệu đô la Mỹ) thì thuế suất là 20%; có thu nhập chịu thuế trên 20 tỷ Won thì thuế suất là 22%. Trung Quốc dành cho các doanh nghiệp nhỏ mức thuế suất ưu đãi là 20%.[15] Thái lan thì miễn thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế đến 150.000 Baht, doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế trên 150.000 Baht đến 1 triệu Baht được hưởng thuế suất ưu đãi là 15%.[16] Pháp cho các daonh nghiệp có doanh thu trước thuế dưới 7.630.000 Euro đồng thời có thu nhập chịu thuế dưới 38.120 Euro được hưởng mức thuế suất ưu đãi là 15%. Malaysia dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa - dựa theo 2 tiêu chí doanh thu và lao động - mức thuế suất ưu đãi là 20%. Còn ở Lithuania thì các doanh nghiệp nhỏ - theo tiêu chí lao động và thu nhập - hưởng mức thuế suất ưu đãi rất thấp là 5%.[17]

Về việc miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp có thời hạn

Việc áp dụng biện pháp miễn, giảm thuế có thời hạn được các quốc gia quy định khác nhau về cả thời hạn miễn, giảm cũng như đối tượng được áp dụng.

Trung Quốc chia làm 3 nhóm:

i, Đối với các ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, các liên doanh góp vốn cổ phần hoạt động ở các khu phát triển công nghệ mới và công nghệ cao hoặc tại các đặc khu kinh tế có thời hạn hoạt động từ 10 năm trở lên: được miễn thuế năm đầu tiên có lãi và giảm tiếp 50% số thuế phải nộp trong 2 năm tiếp;

ii, Đối với các doanh nghiệp có thời gian hoạt động từ 10 năm trở lên trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc tại các địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn hoặc tại các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa: được miễn thuế trong 2 năm đầu có lãi và giảm tiếp 50% số thuế phải nộp trong 3 năm tiếp theo;

iii, Đối với các doanh nghiệp có thời gian hoạt động từ 15 năm trở lên trong lĩnh vực xây dựng cảng, cầu tàu, giao thông vận tải, năng lượng, hoạt động trong các đặc khu kinh tế: được miễn thuế trong 5 năm đầu có lãi và giảm tiếp 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo.

Hàn quốc miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 5 năm kể từ năm đầu tiên có lãi và giảm tiếp 50% thuế thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm tiếp theo cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Các nước trong khu vực ASEAN cũng sử dụng biện pháp miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong khá nhiều trường hợp. Malaysia là một điển hình. Các doanh nghiệp tiên phong trong các lĩnh vực, sản phẩm khuyến khích đầu tư sẽ được hưởng ưu đãi thuế suất là 7,5% trong 5 năm kể từ ngày bắt đầu hoạt động. Một số ngành như công nghiệp vũ trụ, công nghệ sinh học… thì được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 10 đến 15 năm. Một số doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn, khó thu hồi vốn trong thời gian ngắn thì có thể được giảm trừ thuế đối với vốn đầu tư hoặc giảm trừ tái đầu tư.[18] Trong khi đó Indonesia áp dụng biện pháp miễn, giảm thuế có thời hạn cho khá nhiều ngành công nghiệp như luyện kim, lọc dầu, hóa chất cơ bản, máy công nghiệp, tài nguyên tái táo và thiết bị viễn thông. Các doanh nghiệp thuộc các ngành đó nếu đáp ứng những điều kiện nhất định[19] sẽ được miễn thuế trong 10 năm kể từ ngày bắt đầu hoạt động và được giảm 50% thuế trong 2 năm tiếp theo.

Biện pháp giảm nghĩa vụ thuế

Giảm nghĩa vụ thuế là biện pháp ưu đãi thuế theo đó người nộp thuế được giảm trừ một phần nghĩa vụ thuế trong tổng số thuế phải nộp. Biện pháp này được một số nước áp dụng. Hàn Quốc đã áp dụng biện pháp này cho các doanh nghiệp đầu tư tăng sản lượng, phát triển công nghệ và nguồn nhân lực, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường. Chẳng hạn doanh nghiệp đầu tư máy móc, trang thiết bị trước 31/12/2012 để tăng sản lượng, đảm bảo an toàn thì được giảm trừ 3% (doanh nghiệp nhỏ và vừa thì được giảm trừ 7%) số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.[20]

Biện pháp chuyển lỗ

Biện pháp này được khá nhiều nước áp dụng. Đa số các nước chỉ cho phép chuyển lỗ sang năm tiếp theo, số năm được chuyển lỗ có thể được giới hạn hoặc không. Ví dụ Thụy Điển cho phép các doanh nghiệp được chuyển lỗ sang các năm tiếp theo và không giới hạn số năm. Philippins cho phép chuyển lỗ tối đa trong 3 năm tiếp theo. Thái lan cũng chỉ cho phép chuyển lỗ trong 5 năm tiếp theo. Indonesisa cũng tương tự như Thái lan, nhưng có ngoại lệ là đối với doanh nghiệp hoạt động tại địa bàn đặc biệt hoặc trong lĩnh vực đặc biệt thì thời hạn được chuyển lỗ là 10 năm tiếp theo.

Trong khi một số nước còn cho phép chuyển lỗ ngược trở về trước, trong những trường hợp này việc quản lý thuế sẽ khá phức tạp. Ví dụ Pháp cho phép doanh nghiệp được chuyển lỗ sang các năm tiếp theo và không giới hạn số năm, nhưng trong một số trường hợp đặc biệt thì doanh nghiệp được phép chuyển lỗ ngược về trước trong vòng 1 năm và khoản thuế đã nộp sẽ được trừ vào nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp trong vòng 5 năm tiếp theo. Nhật Bản cho phép doanh nghiệp được chuyển lỗ trong 9 năm, doanh nghiệp nhỏ và vừa thì được chuyển lỗ về trước 1 năm. Hàn Quốc quy định thời hạn chuyễn lỗ cho các năm tiếp theo dài hơn - 10 năm, đồng thời cũng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa quyền được chuyển lỗ về trước 1 năm. Singapore cho phép các doanh nghiệp chuyển lỗ sang các năm tiếp theo không bị giới hạn số năm, đồng thời sẽ được chuyển lỗ về trước 1 năm tối đa là 100.000 đô la Singapore.[21] 

Ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng

Nhiều nước dành cơ chế ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho các dự án đang tiến hành mở rộng quy mô đầu tư. Việc dành cơ chế ưu đãi này là rất phù hợp cho các dự án thực hiện ở những lĩnh vực, địa bàn mà nhà nước khuyến khích đầu tư. Việc dành ưu đãi thuế cho các dự án này có thể mang lại lợi ích kinh tế lớn hơn là thiết lập các dự án mới và giữ nguyên mức thuế hiện có. Ngay trong khu vực ASEAN, nhiều quốc gia cũng đã áp dụng cơ chế ưu đãi này:[22]

Thái lan: áp dụng ưu đãi thuế đối với đầu tư, bao gồm cả đầu tư mở rộng. Các dự án được xét duyệt để hưởng ưu đãi dựa trên các tiêu sau: 1, Giá trị gia tăng tối thiểu bằng 20% doanh thu, trừ các dự án sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử, sản xuất và sản phẩm nông nghiệp; 2, doanh nghiệp mới thành lập có tỷ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu không quá 3 lần; 3, có quy trình sản xuất hiện đại, máy móc mới; 4, có hệ thống bảo vệ môi trường phù hợp; 5, các dự án có vốn đầu tư trên 80 triệu Baht (không kể tiền đất và vốn lưu động) phải có báo cáo nghiên cứu khả thi được Cơ quan quản lý đầu tư phê duyệt. Nếu được xét duyệt, các dự án có thể được hưởng các dạng ưu đãi như: 1, Miễn hoặc giảm thuế nhập khẩu đối với máy móc, nguyên liệu nhập khẩu; 2, Miễn thuế thu nhập doanh nghiệp từ 3 đến 8 năm, đồng thời được chuyển lỗ sang 5 năm sau khi hết hạn ưu đãi thuế; 3, Cổ tức từ doanh nghiệp được nhận ưu đãi trong thời gian ưu đãi thuế được miễn thuế.

Singapore: cho phép các doanh nghiệp đầu tư mở rộng được hưởng mức thuế suất thấp hơn 5% so với thuế suất chung trong thời gian 10 năm và có thể được gia hạn thêm 5 năm đối với thu nhập từ đầu tư mở rộng. Cơ sở để xem xét là: tạo ra giá trị gia tăng cao, mở rộng quy mô, mua sắm máy móc và thiết bị hiện đại.

Philippines: dành chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 3 năm cho các dự án mở rộng và làm tăng sản lượng thực tế.

Ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp có hoạt động khoa học và công nghệ

Đa phần các quốc gia đều dành ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp hoạt động khoa học và công nghệ. Trong đó đa số các nước dành ưu đãi bằng cách hỗ trợ trực tiếp cho các các doanh nghiệp thay vì lập Quỹ khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp. Trong đó có nước quy định mức ưu đãi khác nhau đối với doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ sẽ được hưởng mức ưu đãi cao hơn nhằm khuyến khích các doanh nghiệp này phát triển nghiên cứu và phát triển. Các dạng ưu đãi thường được áp dụng là:

+ Cho phép khấu trừ bổ sung: cho phép khấu trừ chi phí nghiên cứu và phát triển từ thu nhập chịu thuế ở mức cao hơn mức thực chi (Ví dụ ở Ấn độ là ở mức 150%).

+ Giảm nghĩa vụ thuế: Nghĩa là giảm mức thu nhập tính thuế (ví dụ ở Anh là 14%) hoặc hỗ trợ qua khấu trừ thuế cho chi phí nghiên cứu và phát triển trong tương lai (ví dụ ở Trung quốc thì sau khi dự án được phê duyệt, doanh nghiệp sẽ được trừ 15% chi phí tính thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm).

+ Hỗ trợ bằng tiền, miễn thuế đối với xây dựng cơ sở hạ tầng nghiên cứu, thiết bị nghiên cứu và nhân lực nghiên cứu (ví dụ ở Hàn quốc cho phép hoàn 40% chi phí bình quân hàng năm của 4 năm gần nhất).

3.2. Về quy định trong dự thảo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành quy định 5 hình thức ưu đãi thuế là: i) thuế suất ưu đãi có thời hạn (Điều 13); ii) miễn, giảm thuế có thời hạn (Điều 14); iii) giảm nghĩa vụ thuế (Điều 15); iv) chuyển lỗ (Điều 16); v) ưu đãi thuế cho doanh nghiệp hoạt động khoa học và công nghệ (Điều 17).

Theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành, Nhà nước dành mức ưu đãi cao nhất (thuế suất 10% trong 15 năm, được miễn thuế tối đa trong 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp tối đa trong 9 năm tiếp theo) cho các doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cở sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm và doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao. Đối với dự án cần đặc biệt khuyến khích đầu tư có quy mô lớn và công nghệ cao thì thời gian ưu đãi thuế suất có thể dài thêm - tối đa thêm 15 năm nữa.

Doanh nghiệp thực hiện hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường (lĩnh vực xã hội hóa) được áp dụng thế suất 10% đối với phần thu nhập từ hoạt động này.

Mức ưu đãi thấp hơn với thuế suất 20% trong 10 năm, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp tối đa 2 năm, giảm 50% số thuế tối đa trong 4 năm tiếp theo được dành cho các doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn.

Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, quỹ tín dụng nhân dân được áp dụng thuế suất ưu đãi 20%.

Trong quá trình xây dựng, thảo luận Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành, đại đa số ý kiến đều đồng tình không sửa đổi mức thuế suất ưu đãi, thời gian áp dụng thuế suất và thời gian miễn, giảm thuế 50%. Tuy nhiên cần rà soát khôi phục một số quy định về ưu đãi thuế đối với một số trường hợp như đầu tư mở rộng, doanh nghiệp thành lập mới trong khu công nghiệp; bổ sung quy định rõ hơn và cụ thể hơn để thực hiện tốt các trường hợp ưu đãi thuế hiện đang được quy định trong các luật chuyên ngành hiện hành nhưng cho đến nay vẫn chưa triển khai được một cách có hiệu quả.[23] Cụ thể cần xem xét bổ sung vào dự luật một sốnội dungcơ bản đây:

i) Bổ sung ưu đãi thuế đối với tổ chức tài chính vi mô:

Đây là loại hình doanh nghiệp xã hội mới có ở Việt Nam.[24] Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng thì tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ. Khác với quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tài chính vi mô chủ yếu hoạt động tại vùng sâu, vùng xa, cung cấp dịch vụ tới tận tay cá nhân, thông qua đó kết hợp đào tạo, hướng dẫn, giúp đỡ các cá nhân nâng cao năng lực, tự xóa đói nghèo. Với ý nghĩa xã hội đó, trong điều kiện chưa sửa đổi được Luật, ở Nghị định 122/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 124/2008/NĐ-CP Chính phủ đã dành mức thuế suất ưu đãi 20% cho tổ chức tài chính vi mô như mức hiện được áp dụng cho các quỹ tín dụng nhân dân. Vì thế việc luật hóa quy định đã có ở Nghị định 122 trong Luật sửa đổi, bổ sung Luật thuế thu nhập doanh nghiệp lần này rõ ràng là hết sức cần thiết.

ii) Ưu đãi thuế đối với dự án xây dựng nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua:

Đầu tư xây dựng phát triển nhà ở xã hội là chủ trương lớn và lâu dài của Nhà nước ta nhằm giải quyết nhu cầu về nhà ở cho nhân dân, đặc biệt trong bối cảnh thu nhập của người dân quá thấp, không đủ để thuê, mua nhà ở. Theo thống kê của Bộ Xây dựng, tính cho đến năm 2009, chỉ mới có 30% cán bộ, công chức và viên chức; 20% công nhân, lao động; 20% học sinh, sinh viên có chỗ ở ổn định. Số còn lại chưa có chỗ ở hoặc ở trong điều kiện chật hẹp, tạm bợ. Chính vì thế, để đảm bảo an sinh xã hội, góp phần xử lý vấn đề nhà ở xã hội và thực hiện các chính sách ưu đãi theo Luật nhà ở, việc bổ sung quy định ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua là hết sức cần thiết.

Do mỗi dự án nhà ở xã hội là một sản phẩm được hoàn thành ngay nên nếu dành ưu đãi về thời gian miễn, giảm thuế thì có thể không thu được thuế (nếu doanh nghiệp bán hết ngay trong năm được miễn) hoặc có thể doanh nghiệp không được ưu đãi (nếu trong năm được miễn thuế không bán được sản phẩm do quy trình xét người được mua rất chặt chẽ). Vì thế, hình thức ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nên là 10% thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư - kinh doanh nhà ở xã hội.

iii) Ưu đãi thuế đối với thu nhập của cơ quan báo chí từ hoạt động báo in theo quy định của Luật báo chí; thu nhập của cơ quan xuất bản từ hoạt động xuất bản theo Luật xuất bản:

Sản phẩm báo chí (theo quy định của Luật báo chí) là các sản phẩm văn hóa và báo chí hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao. Việc phát hành báo chí trong thời gian vừa qua của hầu hết cơ quan báo chí gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu là lỗ, thường phải nhờ cậy từ nguồn thu quảng cáo. Trong năm 2011, các báo in (kể cả hoạt động phát hành và quảng cáo) đều bị lỗ. Báo hình có nguồn thu tốt hơn do có lợi thế từ nguồn thu quảng cáo. Hoạt động xuấn bản trong thời gian qua cũng gặp nhiều khó khăn vì vừa phải làm nhiệm vụ tư tưởng, văn hóa của Đảng và Nhà nước vừa phải sản xuất - kinh doanh để tồn tại và phát triển.

Chính vì vậy, để góp phần tháo gỡ khó khăn cho các cơ quan báo trong hoạt động báo in, các cơ quan xuất bản trong hoạt động xuất bản, đảm bảo cho các cơ quan này có điều kiện tồn tại, phát triển để thực hiện các nhiệm vụ tư tưởng, văn hóa của Đảng và Nhà nước, thì rất cần dành cho hoạt động báo in và hoạt động xuất bản mức thuế suất ưu đãi 10%.

iv) Ưu đãi thuế đối với các hoạt động của doanh nghiệp liênua qn đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn:

Theo danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư tại Nghị định số 108/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư thì lĩnh vực nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thủy sản thuộc cả lĩnh vực, ngành nghề đặc biệt ưu đãi và lĩnh vực, ngành nghề ưu đãi. Theo đó sẽ được hưởng ưu đãi về tài chính (tiền sử dụng đất, tiền thuê đất) và ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành không dành ưu đãi thuế đối với các hoạt động này. Vì thế, để góp phần thực hiện chính sách tam nông và phù hợp với điều kiện thực tế, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thu nhập doanh nghiệp cần dành mức thuế suất ưu đãi cao nhất (10%) cho thu nhập của doanh nghiệp từ các hoạt động: trồng, chăm sóc rừng; nuôi trồng nông, lâm, thủy sản ở địa bàn kinh tế - xã hội khó khăn; sản xuất, nhân và lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; sản xuất, khai thác và tinh chế muối; đầu tư bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông, thủy sản và thực phẩm.

v) Ưu đãi thuế đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện các hoạt động được ưu đãi thuế theo quy định của Luật công nghệ cao:

Khoản 1 Điều 13 và Khoản 1 Điều 14 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành quy định doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại khu công nghệ cao; doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc linh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đươc hưởng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Trong khi Luật công nghệ cao quy định doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được ưu đãi cao nhất theo quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành chỉ quy định ưu đãi đối với doanh nghiệp thành lập mới, không có ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đang hoạt động. Trong khi do đặc thù của hoạt động công nghệ cao mà nhiều khi rất cần thời gian để đầu tư về công nghệ, thiết bị, nguồn nhân lực trước khi có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và nếu chiếu theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành thì các doanh nghiệp đó sẽ không được hưởng ưu đãi.

Vì thế, để khắc phục bất cập này cũng như nhằm khuyến khích phát triển công nghệ cao, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cần sửa đổi vấn đề này theo hướng dành thuế suất ưu đãi như trên cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; và cho phần thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện các dự án đầu tư mới: nghiên cứu khoa học và công nghệ; ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của Luật công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên phát triển theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; đầu tư xây dựng - kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao.

vi) Ưu đãi thuế đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thưc hiện các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường, sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc tiêu thụ chất thải, phát triển công nghệ sinh học:

Đây là các lĩnh vực thuộc danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo Nghị định 108/2006/NĐ-CP và thực tế vẫn cần phải khuyến khích đầu tư. Tuy nhiên, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành mới chỉ dành ưu đãi thuế suất 10% cho thu nhập từ thực hiện hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Để khắc phục bất cập này, góp phần đảm bảo đất nước phát triển bền vững, Luật sửa đổi, bổ sung cần dành cho thu nhập của doanh nghiệp trong các lĩnh vực nêu trên mức thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong 9 năm tiếp theo.

vii) Ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng:

Trước đây, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003 và các văn bản pháp luật hướng dẫn có quy định rằng doanh nghiệp đang hoạt động có hoạt động đầu tư mở rộng thì được ưu đãi đối với phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng mang lại. Tuy nhiên, từ năm 2009 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành đã bỏ quy định ưu đãi này (chỉ bảo lưu ưu đãi cho những dự án đầu tư mở rộng hoàn thành và đi vào sản xuất kinh doanh trong năm 2009). Thực tế cho thấy rằng các doanh nghiệp đang hoạt động có hoạt động đầu tư mở rộng dưới nhiều hình thức khác nhau: lập phân xưởng sản xuất mới, dây chuyền sản xuất mới, cơ sở sản xuất mới tại cùng địa bàn hoặc ở địa bàn khác mà không hình thành pháp nhân; đầu tư mở rộng có sự hình thành pháp nhân mới. Một số trường hợp doanh nghiệp có đăng ký phân kỳ đầu tư ngay khi đănng ký dự án đầu tư ban đầu, trường hợp dự án đầu tư ban đầu thuộc diện ưu đãi nhưng do Luật hiện hành không quy định ưu đãi đối với đầu tư mở rộng nên rốt cuộc nếu đầu tư mở rộng không thành lập pháp nhân mới trong những trường hợp này thì đầu tư mở rộng theo tiến độ đã đăng ký phân kỳ đầu tư như thế cũng không được hưởng ưu đãi thuế.

Thực tế cho thấy việc áp dụng ưu đãi đối với các doanh nghiệp đang hoạt động là cần thiết nếu hoạt động đầu tư mở rộng quy mô đầu tư vẫn được thực hiện ở các ngành, lĩnh vực, địa bàn đang được nhà nước khuyến khích đầu tư. Rõ ràng ưu đãi đối với đầu tư mở rộng trong nhiều trường hợp còn mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội cao hơn so với việc thành lập doanh nghiệp mới. Vì thế dự luật cần bổ sung quy định về miễn thuế, giảm thuế cho các dự án đầu tư phát triển dự án đầu tư đang thực hiện thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao công suất, đổi mới công nghệ sản xuất. Dĩ nhiên cũng cần quy định rõ trong Luật các tiêu chí, điều kiện được áp dụng ưu đãi nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng kẽ hở để trục lợi, gây thất thu cho ngân sách nhà nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.   Bộ Tài chính, Báo cáo tổng kết đánh giá tình hình thực hiện Luật Quản lý thuế, Hà Nội 27/2/2012.

2.   Bộ Tài chính, Dự thảo Báo cáo kinh nghiệm cải cách chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước trên thế giới, tháng 11/2012.

3.   Chính phủ, Báo cáo kinh nghiệm cải cách chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước trên thế giới.

4.   Chính phủ, Tờ trình về việc ban hành một số chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Hà Nội ngày 3/4/2013.

5.   Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (Dự thảo ngày 15/4/2013).

6.   Kỷ yếu Hội thảo “Góp ý hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp” do Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Hội doanh nhân trẻ Việt Nam và Trường Đại học Kinh tế - Luật tổ chức ngày 11/4/2013.

7.   Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008.

8.   Nguyễn Văn Phụng, Giảm thuế suất chung và điều chỉnh ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp - một số đề xuất chính sách từ thực tiễn, Kỷ yếu Hội thảo “Góp ý hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp” do Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Hội doanh nhân trẻ Việt Nam và Trường Đại học Kinh tế - Luật tổ chức ngày 11/4/2013.

9.   TS. Lê Vũ Nam, Một số ý kiến về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Kỷ yếu Hội thảo “Góp ý hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp” do Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Hội doanh nhân trẻ Việt Nam và Trường Đại học Kinh tế - Luật tổ chức ngày 11/4/2013.

10. Ủy ban tài chính - ngân sách của Quốc hội, Báo cáo một số vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Hà Nội ngày 16/4/2013.

11. Ủy ban tài chính - ngân sách của Quốc hội, Báo cáo thẩm tra sơ bộ Tờ trình của Chính phủ về việc ban hành một số chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Hà Nội ngày 11/4/2013.

12. Ủy ban tài chính - ngân sách của Quốc hội, Báo cáo thẩm tra sơ bộ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Hà Nội ngày 15/3/2013.

13. Tìm hiểu thuật ngữ pháp luật tài chính công – Tác giả: ThS.Trần Vũ Hải, Nxb.Tư Pháp, Hà Nội, 2009.

 


[1] TS. Lê Vũ Nam, Một số ý kiến về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp trong Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, Kỷ yếu Hội thảo “Góp ý hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp” do Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Hội doanh nhân trẻ Việt Nam và Trường Đại học Kinh tế - Luật tổ chức ngày 11/4/2013.

[2] Bộ Tài chính, Dự thảo Báo cáo kinh nghiệm cải cách chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước trên thế giới, tháng 11/2012.

[3] Đối với hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác thì mức thuế là cao hơn (từ 32% đến 50%) tùy thuộc vào vị trí trí, điều kiện khai thác và trữ lượng mõ. Để định hướng thu hút đầu tư vào một số lĩnh vực cần khuyến khích, đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 quy định mức thuế suất ưu đãi có thời hạn tương ứng là 20% và 10%.

[4] Ủy ban tài chính - ngân sách của Quốc hội, Báo cáo thẩm tra sơ bộ Tờ trình của Chính phủ về việc ban hành một số chính sách thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Hà Nội ngày 11/4/2013.

[5] Ngày 15/4/2013.

[6] Chính phủ, Báo cáo kinh nghiệm cải cách chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp của một số nước trên thế giới.

[7] Bộ tài chính, Báo cáo tổng kết đánh giá tình hình thực hiện Luật Quản lý thuế, Hà Nội 27/2/2012.

[8] Nguyễn Văn Phụng, Giảm thuế suất chung và điều chỉnh ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp - một số đề xuất chính sách từ thực tiễn, Kỷ yếu Hội thảo “Góp ý hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp” do Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Hội doanh nhân trẻ Việt Nam và Trường Đại học Kinh tế - Luật tổ chức ngày 11/4/2013.

[9] Nguyễn Văn Phụng, tài liệu đã dẫn.

[10] Cũng có một số nước sử dụng một trong hai tiêu chí là doanh thu hoặc lao động (như Malaysia), hoặc một số nước chỉ sử dụng 1 tiêu chí là thu nhập như Hàn Quốc hay Thái lan.

[11] Nguyễn Văn Phụng, tài liệu đã dẫn.

[12] Nguyễn Văn Phụng, tài liệu đã dẫn.

[13] Chính phủ, tài liệu đã dẫn.

[14] Chính phủ, tài liệu đã dẫn.

[15] Chính phủ, tài liệu đã dẫn.

[16] http://www.doingbusinessthailand.com/thailand-taxes/thailand-taxe-understanding-tax-corporate-income-tax.html

[17] Chính phủ, tài liệu đã dẫn.

[18] Chính phủ, tài liệu đã dẫn.

[19] Bao gồm các điều kiện như: i, thành lập sau ngày 15/8/2010; ii, có vốn đầu từ trên 1000 tỷ IDR (khoảng 116 triệu đô la Mỹ); ít nhất 10% vốn đầu tư được gửi tại ngân hàng ở Indonesia và không được rút trước khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động.

[20] Chính phủ, tài liệu đã dẫn.

[21] Chính phủ, tài liệu đã dẫn.

[22] Chính phủ, tài liệu đã dẫn.

[23] Nguyễn Văn Phụng, tài liệu đã dẫn.

[24] Hiện ở Việt Nam chỉ có 2 tổ chức được thành lập đó là Quỹ tình thương thuộc Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam và M7.

Trần Thị Thu Thủy

Chuyên viên Trung tâm Thông tin Khoa học - Viện Nghiên cứu lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống