Kinh tế Thế giới tháng 4/2012: Dấu hiệu chững lại

04/06/2012
Tháng 4/2012 ghi nhận đà phục hồi thiếu ổn định của kinh tế Thế giới với dấu hiệu chững lại trên thị trường lao động của Mỹ, những khó khăn mới của kinh tế Nhật Bản và những rủi ro còn hiện hữu đối với khu vực kinh tế Châu Âu. Tốc độ tăng trưởng tiếp tục chậm lại tại một số nền kinh tế đang nổi, trong đó nổi bật là Trung Quốc, Ấn Độ và Braxin cộng với sự leo thang của giá nhiên liệu thế giới cũng đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với triển vọng kinh tế toàn cầu.

In April, the world economy witness fragile recovery with new difficul-ties in Japan economy, continues risks in Europe economy and stagnant labour market in US. Economic slow down in emerging economies, notably China, India and Brazil combined with scalling up of global fuel prices also pose great challenge on the world economic prospects.

Provided that Vietnam sucessfully conducts economic restructuring, improves business environment and stabilize macro economy, Vietnam is likely to be one of the most attractive destinations to regional as well as international investors. This will both require and allow Vietnam to adjust its policy on FDI attraction toward prefering environmental friendly technology, saving energy technology... With regard to trade, the appreciation of Japanese yen and Chinese reminbi will generate certain opportunities for Vietnamese commodities to these two markets. Besides, possible continued higher prices of oil and key commodities will create presure on inflation of Vietnam.

Tháng 04/2012 ghi nhận đà phục hồi thiếu ổn định của kinh tế thế giới với dấu hiệu chững lại trên thị trường lao động của Mỹ, những khó khăn mới của kinh tế Nhật Bản và những rủi ro còn hiện hữu đối với khu vực kinh tế châu Âu. Tốc độ tăng trưởng tiếp tục chậm lại tại một số nền kinh tế đang nổi, trong đó, nổi bật là Trung Quốc, Ấn Độ và Braxin cộng với sự leo thang của giá nhiên liệu thế giới cũng đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với triển vọng kinh tế toàn cầu.

1. Những diễn biến mới của kinh  tế thế giới tháng 04/2012

Tháng 04/2012, đà phục hồi của kinh tế toàn cầu “vẫn rất mong manh” và tiếp tục dễ bị tổn thương trước nhiều nguy cơ hiện hữu. Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới (WEO) của Tổ chức Tiền tệ Quốc tế (IMF) được công bố tháng 4 vừa qua đã dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ là 3,5% trong năm 2012 và 4,1% vào năm 2013, cao hơn so với mức dự báo lần lượt là 3,3% và 4% mà tổ chức này đưa ra vào tháng 1/2012.

Tại Mỹ, thống kê từ Bộ Lao động Mỹ cho thấy: tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế lớn nhất thế giới này tiếp tục giảm xuống còn 8,2% vào tháng 3/2012 – mức thấp nhất trong 3 năm (kể từ tháng 2/2009). Thị trường chứng khoán Mỹ 2 tuần giữa tháng 4 đã có mức sụt giảm mạnh nhất kể từ tháng 11/2011. Kết thúc phiên giao dịch cuối tuần ngày 13/4, chỉ số công nghiệp Dow Jones mất 136,99 điểm, tương đương 1,05%, xuống mức 12.849,59 điểm. Chỉ số S&P 500 chốt phiên tại 1.370,26 điểm sau khi mất 17,31 điểm, tương đương 1,25%[1]. Trong khi đó, ngân sách Mỹ vẫn tiếp tục nằm trong tình trạng thâm hụt lớn. Ngày 6/4/2012, Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO) công bố bản báo cáo cập nhật cho biết thâm hụt cán cân thu chi của Chính phủ liên bang Mỹ trong 6 tháng đầu của tài khóa 2012 (bắt đầu từ tháng 10/2011) đã lên tới 780 tỷ USD và dự báo thâm hụt cả năm tài khóa 2012 sẽ là 1.170 tỷ USD. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Mỹ tháng 3 chỉ tăng nhẹ 0,3%, tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát vẫn cao hơn tốc độ tăng thu nhập của các hộ dân. Trên thực tế, doanh số bán lẻ của Mỹ vẫn duy trì được đà tăng trưởng với tốc độ tăng 0,8% trong tháng 3/2012 (cao hơn gần gấp ba lần so với mức dự báo trung bình mà 81 chuyên gia kinh tế tham gia khảo sát của Bloomberg đưa ra), sau khi đã tăng 1,1% trong tháng 02/2012. Chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 3/2012 tiếp tục tăng 0,3% sau khi tăng 0,4% trong tháng 2/2012.

Mặc dù nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Mỹ lên 2,1% trong năm nay và 2,4% trong năm 2013 (so với mức dự báo 1,8% và 2,2% đưa ra trong tháng 1/2012), Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới cũng cảnh báo việc gia hạn chính sách giảm thuế thu nhập và trợ cấp thất nghiệp có thể gây thiệt hại cho nền kinh tế nước này, nguyên nhân chính là chính sách này sẽ cản trở các biện pháp thắt chặt chi tiêu mà Chính phủ Mỹ đề ra. IMF kêu gọi các nhà hoạch định chính sách Mỹ nỗ lực giải quyết vấn đề nợ công. Đây quả là một nhiệm vụ khó khăn, đặc biệt là khi nó được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế vẫn nằm trong tình trạng suy thoái. Theo IMF, Mỹ cần ưu tiên thực hiện một chính sách tài chính “đáng tin cậy” để có thể giải quyết vấn đề nợ công “một cách bền vững” trong trung hạn.

Khu vực châu Âu vẫn tiếp tục đối mặt với nhiều rủi ro như tỷ lệ thất nghiệp cao, chi phí năng lượng tăng, bất ổn về tài khóa ở một số nước và vấn đề nợ công chưa được giải quyết dứt điểm. Theo số liệu được Cục thống kê Liên minh châu Âu (Eurostat) công bố ngày 17/4, trong tháng 3/2012, tỷ lệ lạm phát của 17 nước khu vực Eurozone là 2,7%, cao hơn mức 2,6% được dự đoán vào cuối tháng 02/201. Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng này là giá năng lượng tăng cao. Cùng với việc cắt giảm ngân sách, lạm phát tăng cao đã làm giảm tiêu dùng và đầu tư, khiến khu vực Eurozzone tiếp tục gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là về mặt kinh tế - xã hội[2]. Chỉ số Flash Eurozone PMI Composite Output Index tháng 3/2012 đã giảm xuống còn 48,7 điểm (mức thấp nhất trong 3 tháng vừa qua, thấp hơn so với 49,3 điểm trong tháng 02/2012). Điều này cho thấy, các hoạt động kinh tế của châu Âu đã tiếp tục bị thu hẹp trong quýI/2012. Tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực Eurozone ước tính giảm 0,3% trong quý I/2012, sau khi đã sụt giảm với mức độ tương đương trong quý IV/2011. Diễn biến này có thể sẽ còn kéo dài tới hết quý II/2012, thậm chí sang cả quý III/2012 bởi cả tình hình đầu tư lẫn tiêu dùng chưa có dấu hiệu được cải thiện. Điểm sáng duy nhất của kinh tế khu vực này là sản lượng công nghiệp trong tháng 3/2012 đã tăng 0,5% so với tháng 2. Tuy nhiên, các chuyên gia kinh tế đánh giá rằng mức tăng này cũng chỉ là tạm thời, chưa phải là sự ổn định trong dài hạn.

Việc giải quyết nợ công của một số nền kinh tế trong khu vực vẫn còn rất khó khăn, nhất là sau khi Italia tuyên bố lùi thời điểm đạt cân bằng ngân sách lại một năm do suy thoái sâu. Nền kinh tế Italia cũng đang bị coi là rất bấp bênh. Nợ công của Italia trong tháng 2/2012 đã giảm nhẹ so với tháng trước, nhưng vẫn ngấp nghé mức cao kỷ lục hồi tháng 7/2011 là 1.911,8 tỷ EUR. Tỷ lệ thất nghiệp của nước này năm 2012 dự kiến là 9,5% (trong khi mức trung bình của khu vực Eurozone là 10,9%). Việc Italia điều chỉnh lại kế hoạch kinh tế lập tức làm dấy lên những lo ngại của thị trường về tác động của những chính sách thắt lưng buộc bụng toàn châu Âu.

Bên cạnh đó, tình hình kinh tế tại các nền kinh tế thành viên vẫn là mối lo lớn. Ngày 19/4, Tây Ban Nha phát hành các loại trái phiếu có kỳ hạn 2 năm, 10 năm. Đây được coi là cuộc thử nghiệm quan trọng về lòng tin của nhà đầu tư đối với nền tài chính cũng như năng lực kiểm soát nợ của quốc gia này. Diễn biến thực tế cho thấy, lãi suất trái phiếu kỳ hạn 10 năm của nước này tăng 16 điểm cơ bản, lên 5,98%, sát với mức 7% - mức khiến Hy Lạp, Ai len và Bồ Đào Nha phải nhận gói cứu trợ. Mặt khác, không bán được đủ lượng trái phiếu dự kiến, ngày 16/4, Chính phủ Tây Ban Nha đã phải kêu gọi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) mua trái phiếu chính phủ của nước này. Tây Ban Nha đang nỗ lực giảm thâm hụt ngân sách từ 8,5% GDP năm 2011 xuống 5,3% vào năm 2012. Đây là những nỗ lực nhằm thuyết phục thị trường rằng nước này sẽ không “nối gót” Hy Lạp phải xin cứu trợ tài chính từ bên ngoài. Trên một khía cạnh khác, tình trạng thất nghiệp của nước này dự kiến vẫn dẫn đầu khu vực, với tỷ lệ thất nghiệp tháng 3/2012 là 24,3%[3].

Với quan điểm khu vực Eurozone vẫn đang phải đối mặt với suy thoái kinh tế và những rủi ro vỡ nợ khó có thể định lượng, IMF dự báo tăng trưởng của khu vực này sẽ sụt giảm 0,3% trong năm 2012. Chỉ số này đã được cải thiện so với mức sụt giảm 0,5% được dự báo trước đó. Đối với Tây Ban Nha, IMF dự báo tăng trưởng của nước này sẽ suy giảm 1,8% - cao hơn so với mức dự báo 1,6% trước đó. IMF cũng hạ dự báo tăng trưởng của Hy Lạp (xuống còn 4,7%) và Bồ Đào Nha (xuống còn 1,8%), tốc độ tăng trưởng GDP của Italia được IMF cũng được dự báo sẽ sụt giảm 1,9% trong năm nay và 0,3% vào năm tới.

Những số liệu không mấy khả quan về thương mại và lạm phát cũng cho thấy những khó khăn mới của nền kinh tế Nhật Bản trong tháng 4/2012, khi Chính phủ nước này đang tập trung tái thiết nền kinh tế sau trận động đất và sóng thần năm 2011.

Theo số liệu do Bộ Tài chính Nhật Bản công bố ngày 19/4/2012, thâm hụt thương mại của Nhật Bản trong năm tài khóa 2011 (kết thúc tháng 3/2012) lên tới 4.410 tỷ Yên (tương đương 54 tỷ USD). Trong năm tài khóa 2011, xuất khẩu của Nhật Bản giảm 3,7% so với năm trước đó, nhập khẩu tăng 11,6%. Đây là con số thâm hụt thương mại lớn nhất từ trước đến nay sau hàng chục năm có thặng dư thương mại nhờ xuất khẩu mạnh. Nguyên nhân của việc thâm hụt này là việc tái thiết nền kinh tế sau thảm họa sóng thần và khủng hoảng hạt nhân năm 2011 buộc Nhật Bản phải tăng cường nhập khẩu dầu khí để bổ sung cho tình trạng thiếu điện giữa lúc giá nhiên liệu trên thị trường thế giới ở mức cao (cho đến nay, còn 54 lò phản ứng hạt nhân vẫn phải đóng cửa).

Ngoài ra, do tác động tiêu cực của việc đồng Yên tăng giá, kinh tế Nhật Bản có thể sẽ phải chịu nguy cơ lạm phát kéo dài. Chỉ  số CPI tháng 3/2012 tăng lên mức 0,3% (so với 0,1% trong tháng 1/2012). Việc đồng Nhân dân tệ mạnh lên kích thích sức mua của Trung Quốc. Nhân tố này một mặt làm gia tăng sản xuất, nhưng mặt khác lại làm tăng giá cả ở Nhật Bản khiến lạm phát ngày càng gia tăng. Đối phó với tình trạng này, các công ty Nhật Bản đang dần chuyển hoạt động sản xuất ra nước ngoài. Các nhà phân tích cho rằng nếu tiếp tục nhập khẩu nhiên liệu giá cao, người tiêu dùng Nhật Bản sẽ chịu thiệt hại nặng hơn và làm nền kinh tế nước này tổn hại lớn hơn. Các yếu tố khác thúc đẩy lạm phát ở Nhật Bản giá dầu mỏ tăng, mức thuế cao hơn và chi tiêu gia đình tăng lên khi luật thuế kinh doanh mới được áp dụng vào năm 2014 và 2015. IMF dự báo kinh tế Nhật Bản sẽ tăng trưởng 2% trong năm nay, cao hơn chút ít so với mức 1,7% năm 2011.

Các số liệu thống kê trong tháng đều cho thấy nền kinh tế Trung Quốc đang tiếp tục tăng trưởng chậm lại. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Trung Quốc trong tháng 3/2012 chỉ đạt 11,76 tỷ USD, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước và là tháng sụt giảm thứ 5 liên tiếp[4]. Lý do là các công ty thu hẹp đầu tư trước tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu. FDI trong quý I/2012 đạt 29,48 tỷ USD, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm trước. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế quý I/2012 của Trung Quốc ghi nhận kim ngạch xuất nhập khẩu nước này đạt 859,3 tỷ USD, tăng 7,3%. Trong đó, xuất khẩu đạt 430 tỉ USD, tăng 7,6%, nhập khẩu đạt 429,3 tỷ USD tăng 6,9%, xuất siêu đạt 670 triệu USD, giảm nhiều so với chỉ tiêu cùng kỳ của những năm trước. Ngoại thương năm 2012 của Trung Quốc chỉ tăng nhẹ, dự đoán cả năm có thể đạt mức xấp xỉ 10%, kém xa tốc độ tăng trưởng của những năm trước. Tình hình xuất nhập khẩu của Trung Quốc với các đối tác lớn trong quý I/2012 cũng tăng không nhiều, cụ thể là: với châu Âu - đối tác buôn bán lớn nhất của Trung Quốc cũng chỉ tăng có 4,7%; với Mỹ tăng 9,2%; với Nhật Bản tăng 0,5%; với Ấn Độ, giá trị nhập khẩu giảm 10,6% và xuất khẩu giảm 1,2%.

Trước tình hình này, ngày 16/4/2012, Ngân hàng Nhà nước Trung Quốc đã nới rộng biên độ dao động của tỷ giá đồng Nhân dân tệ với đồng USD từ 0,5% lên 1% - điều này cũng có thể sẽ tạo ra những rủi ro tài chính rất lớn. Tình trạng tỷ giá không ổn định đã tác động đáng kể tới xuất khẩu của các doanh nghiệp. Kể từ quý I/2010 tới nay, Ngân hàng Nhà nước Trung Quốc đã 5 lần tăng lãi suất (mỗi lần 0,25%) nhưng hiệu quả vẫn không được như mong đợi. Dự kiến trong vòng 5 năm tới, tăng trưởng ngoại thương hàng năm của Trung Quốc có thể chỉ đạt mức trên dưới 6%. Tuy vậy, IMF vẫn nhận định Trung Quốc tiếp tục là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới, với tốc độ tăng 8,2% trong năm 2012 và 8,8% năm 2013, chủ yếu nhờ chỉ số tiêu dùng và đầu tư tăng cao. Chỉ số này cao hơn mức tăng trưởng mà Trung Quốc vừa điều chỉnh (7,5%) khá đáng kể.

Một số nền kinh tế đang nổi khác cũng đang đối mặt với tình trạng tăng trưởng chậm. Cục Thống kê Ấn Độ dự báo tổng sản phẩm quốc nội của nước này có thể chỉ tăng 6,9% trong năm tài khóa kết thúc vào tháng 3/2012. Trong giai đoạn 2010-2011, nền kinh tế lớn thứ 3 châu Á này đạt tốc độ tăng trưởng 8,4%. Tháng 4/2012, sau 36 tháng liên tục thắt chặt tiền tệ và giữ nguyên mức lãi suất nhằm kiềm chế lạm phát, Ngân hàng Trung ương Ấn Độ (RBI) đã quyết định cắt giảm lãi suất nhằm mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ lên 9% như thời điểm trước cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu năm 2008. Tỷ lệ lạm phát của Ấn Độ là 6,89% trong tháng 3 vừa qua, cao so với mức dự kiến 6,7%[5]. RBI cũng đã lần lượt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại để thúc đẩy hoạt động cho vay và tăng trưởng kinh tế.

Ngày 5/4, trước tình trạng nền kinh tế tăng trưởng chậm lại, Chính phủ Braxin đã công bố gói kích thích kinh tế với trị giá khoảng 65 tỷ real (35 tỷ USD), tương đương 1,5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nhằm hỗ trợ lĩnh vực công nghiệp. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia, nó chỉ có tác động nhỏ đến hoạt động công nghiệp, do còn nhiều hạn chế nghiêm trọng về cơ cấu chính phủ, cơ sở hạ tầng cũng như trình độ người lao động. EIU dự báo GDP của Brazil sẽ chỉ tăng trưởng 3,3% trong năm 2012, trong đó quý I sẽ chỉ đạt 0,6% và sẽ tăng lên trong nửa cuối năm.

Báo cáo của IMF dự báo tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển vẫn sẽ khả quan, có thể đạt mức 5,7% trong năm nay. Tuy nhiên, các nước này vẫn sẽ phải đối mặt với rủi ro về lạm phát, dự báo vào khoảng 6,2% trong năm nay và 5,6% trong năm 2013.

2. Tác động tới kinh tế Việt Nam

Trong báo cáo Triển vọng Kinh tế thế giới công bố ngày 3/4, IMF nhận định các nền kinh tế đang nổi tại châu Á, trong đó có Việt Nam chịu tác động không nhỏ bởi kim ngạch xuất khẩu giảm sút trong năm trước, nhưng được bù lại bởi nhu cầu tiêu thụ nội địa đã tăng mạnh. IMF cũng cho rằng, nhóm ASEAN-5 gồm: Inđônêxia, Philípin, Thái Lan, Malaixia và Việt Nam sẽ đạt mức tăng trưởng cao trong năm 2012 và 2013, cụ thể là: năm 2012 sẽ tăng trưởng 5,4% và năm 2013 sẽ là 6,2%[6]. Đồng thời, do tốc độ hoạt động kinh tế của khu vực đã chậm lại và dòng vốn giảm, áp lực lạm phát sẽ suy yếu và tăng trưởng tín dụng tại các nước này cũng sẽ chậm lại. Theo dự báo của IMF, lạm phát trong khu vực châu Á nói chung sẽ giảm từ 5% năm 2011 xuống dưới 4% năm 2012 và 3,5% năm 2013. Tuy nhiên, IMF cho rằng do các nguồn lực bên ngoài là khá mong manh, trong những năm tới, các nước này cần tăng cường khai thác các nguồn lực trong nước.

Các tập đoàn kinh tế đa và xuyên quốc gia đã ngừng hoặc thu hẹp quy mô sản xuất ở nhiều địa điểm truyền thống hoặc đã được đầu tư và khai thác từ nhiều năm (thậm chí từ một vài thập kỷ). Điều này sẽ dẫn tới sự thay đổi đáng kể trong cấu trúc địa lý của các chuỗi cung ứng toàn cầu và làm biến đổi các dòng vốn đầu tư quốc tế. Đối với Việt Nam, đây vừa là sức ép nhưng đồng thời cũng có thể được coi là một cơ hội để lựa chọn và thu hút các dự án FDI trong giai đoạn tới. Từ đó, Việt Nam có thể thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế nhằm tạo ra những thay đổi mang tính bước ngoặt, đặc biệt là nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia. Với các doanh nghiệp, những biến động trên tạo ra sức ép ngắn hạn (tìm kiếm khách hàng, ký kết các hợp đồng ngắn hạn để duy trì sản xuất, tạo việc làm cho người lao động), nhưng đồng thời cũng là cơ hội để thiết lập các quan hệ chiến lược và cơ hội này có thể chỉ tồn tại trong năm 2012 (chậm nhất là tới đầu năm 2013).

Bên cạnh đó, vốn FDI vào Việt Nam vẫn được duy trì ở mức khá trong thời điểm sụt giảm chung về FDI trên thế giới. Đặc biệt là trong bối cảnh một số nền kinh tế đang nổi như Trung Quốc, Ấn Độ là những đối thủ cạnh tranh của Việt Nam đang đối mặt với tình trạng tăng trưởng chậm và các nhà đầu tư thế giới cũng đang giảm niềm tin vào các nền kinh tế nước này. Nếu như Việt Nam thực hiện công cuộc tái cấu trúc nền kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh và ổn định kinh tế vĩ mô thì nhiều khả năng Việt Nam sẽ trở thành một trong những điểm đến đầu tư hấp dẫn nhất của khu vực cũng như thế giới. Điều này vừa đòi hỏi, vừa cho phép Việt Nam cân nhắc để điều chỉnh chính sách thu hút FDI theo hướng tiếp nhận có cân nhắc, khuyến khích và yêu cầu các chủ đầu tư FDI đưa vào Việt Nam những công nghệ tiên tiến thích hợp, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực và ít gây tổn hại tới môi trường. Năng lực của các doanh nghiệp Việt Nam cần được tăng cường theo hướng có thể đánh giá, lựa chọn và tiếp nhận được những công nghệ thích hợp.

Đối với lĩnh vực xuất nhập khẩu, việc đồng Yên và đồng Nhân dân tệ lên giá cũng tạo ra những cơ hội nhất định cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào 2 nước này do khi Yên Nhật Bản và Nhân dân tệ tăng giá sẽ khiến năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam vào chính thị trường Nhật Bản và Trung Quốc tăng lên. Cơ hội cho Việt Nam vào 2 thị trường này còn được củng cố bởi chính sách giảm thiểu sự phân hóa xã hội của Trung Quốc (khiến nhu cầu hàng hóa có chất lượng vừa phải, yêu cầu về kiểu dáng, chất lượng, an toàn tiêu dùng không cao sẽ tăng lên) và nhu cầu tái thiết cao của Nhật Bản. Tuy nhiên, những biện pháp và công cụ hỗ trợ của Chính phủ (đặc biệt là các biện pháp xúc tiến thương mại) cần được định hướng mạnh mẽ và cụ thể hơn vào các lĩnh vực có liên quan thuộc 2 thị trường nói trên để khai thác các cơ hội ở đây tốt hơn.

Ngoài ra, nguy cơ giá dầu thế giới tiếp tục tăng cao sẽ vẫn gây ra những sức ép đối với giá nhiên liệu trong nước, chính điều này sẽ là nhân tố khiến lạm phát gia tăng. Việc các nền kinh tế đang nổi lớn trong khu vực là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản đang thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ cũng có khả năng làm tăng áp lực đối với giá hàng hóa thế giới do nhu cầu đối với hàng hóa từ các thị trường này tăng lên cũng sẽ gây thêm sức ép đối với lạm phát tại Việt Nam./.

TRẦN THỊ THU HÀ - Ban Kinh tế thế giới

Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia



[1] Sắc đỏ bao trùm cả 10 nhóm ngành chính của S&P 500. Dẫn đầu đà sụt giảm là cổ phiếu ngành tài chính ngân hàng với 2,09% sau khi lợi nhuận công bố của các ngân hàng lớn không được nhưˆkỳ vọng.

[2] Ngày 8/3, ECB công bố  tỷ lệ lạm phát của khu vực đồng euro có thể sẽ đạt mức trung bình 2,4% trong năm 2012  và 1,6% trong năm 2013 trong khi ECB có mục tiêu giữ tỷ lệ lạm phát ở mức dưới 2%.

[3] Ngày 17/4, IMF đã đưa ra dự báo tỷ lệ thất nghiệp của Tây Ban Nha năm 2012 là 24,2% và còn 23,9% vào năm 2013.

[4] Số liệu từ Bộ Thương mại Trung Quốc

[5] Cục Thống kê Ấn Độ

[6] Năm ngoái, tỷ lệ tăng trưởng của ASEAN-5 chỉ đạt 4,5%

Nguồn tin: Thông tin và dự báo Kinh tế - Xã hội

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống