Dư luận xã hội và trưng cầu ý kiến

22/11/2011

I.1. Dư luận xã hội.

I.1.1. Khái niệm.

Dư luận xã hội là một dạng đặc biệt của ý thức xã hội, được biểu hiện bằng những chính kiến cụ thể thuộc một nhóm đông người hoặc tập thể, tầng lớp, giai cấp, nhiều khi là cả một cộng đồng (địa phương, cả nước, khu vực, cộng đồng thế giới...) đối với những vấn đề mà họ quan tâm.[1]

Khi một sự kiện xã hội nào đó xuất hiện và tác động đến số đông thì mỗi người trong số đông đưa ra những ý kiến riêng nói lên sự đánh giá của mình. Bên trong các nhóm xã hội nhỏ xuất hiện các ý kiến tập thể do sự tương tác giữa các ý kiến cá nhân, sau đó chuyển thành dư luận xã hội trong các nhóm xã hội lớn.

I.1.2. Chức năng của Dư luận xã hội.

1. Chức năng điều hoà các mối quan hệ xã hội: Trong đời sống chính trị xã hội thường có những sai lệch, dư luận xã hội cùng với pháp luật được coi là công cụ để điều chỉnh xã hội. Sức mạnh của dư luận xã hội có khả năng điều hoà các mối quan hệ xã hội như phản đối, gây sức ép, hạn chế hành vi của các nhóm cực đoan, củng cố, cổ vũ các hành vi vì lợi ích chung của sự tiến bộ xã hội. Trong các quan hệ chính trị, đặc biệt là trong các cuộc vận động tranh cử, chức năng điều hoà các mối quan hệ xã hội có tác dụng ở chỗ làm cho các lực lượng chính trị xã hội hạn chế các hành động quá khích. Ở các xã hội chậm phát triển chức năng này trong một số trường hợp còn tỏ rõ sức mạnh hơn cả luật pháp, nó giúp cho các tổ chức nhà nước, các thiết chế xã hội thay đổi, bổ sung, điều chỉnh các chủ trương, cương lĩnh trong các chương trình hành động xã hội.

2. Chức năng kiểm soát: Thông qua sự giám sát đánh giá của quần chúng về các hiện tượng xã hội, các đánh giá này cho thấy các thông tin về thực trạng xã hội giúp cho bộ máy quản lý, lãnh đạo các tổ chức xã hội xem xét các hoạt động của mình có phù hợp với các lợi ích của xã hội hay không.

3. Chức năng giáo dục: Trong xã hội, hành vi của cá nhân bị điều chỉnh bởi sức mạnh của pháp luật và hành vi cá nhân còn bị chế ước bởi dư luận xã hội thông qua các sự đánh giá (tốt, xấu, khen, chê...). Sự đánh giá này có tác động mạnh mẽ đến việc giáo dục cho người ta lựa chọn các phương án ứng xử, duy trì các hành vi phù hợp với các chuẩn mực chung của xã hội. Chức năng giáo dục của dư luận xã hội có tác động đến nhiều tầng của xã hội, từ người dân đến những người phụ trách hệ thống quản lý. Việc các nhà lãnh đạo chủ trương điều tra dư luận là xem sự đánh giá của nhân dân trong các hoạt động của cơ quan quản lý có phù hợp với  nguyện  vọng  của  quần  chúng  nhân dân hay không.

4. Chức năng tư vấn: Trước những vấn đề khó khăn và phức tạp, thông qua sự đánh giá của số đông các tầng lớp xã hội, dư luận xã hội có thể đưa ra các kiến nghị, các đề xuất mà hoạt động tổ chức, quản lý nhà nước và xã hội có thể xem đó là những lời khuyên để định hướng hoạt động.

I.1.3. Ý nghĩa của việc nghiên cứu dư luận xã hội.

1. Dư luận xã hội là công cụ để mở rộng quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng nền dân chủ rộng rãi trên các mặt của đời sống xã hội, một biện pháp để nhân dân tham gia quản lý Nhà nước.

2. Tăng cường mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng nhân dân.

3. Thực hiện quản lý xã hội trên cơ sở khoa học.

Dư luận xã hội là một cấu trúc tinh thần thực tế nó vừa phản ánh tồn tại xã hội vừa biểu hiện tinh thần của đời sống xã hội. Nó không chỉ phản ánh tồn tại xã hội bằng sự tác động tích cực của dư luận xã hội đối với thực tế, nó còn thúc đẩy sự tiến bộ xã hội. Vì vậy, dư luận xã hội được coi là một công cụ quan trọng trong hệ thống tổ chức và quản lý xã hội một cách khoa học.

          Khách thể của dư luận xã hội có thể là những sự kiện hết sức khác nhau trong đời sống xã hội. Lợi ích chung được xem là tiêu chuẩn hàng đầu để xác định khách thể của dư luận xã hội. Tranh luận là dấu hiệu thứ  hai để xem xét khách thể của dư luận xã hội, những tranh luận này gắn với lợi ích xã hội và được mọi người có nhu cầu quan tâm.

          Chủ thể của dư luận xã hội là các nhóm xã hội lớn, các tổ chức đoàn thể xã hội, hay là toàn thể xã hội. Do đó khi xem xét dư luận xã hội người ta không chỉ đặt nó trong cấu trúc ý thức xã hội nói chung, mà phải phân tích nó trong cấu trúc các quan hệ xã hội.

Bản chất của dư luận xã hội phản ánh vị thế xã hội trong sự tương tác với các cá nhân và các nhóm xã hội được tạo nên bởi các lợi ích của họ.

I.1.4. Các thuộc tính của dư luận xã hội.

          - Tạo nên mối quan tâm của số đông;

          - Phản ánh lợi ích xã hội;

          - Thường có tính cấp thiết (thất nghiệp, vệ sinh an toàn thực phẩm, đất đai...)

I.1.5. Quá trình hình thành dư luận xã hội.

          - Bước 1: Các cá nhân, các nhóm xã hội tiếp xúc làm quen tạo nên cảm giác ban đầu và trao đổi thông tin về các sự kiện, hiện tượng.

          - Bước 2: Trao đổi bàn luận về các ý kiến xung quanh đối tượng của dư luận xã hội, tại đây các ý kiến cá nhân chuyển từ ý thức cá nhân sang ý thức xã hội.

- Bước 3: Các ý kiến khác nhau được thống nhất lại trên những quan điểm cơ bản để hình thành sự đánh giá chung về các hiện tượng, các quá trình xã hội.

- Bước 4: Từ việc đánh giá dẫn đến sự phán xét về hành động và rút ra những kiến nghị trong hoạt động thực tiễn.

 

I.2. Trưng cầu ý kiến.

Phương pháp phỏng vấn bằng lời và phương pháp trưng cầu ý kiến với bảng tự ghi đều dựa trên nội dung các câu hỏi. Có một số tác giả gộp hai phương pháp này dưới một cái tên là trưng cầu ý kiến, vì cả hai đều dựa trên sự tác động qua lại về mặt tâm lý xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp giữa người đi hỏi và người được hỏi. Đứng từ góc độ nào đó việc ghép hai phương pháp này là hoàn toàn hợp lý.

I.2.1. Phương pháp phỏng vấn.

Phỏng vấn là phương pháp cụ thể để thu thập thông tin của nghiên cứu xã hội học thông qua việc tác động tâm lý - xã hội trực tiếp giữa người đi hỏi và người được hỏi nhằm thu thập thông tin phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu.

Nguyên tắc giữ bí mật và nguyên tắc của sự cho phép trong phỏng vấn của nghiên cứu xã hội học cũng được đặc biệt quan tâm. Điều đó cũng xuất phát từ cơ sở: mục đích cuối cùng của phỏng vấn trong nghiên cứu xã hội học không phải là thông tin của từng cá nhân riêng biệt, mà là thông tin của cả tổng thể bao gồm một tập hợp cá nhân nhất định.

          I.2.2. Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi (Bản Anket). Phương pháp này được sử dụng khá phổ biến cho việc thu thập thông tin trong các nghiên cứu xã hội học.

          Bảng hỏi là một hệ thống các câu hỏi được xếp đặt trên cơ sở các nguyên tắc tâm lý logic và theo nội dung nhất định nhằm tạo điều kiện cho người được hỏi thể hiện được quan điểm của mình với những vấn đề thuộc về đối tượng nghiên cứu và người nghiên cứu thu nhận được các thông tin cá biệt đầu tiên đáp ứng các yêu cầu của đề tài và mục tiêu nghiên cứu.

          Trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi tự ghi (poll): Trong phương pháp này, người được hỏi tiến hành trả lời các câu hỏi bằng cách tự ghi ý kiến của mình vào bảng Anket. Cũng như phương pháp phỏng vấn, thông tin thu được là toàn bộ các câu trả lời thể hiện quan điểm, thái độ và ý thức của người được hỏi đối với vấn đề nghiên cứu. Tuy nhiên, trong phỏng vấn ngoài nguồn thông tin này ra còn có được thông tin về hành vi của người trả lời thông qua quan sát. Chính vì có sự khác nhau về nguồn thông tin mà người ta đã tách phương pháp trưng cầu ý kiến ra khỏi phương pháp phỏng vấn như hai phương pháp độc lập, mặc dù về cơ bản chúng vẫn bao gồm có hỏi và trả lời.

          I.2.3. Trưng cầu trực tiếp.

Trưng cầu trực tiếp là việc thu thập thông tin được lấy trực tiếp từ những cá nhân cần được nghiên cứu, còn trưng cầu gián tiếp là hướng đến thu thập thông tin từ chính các điều tra viên, sau khi các điều tra viên đã thực hiện việc thu thập thông tin từ các cá nhân được nghiên cứu thông qua các phương pháp khác nhau.

          Sau khi đã nhận bảng hỏi, việc trả lời hoàn toàn phụ thuộc vào người được hỏi. Do vậy, kết quả của trưng cầu ý kiến phụ thuộc khá nhiều vào động cơ hay mức độ sẵn sàng tham gia vào nghiên cứu của người trả lời. Điều đó liên quan tới quan điểm của người được trưng cầu với mục tiêu, ý nghĩa của cuộc nghiên cứu đến thái độ của người trả lời với cuộc nghiên cứu nói chung và đối với cách thức tổ chức cuộc nghiên cứu riêng. Ngoài ra, nó còn liên quan đến hệ giá trị của người được trưng cầu, cũng như khả năng về trí nhớ, về tư duy, trình độ văn hoá của người trả lời. Sau khi bảng hỏi được phân phát cho người trả lời, sự tác động theo cách trực tiếp giữa người đi hỏi và người trả lời thực tế là không còn, từ đây nó chủ yếu được dựa trên bảng hỏi. Vì vậy, nội dung bảng hỏi, lời giải thích, lời chỉ dẫn trong đó là phương tiện còn lại duy nhất hướng dẫn cho hành động người trả lời, cũng như cho việc tạo nên ở họ sự quan tâm, tính tích cực đến với cuộc trưng cầu.

          Trưng cầu ý kiến thường sử dụng bảng hỏi với mức độ chuẩn bị rất kỹ càng, chi tiết. Chiếm hầu hết trong bảng hỏi là các câu hỏi đóng và câu hỏi kết hợp, rất hạn chế các câu hỏi mở. Chính vì điều này mà thông tin thu được rất thuận lợi cho việc xử lý thống kê và việc đo lường.

          Trưng cầu ý kiến với bảng hỏi tự ghi thường được sử dụng cho những nghiên cứu với những chương trình được xây dựng một cách cặn kẽ, chi tiết các mục tiêu, các giả thuyết được xác định một cách rõ ràng. Điều đó có nghĩa là, tác giả nghiên cứu có một sự hiểu biết khá đầy đủ về đối tượng nghiên cứu, còn mục tiêu nghiên cứu này chủ yếu hướng đến mặt định lượng nhằm giúp đưa ra những kết luận mang tính khẳng định đối với đối tượng nghiên cứu.

           Trong trưng cầu ý kiến, điều quan trọng là làm sao để người được trưng cầu tự giác trả lời các câu hỏi một cách khách quan. Điều này gắn liền với việc tạo ra động cơ cho người được nghiên cứu. Chú ý là cần tạo ra một bảng hỏi đẹp về hình thức, rõ ràng, dễ hiểu về nội dung, luôn tỏ ra tôn trọng ý kiến của người trả lời, có tác dụng lôi cuốn, khuyến khích họ tham gia vào nghiên cứu. Trong một số trường hợp có thể động viên bằng tài chính, hoặc kèm theo một món quà giá trị nhỏ nào đó, có thể tạo ra động cơ và  kích thích người trả lời nghĩ về trách nhiệm của mình đối với việc hoàn thành bảng hỏi với tinh thần tự nguyện.

           I.2.4. Những ưu, nhược điểm của trưng cầu ý kiến.

          Ưu điểm: Ưu điển nổi bật nhất là thu thập được thông tin một cách nhanh chóng. Có thể trong một số trường hợp chỉ một vài ngày là thu được thông tin của hàng nghìn người. Tiết kiệm được nhiều kinh phí. Phương pháp này đảm bảo tính khuyết danh cao.

          Nhược điểm: Bảng hỏi thường gặp một số khó khăn, ít khi nhận lại được số lượng bảng hỏi đủ như đã gửi đi. Trong bảng hỏi khi nhận lại đôi khi có nhiều câu hỏi không nhận được sự trả lời. Điều đó hạn chế tính đầy đủ của thông tin và cũng ảnh hưởng tới tính đại diện của mẫu đối với các câu hỏi này.

          I.2.5. Một số loại trưng cầu ý kiến chủ yếu.

          Dựa vào cách thức tổ chức phân phát bảng hỏi người ta chia trưng cầu ý kiến theo một số hình thức sau:

          - Trưng cầu tại nhà hay tại nơi làm việc.

          Bảng hỏi do các điều tra viên phân phát cho các cá nhân được điều tra tại nhà, hay tại nơi làm việc của người được hỏi. Khi phân phát bảng hỏi, điều tra viên có điều kiện giải thích cho người được hỏi về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu, cũng như yêu cầu họ điền vào bảng hỏi. Giới thiệu cơ quan đứng ra tổ chức nghiên cứu và nhấn mạnh nguyên tắc khuyết danh của nghiên cứu để người trả lời yên tâm rằng: thông tin mà họ cung cấp sẽ được giữ bí mật.

           - Trưng cầu qua bưu điện.

           Bảng hỏi được gửi đến người nghiên cứ theo con đường bưu điện, kèm theo đó là một phong bì có sẵn địa chỉ của cơ quan, cá nhân nghiên cứu và tem thư để người trả lời gửi lại bảng hỏi đã được trả lời. Những lời giải thích, hướng dẫn có thể in vào đầu bảng hỏi hoặc cũng có thể in riêng gửi kèm theo bảng hỏi. Việc gửi bảng hỏi đến người trả lời cũng cần cân nhắc xem họ nhận được bảng hỏi vào thời điểm nào. Nếu gửi vào các dịp lễ tết thì các bảng hỏi đó sẽ ít được quan tâm.

          - Trưng cầu qua báo chí.

          Bảng hỏi cũng như lời giải thích, giới thiệu và những yêu cầu được đăng tải trên các phương tiện báo chí. Trong đa số trường hợp, yêu cầu người trả lời gửi bảng hỏi đã trả lời theo con đường bưu điện. Cần có những hứa hẹn về mặt tài chính để tăng tính tích cực của người trả lời. Với cách làm này bảng hỏi được hướng đến công chúng nhất định như thanh niên, phụ nữ, nông dân, các cựu chiến binh, nhóm khán giả truyền hình với những chương trình nào đó…

          Tương tự như trưng cầu qua bưu điện, việc gửi lại bảng hỏi đều dựa trên nguyên tắc về “sự hưởng ứng” của cá nhân. Trưng cầu qua bưu điện đòi hỏi về tính tự nguyện và mức độ tự giác của cá nhân cao hơn so với trưng cầu qua bưu điện.

          - Trưng cầu theo nhóm.

          Đây là dạng trưng cầu được sử dụng khá phổ biến và cho hiệu quả khá khả quan. Trong trưng cầu theo nhóm nghiên cứu được đồng thời từ 8-10 đến 35-40 người. Những người được trưng cầu thường được mời đến một địa điểm nào đó thuận lợi cho việc đọc và viết, vào một thời điểm phù hợp, thuận tiện cho mọi người.

          Điều tra viên phân phát bảng hỏi và nói một cách ngắn gọn về bản chất của cuộc nghiên cứu, hướng dẫn cách trả lời câu hỏi, nhấn mạnh nguyên tắc khuyết danh. Nếu một ai chưa rõ, điều tra viên sẽ trực tiếp giải đáp. Nếu một ai đó từ chối không tham gia thì điều tra viên nên giải phóng họ.

          Với cách làm này, điều tra viên có điều kiện giải thích trực tiếp những câu hỏi mà người nghiên cứu nêu ra khi thấy vướng mắc, có điều kiện giúp đỡ họ cũng như yêu cầu họ trả lời hết các câu hỏi trong bảng hỏi. Chính điều này đã làm giảm bớt tình trạng thường gặp trong các trưng cầu khác là việc có nhiều câu hỏi không có sự trả lời.

          Trưng cầu nhóm là một phương pháp thu thập thông tin rất tiết kiệm. Nó được thực hiện rất nhanh, thu được thông tin trong một phạm vi rộng lớn mà chỉ mất một số ngày. Vì vậy, phương pháp này có hiệu quả cho các nghiên cứu dư luận xã hội hay thu thập thông tin theo những vấn đề nhất định. Trưng cầu nhóm đặc biệt thích hợp cho nghiên cứu những nhóm, những tổ chức chính thức như tập thể học sinh, sinh viên, đơn vị quân đội, đội lao động, công nhân trong công ty nào đó…

I.3. Sự khác nhau giữa dư luận xã hội và trưng cầu ý kiến.

Giống nhau: Dư luận và trưng cầu ý kiến đều phản ánh thông tin của số đông người, nhóm xã hội lớn hay của cả tổng thể.

Khác nhau: Dư luận đề cập tới những đóng góp của nhóm xã hội đối với vấn đề có liên quan trực tiếp đến lợi ích của nhóm còn trưng cầu ý kiến là đi tìm hiểu những vấn đề có thể liên quan nhiều hay ít tới đối tượng nghiên cứu (nhóm xã hội).

Tóm lại trưng cầu ý kiến được coi là một trong những phương thức để tìm hiểu về dư luận xã hội. Các nhà quản lý đã dựa vào tính năng của phương pháp  trưng cầu ý kiến để tìm hiểu ý kiến của nhân dân về một số vấn đề liên quan đến lĩnh vực quản lý nhà nước. Chính vì vậy, một số nước đã xây dựng riêng cho mình Luật Trưng cầu dân ý. Để chuẩn bị cho việc soạn thảo, thẩm tra, thông qua Luật Trưng cầu dân ý của Quốc hội Việt Nam trong giai đoạn sắp tới, chúng tôi xin giới thiệu về Luật Trưng cầu dân ý của một số nước để quý vị đại biểu Quốc hội có yêu cầu làm tài liệu tham khảo.

          II. LUẬT TRƯNG CẦU DÂN Ý MỘT SỐ NƯỚC.

II.1. Đối tương và phạm vi điều chỉnh của Luật Trưng cầu dân ý một số nước.

II.1.1. Estonia.

Luật Trưng cầu dân ý của Estonia được thông qua ngày 18 tháng 5 năm 1994 (RT* I 1994, 41, 659), có hiệu lực từ ngày 19 tháng 6 năm  1994, sửa đổi bằng các Luật: RT I 1998, 98/99, 1577.

Điều 2. Các vấn đề cần được trưng cầu dân ý

(1) Những sửa đổi đối với Chương I và XV của Hiến pháp sẽ phải đưa ra trưng cầu dân ‎ý.

(2) Quốc hội (Riigikogu) cũng có quyền đệ trình các dự luật để sửa đổi Hiến pháp, các dự luật khác hoặc các vấn đề quốc gia để trưng cầu dân ý ngoại trừ những vấn đề được quy định tại Điều 3 của Luật này.

Điều 3. Những giới hạn của Hiến pháp đối với những vấn đề được trình để trưng cầu dân ý

Các vấn đề liên quan đến ngân sách, thuế, các nghĩa vụ tài chính của nhà nước, phê chuẩn và bãi bỏ các hiệp ước, tuyên bố hoặc bãi bỏ tình trạng khẩn cấp, hoặc phòng thủ quốc gia sẽ không được  trưng cầu dân ‎ý.

Điều 4. Những giới hạn đối với việc khởi xướng và tổ chức trưng cầu dân ý

(1) Một cuộc trưng cầu dân ‎ý sẽ không được khởi xướng hoặc tổ chức khi đất nước đang trong tình trạng khẩn cấp hoặc có chiến tranh.

(2) Một cuộc trưng cầu dân ‎ý sẽ không được đặt vào chương trình nếu chỉ còn ít hơn ba tháng là đến cuộc bầu cử bình thường của Quốc hội, Tổng thống của nước Cộng hoà tuyên bố các cuộc bầu cử Quốc hội đặc biệt hoặc thẩm quyền của các thành viên đương nhiệm của Quốc hội đã chấm dứt.

Điều 5. Quyền bỏ phiếu

(1) Một công dân Estonia đủ 18 tuổi vào ngày trưng cầu dân ‎ý có thể tham dự cuộc trưng cầu dân ‎ý.

(2) Một công dân sẽ không có quyền bỏ phiếu nếu anh hoặc chị:

1) Đã bị tước bỏ năng lực pháp luật bằng một lệnh của toà án;

2) Đã bị toà tuyên án và đang chịu án tại một trại giam vào thời điểm bỏ phiếu.

  II.1.2. Philipine.  Số. 6735 (Thông qua: Ngày 4 tháng 8 năm 1989)

 Đạo luật này được gọi là "Luật về Sáng kiến pháp luật và Trưng cầu dân ý”.

Mục 2. Tuyên bố về chính sách

Quyền của nhân dân trong hệ thống sáng kiến luật pháp và việc trưng cầu dân ‎ý là trực tiếp đề nghị, ban hành, phê chuẩn hoặc bác bỏ, toàn bộ hoặc từng phần Hiến pháp, các luật, pháp lệnh hoặc các nghị quyết do bất kỳ một cơ quan lập pháp nào thông qua phù hợp với các quy định của luật này được xác nhận, công nhận và đảm bảo. 

Mục 4. Người nào có quyền

Quyền sáng kiến pháp luật và trưng cầu dân ‎ý có thể được thực hiện bởi tất cả các cử tri đã được đăng k‎ý của đất nước, của các vùng tự trị, các tỉnh, thành phố, đô thị và các xã. 

Mục 5. Các điều kiện

(a) Để thực hiện quyền sáng kiến pháp luật hoặc trưng cầu dân ‎ý, ít nhất 10% của tổng số các cử tri đăng ký, trong số này mỗi khu vực bầu cử phải được đại diện bởi ít nhất 3% số cử tri đăng k‎ý trong số đó, sẽ ký vào một đơn kiến nghị vì mục đích này và đăng ký với Uỷ ban bầu cử.

(b) Một kiến nghị về sáng kiến pháp luật về Hiến pháp 1987 phải có ít nhất 12% của tổng số các cử tri đăng ký như là người đứng đơn, trong số này mỗi khu vực bầu cử phải được đại diện bởi ít nhất 3% của số cử tri đăng k‎ý ở đó. Sáng kiến pháp luật về Hiến pháp chỉ có thể được thực hiện sau năm (5) năm kể từ khi Hiến pháp 1987 được thông qua năm và chỉ 5 năm một lần sau đó.

(c) Kiến nghị phải có những nội dung sau đây: 

c.1. Các nội dung hoặc bản văn của luật đề nghị cần được ban hành, thông qua hoặc bãi bỏ, sửa đổi hoặc bãi bỏ, tuỳ trường hợp; 

c.2. Lời đề nghị; 

c.3. L‎ý do hoặc các lý do về việc đó; 

c.4. Rằng nó không thuộc vào một trong các trường hợp ngoại lệ được quy định trong luật này;

c.5. Các chữ ký của những người kiến nghị hoặc các cử trị đăng k‎ý; và 

c.6. Một bản tóm tắt không dài hơn một trăm (100) từ được viết rõ ràng hoặc in ở đầu mỗi trang của kiến nghị.

(d) Một cuộc trưng cầu dân ‎ý hoặc sáng kiến pháp luật tác động đến một luật, nghị quyết hoặc pháp lệnh do cơ quan lập pháp của một vùng tự trị, tỉnh hoặc thành phố được khởi xướng có hiệu lực nếu kiến nghị về vấn đề đó được k‎ý bởi ít nhất mười phần trăm (10%) của các cử tri đăng ký ở tỉnh hoặc thành phố, trong đó mỗi khu vực bầu cử phải được đại diện bởi ít nhất ba phần trăm (3%) của số cử tri đăng k‎ý ở đó; Tuy nhiên, nếu tỉnh hoặc thành phố này chỉ gồm một (1) khu vực lập pháp, thì ít nhất mỗi đô thị ở một tỉnh hoặc mỗi xã ở một thành phố cần được đại diện bởi ít nhất ba phần trăm (3%) của tổng số cử tri đăng k‎ý ở đó. 

(e) Một cuộc trưng cầu dân ‎ý về sáng kiến pháp luật về một pháp lệnh được thông qua ở một đô thị  sẽ được coi là sáng kiến có hiệu lực nếu kiến nghị đó được ít nhất mười phần trăm số cử tri đăng k‎ý của đô thị đó ký, trong đó mỗi xã được đại diện bởi ít nhất ba phần trăm (3%)  số cử tri đăng k‎ý ở đó.

(f) Một cuộc trưng cầu dân ‎ý hoặc sáng kiến pháp luật về một nghị quyết sẽ có giá trị nếu được k‎ý bởi ít nhất mười phần trăm (10%) số cử tri đăng k‎ý tại xã này.

Điều 8. Quyền khởi xướng trưng cầu dân ý

(1) Quyền khởi xướng một cuộc trưng cầu dân ‎ý để sửa Hiến pháp thuộc về:

1) Tối thiểu một phần năm số thành viên của Quốc hội;

2) Tổng thống nước Cộng hoà.

(2) Quyền khởi xướng một cuộc trưng cầu dân ‎ý về đạo luật khác hoặc vấn đề quốc gia khác thuộc về các thành viên của Quốc hội, các phái chính trị trong Quốc hội, các Uỷ ban của Quốc hội và Chính phủ.

Điều 9. Việc khởi xướng cuộc trưng cầu dân ý

Những văn bản sau đây sẽ được đệ trình lên Quốc hội để khởi xướng trưng cầu dân ‎ý:

1) Một dự thảo nghị quyết tổ chức một cuộc trưng cầu dân ‎ý đối với dự luật sửa đổi Hiến pháp hoặc của một luật khác, cùng với dự luật sửa đổi Hiến pháp hoặc dự luật khác;

2) Một dự thảo nghị quyết tổ chức một cuộc trưng cầu dân ‎ý đối với một vấn đề quốc gia khác, bao gồm cả vấn đề được đề nghị đưa ra để trưng cầu dân ‎ý.

Điều 10. Các yêu cầu đối với một dự luật đưa ra trưng cầu dân ý

(1) Một dự luật được trình để trưng cầu dân ‎ý sẽ phải tuân theo các yêu cầu như đối với các dự luật.

(2) Các vấn đề quốc gia khác được trình để trưng cầu dân ‎ý phải gồm một bản kiến nghị rõ ràng và không mơ hồ.

 

Điều 11. Huỷ bỏ dự thảo nghị quyết tổ chức trưng cầu dân ý

Người khởi xướng có thể rút dự thảo nghị quyết tổ chức một cuộc trưng cầu dân ‎ý cho đến khi chuyển nghị quyết đến Quốc hội.

Điều 12. Trình dự luật để trưng cầu dân ý

(1) Quốc hội sẽ thảo luận dự luật được đề nghị  trưng cầu dân ‎ý theo thủ tục ba lần đọc.

(2) Khoảng thời gian giữa lần đọc thứ nhất và thứ hai của một dự luật để sửa đổi Hiến pháp hoặc đạo luật khác sẽ không ít hơn ba tháng, và khoảng thời gian giữa lần đọc thứ hai và thứ ba sẽ không ít hơn một tháng. Quốc hội sẽ quyết định việc đệ trình một dự luật được trưng cầu dân ‎ý tại lần đọc thứ ba.

(3) Việc đưa một dự luật để sửa đổi Hiến pháp ra trưng cầu dân ‎ý được quyết định bởi đa số ba phần năm số thành viên của Quốc hội. Việc đưa các dự luật khác ra trưng cầu dân ‎ý được quyết định bởi Quốc hội thông qua đa số phiếu thuận.

Điều 13. Đệ trình các vấn đề quốc gia khác để trưng cầu dân ý

(1) Các nghị quyết trình các vấn đề quốc gia khác để trưng cầu dân ‎ý sẽ không được Quốc hội thông qua sớm hơn ba tháng sau khi dự thảo nghị quyết được đưa vào chương trình của Quốc hội.

(2) Việc đệ trình các vấn đề quốc gia khác để trưng cầu dân ‎ý do Quốc hội quyết định bằng đa số phiếu thuận.

Điều 14. Đệ trình một vài dự luật hoặc một số vấn đề cho cùng một cuộc trưng cầu dân ý

(1) Quốc hội có thể đệ trình một vài dự luật hoặc các vấn đề quốc gia khác cho cùng một cuộc  trưng cầu dân ‎ý.

(2) Các dự luật hoặc vấn đề loại bỏ lẫn nhau sẽ không được trình cho một cuộc trưng cầu dân ‎ý.

 

II.2. Các cơ quan tổ chức trưng cầu dân ý theo luật định.

II.2.1. Estonia (theo Luật Trưng cầu dân ý ngày 19/6/1994).

Điều 21. Các cơ quan tổ chức trưng cầu dân ý

Một cuộc trưng cầu dân ‎ý sẽ được những cơ quan sau đây, được thành lập trên cơ sở Luật bầu cử Quốc hội tổ chức:

1) Uỷ ban bầu cử quốc gia;

2) Các Uỷ ban bầu cử cấp hạt;

3) Các tiểu ban.

Điều 22. Trách nhiệm của Uỷ ban bầu cử quốc gia trong việc tổ chức trưng cầu dân ý

Uỷ ban bầu cử quốc gia sẽ:

1) Giám sát việc thực hiện đạo luật này và đảm bảo sự áp dụng thống nhất trên toàn quốc thông qua việc đưa ra những hướng dẫn, giải thích và chỉ thị;

2) Đưa ra các mẫu tài liệu trưng cầu dân ‎ý chuẩn, bao gồm cả các lá phiếu, và thủ tục bảo quản chúng;

3) Tổ chức việc in tài liệu trưng cầu dân ‎ý và dự luật để trưng cầu dân ‎ý và chuyển chúng đến các uỷ ban bầu cử cấp hạt;

4) Xác định và công bố các thông báo về kết quả trưng cầu dân ‎ý;

5) Quyết định các thủ tục lưu giữ và tiêu huỷ các lá phiếu sau cuộc trưng cầu dân ‎ý;

6) Phê chuẩn ngân sách của cuộc trưng cầu dân ‎ý và quyết định các vấn đề về tổ chức và kỹ thuật liên quan đến cuộc trưng cầu dân ‎ ý;

7) Đăng ký các quan sát viên của cuộc trưng cầu dân ý;

8) Xem xét và quyết định các kiến nghị và khiếu nại liên quan đến các hoạt động của uỷ ban bầu cử cấp hạt trong việc tổ chức cuộc trưng cầu dân ‎ý.

Điều 23. Trách nhiệm của Uỷ ban bầu cử cấp hạt trong việc tổ chức trưng cầu dân ý

Uỷ ban bầu cử cấp hạt sẽ:

1) Giám sát việc thực hiện đạo luật này và việc thực hiện đúng đắn cuộc trưng cầu dân ‎ý;

2) Cung cấp cho các uỷ ban bộ phận các tài liệu và phiếu trưng cầu dân ‎ý trống và giải thích các thủ tục hoàn chỉnh, sử dụng và lưu giữ các giấy tờ này;

3) Xác định các kết quả trưng cầu dân ‎ý;

4) Thực hiện các hướng dẫn và chỉ thị của Uỷ ban Bầu cử Quốc gia;

5) Quyết định về các vấn đề tổ chức và kỹ thuật liên quan đến cuộc trưng cầu dân ý trong phạm vi các giới hạn ngân sách do Uỷ ban Bầu cử Quốc gia phân bổ;

6) Xem xét và quyết định về các kiến nghị và khiếu nại liên quan đến các hoạt động các uỷ ban bộ phận.

Điều 24. Trách nhiệm của các tiểu ban trong việc tổ chức trưng cầu dân ý

Tiểu ban sẽ:

1) Thông báo với  cử tri về địa điểm và thời gian làm việc của tiểu ban, cũng như thời gian và địa điểm bỏ phiếu;

2) Kiểm tra danh sách bỏ phiếu và xem xét các đơn yêu cầu chỉnh l‎ý danh sách bỏ phiếu;

3) Đảm bảo việc chuẩn bị các địa điểm bỏ phiếu và các thùng phiếu;

4) Tổ chức việc bỏ phiếu, bỏ phiếu sớm và bỏ phiếu tại nhà;

5) Xác định kết quả bỏ phiếu tại bộ phận;

6) Xem xét và quyết định các kiến nghị và khiếu nại liên quan đến việc chuẩn bị và tổ chức cuộc trưng cầu dân ‎ý.

 

II.2.2.Philipine (theo Luật Trưng cầu dân ý ngày 4/8/1989).

(Luật về sáng kiến lập pháp và trưng cầu dân ý của Philipine trong Chương có Mục, chúng tôi xin dịch nguyên bản).

Mục 8. Thực hiện và Ngày tháng tổ chức cuộc trưng cầu dân ý hoặc lấy chữ k‎ý cho sáng kiến lập pháp. - Uỷ ban bầu cử sẽ triệu tập và giám sát việc thực hiện sáng kiến pháp luật hoặc kiến nghị trưng cầu dân ‎ý.

Trong khoảng thời gian ba mươi (30) ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, Uỷ ban này sẽ, trên cơ sở xác định sự đầy đủ của kiến nghị, công bố bằng tiếng Philipine và tiếng Anh ít nhất hai lần trên báo trung ương và địa phương và quy định thời điểm của cuộc trưng cầu dân ý hoặc lấy chữ k‎ý cho sáng kiến lập pháp mà không sớm hơn bốn mươi lăm ngày (45) nhưng cũng không muộn hơn chín mươi ngày (90) kể từ khi Uỷ ban này xác định sự đầy đủ của kiến nghị.

Mục 9. Hiệu lực của đề nghị về cuộc trưng cầu dân ý hoặc lấy chữ k‎ý cho sáng kiến lập pháp.

 - (a) Lời đề nghị ban hành, phê chuẩn, sửa đổi hoặc bãi bỏ một luật quốc gia sẽ phải được đệ trình và phê chuẩn bởi đa số phiếu của tất cả các cử tri có đăng k‎ý của Philippine. 

Nếu như được xác nhận bởi Uỷ ban bầu cử, lời đề nghị được chấp thuận bởi đa số phiếu bầu, luật quốc gia được đề nghị cho việc ban hành, phê chuẩn, hoặc sửa đổi sẽ có hiệu lực mười lăm ngày (15) sau khi hoàn thành việc công bố trên công báo hoặc trên một tờ báo toàn quốc ở Philippine. Nếu, như được xác nhận bởi Uỷ ban này, lời đề nghị bãi bỏ một luật quốc gia được chấp thuận bởi đa số phiếu bầu, đạo luật quốc gia được nói đến ở đây sẽ bị bãi bỏ và việc bãi bỏ sẽ có hiệu lực mười lăm ngày (15) sau khi hoàn thành việc công bố lời đề nghị và xác nhận của Uỷ ban này trên Công báo hoặc một tờ báo toàn quốc của Philippine. 

Tuy nhiên, nếu đa số phiếu không đạt được, thì đạo luật cần được bãi bỏ hoặc sửa đổi sẽ vẫn có đầy đủ hiệu lực.

(b) Lời đề nghị về một sáng kiến lập pháp về Hiến pháp được chấp thuận bằng đa số phiếu trong một cuộc trưng cầu ý kiến sẽ có hiệu lực vào ngày lấy ý kiến.

(c) Một sáng kiến pháp luật quốc gia hay địa phương được chấp thuận bằng đa số phiếu trong một cuộc trưng cầu dân ‎ý được tổ chức vì mục đích này sẽ có hiệu lực mười lăm ngày (15) sau khi được Uỷ ban bầu cử xác nhận và công bố.

Mục 13. Thủ tục về sáng kiến pháp luật địa phương. - (a) Không ít hơn hai nghìn (2,000) cử tri đăng ký trong trường hợp các vùng tự trị, một nghìn (1,000) trong trường hợp các tỉnh và thành phố, một trăm (100) trong trường hợp các xã, và năm mươi (50) trong trường hợp các làng bản có thể nộp một kiến nghị với Hội đồng Vùng hoặc cơ quan lập pháp địa phương tương ứng, đề xuất việc thông qua, ban hành, kháng nghị, hoặc sửa đổi bất cứ luật, pháp lệnh hoặc nghị quyết. 

(b) Nếu không có hành động tán thành nào được cơ quan lập pháp địa phương đưa ra sau đó trong vòng ba mươi (30) ngày kể từ khi đưa ra đề xuất, những người đề xuất thông qua người đại diện được đăng k‎ý và uỷ quyền hợp pháp có thể viện dẫn quyền sáng kiến của họ, đưa ra những lưu ý sau đó với cơ quan lập pháp địa phương hữu quan.

(c) Các đề nghị sẽ được đánh số theo từng kỳ, bắt đầu từ một (1). Ban Thư k‎ý của Chính quyền địa phương hoặc cơ quan đại diện được phân công sẽ giúp đỡ việc hình thành đề xuất.

(d) Hai hoặc nhiều đề nghị có thể được đệ trình trong một sáng kiến lập pháp.

(e) Những người đề nghị sẽ có một trăm hai mươi (120) ngày trong trường hợp các vùng tự trị, chín mươi (90) ngày trong trường hợp các tỉnh, thành phố, sáu mươi (60) ngày đối với các đô thị, và ba mươi  (30) ngày đối với các xã, từ lưu ý được đề cập tại tiểu mục (b) về việc phải thu thập đủ số chữ k‎ý cần thiết. 

(f) Bản kiến nghị sẽ được ký trước tại Cơ quan đăng ký bầu cử, hoặc đại diện được phân công của cơ quan này, với sự có mặt của một đại diện của người kiến nghị,và một đại diện của các hội đồng vùng và các cơ quan lập pháp địa phương hữu quan tại một nơi công cộng ở vùng tự trị hoặc một cơ quan công quyền địa phương, tuỳ theo thực tế. Các điểm lấy chữ ký có thể được thiết lập ở nhiều nơi nếu được phép. 

(g) Khi khoảng thời gian được quy định dưới đây trôi qua, Uỷ ban Bầu cử, thông qua văn phòng của mình ở bộ phận chính quyền địa phương hữu quan sẽ xác nhận rằng liệu số chữ k‎ý cần thiết đã được thu thập chưa? Việc không thu thập đủ số chữ k‎ý cần thiết sẽ là sự huỷ bỏ đề nghị này.

(h) Nếu thu thập được số lượng chữ k‎ý cần thiết, Uỷ ban bầu cử sẽ đặt một ngày cho sáng kiến mà tại đó đề nghị sẽ được đưa ra cho các cử tri đăng k‎ý tại khu vực chính quyền địa phương hữu quan để phê chuẩn trong vòng chín mươi (90) ngày kể từ ngày Uỷ ban này xác nhận, như được quy định tại tiểu mục (g) ở đây, trong trường hợp của các vùng tự trị, sáu mươi (60) ngày đối với các tỉnh và thành phố, bốn mươi nhăm (45) ngày đối với các phường, và ba mươi (30) ngày đối với xã. Sáng kiến sau đó sẽ được tổ chức vào ngày đã định, sau đó các kết quả sẽ được Uỷ ban Bầu cử xác nhận và công bố.

Mục 14. Hiệu lực của các đề nghị địa phương. - Nếu đề nghị được chấp thuận bằng đa số phiếu, thì nó sẽ có hiệu lực mười lăm ngày (15) sau khi được xác nhận bởi Uỷ ban bầu cử khi mà việc khẳng định ngay sau đó được thực hiện bởi cơ quan lập pháp và hành pháp địa phương hữu quan. Nếu thất bại trong việc thu thập đủ số chữ k‎ý cần thiết, đề nghị được coi như bị huỷ bỏ.

Mục 15. Các hạn chế của sáng kiến lập pháp địa phương. - (a) Quyền sáng kiến lập pháp địa phương sẽ không được thực hiện quá một lần một năm. 

(b) Sáng kiến pháp luật sẽ chỉ được áp dụng với những vấn đề thuộc phạm vi các quyền hạn của các cơ quan lập pháp địa phương để thực hiện. 

(c) Nếu vào bất cừ thời gian nào trước khi sáng kiến được tổ chức, cơ quan lập pháp địa phương chấp nhận toàn bộ đề nghị được đưa ra thì sáng kiến đó sẽ bị huỷ bỏ.  Tuy nhiên, những người phản đối những hành động như vậy, nếu họ muốn, họ sẽ đưa ra một yêu cầu cho sáng kiến theo cách thức được quy định trong luật.  

Mục 16. Các hạn chế đối với các cơ quan lập pháp địa phương. - Bất kỳ đề nghị về pháp lệnh hoặc nghị quyết được thông qua bằng hệ thống sáng kiến lập pháp và trưng cầu dân ‎ý như được quy định ở đây sẽ không được huỷ bỏ, sửa đổi hoặc bổ sung bởi cơ quan lập pháp địa phương hữu quan trong vòng sáu (6) tháng kể từ ngày đó, và có thể được sửa đổi, bổ sung hoặc huỷ bỏ bởi cơ quan lập pháp địa phương trong vòng ba (3) năm sau đó bằng một cuộc bỏ phiếu ba phần tư (3/4) của tất cả các thành viên của nó; tuy nhiên, với điều kiện là, trong trường hợp của các xã, thời hiệu này sẽ là một năm (1) sau khi hết hạn sáu (6)  tháng đầu tiên. 

Mục 17. Trưng cầu dân ‎ý địa phương. - Với những điều khoản của Mục 4 về việc này, bầt cứ cơ quan lập pháp địa phương nào cũng có thể đệ trình tới cử tri của vùng tự trị, các tỉnh, thành phố, đô thị và các xã để được chấp thuận hoặc loại bỏ, bất kỳ một pháp lệnh hoặc nghị quyết nào được ban hành hoặc phê chuẩn một cách đúng đắn. 

Cuộc trưng cầu dân ‎ý được đề cập trên đây sẽ được tổ chức dưới sự kiểm soát và chỉ đạo của Uỷ ban bầu cử trong vòng sáu mươi (60) ngày đối với các tỉnh và thành phố, bốn mươi nhăm ngày (45) đối với các phường và ba mươi (30) ngày đối với xã. 

Uỷ ban này sẽ xác nhận và công bố các kết quả của cuộc trưng cầu dân ‎ý. 

Mục  18. Thẩm quyền của Các Toà án. - Không có điều nào trong đạo luật này ngăn cản các toà án thích hợp trong việc tuyên bố vô hiệu bất kỳ đề nghị nào được thông qua theo Luật này vì vi phạm Hiến pháp hoặc sự khuyết thiếu năng lực của cơ quan lập pháp địa phương để thực hiện các biện pháp nói trên. 

II.2.3. Thuỵ Điển (Luật Trưng cầu dân ý 1979)

(Ở Thuỵ Điển, Luật Trưng cầu dân ý trong Chương có các Mục, chúng tôi xin dịch nguyên bản).

Mục 4. Để tiến hành một cuộc trưng cầu dân ‎ý, một uỷ ban bầu cử sẽ chịu trách nhiệm ở mỗi xã như được quy định tại Chương 1, Mục 17 của Luật Bầu cử.

Khi một cuộc trưng cầu dân ‎ý được tổ chức cùng với một cuộc bầu cử Quốc hội, các nhân viên bầu cử được bổ nhiệm, theo Chương 4, Mục 6 của Luật Bầu cử, cũng làm việc như là cán bộ bầu cử của cuộc trưng cầu dân ‎ý. Trong trường hợp ở một cuộc trưng cầu dân ‎ý khác, uỷ ban bầu cử bổ nhiệm cho mỗi khu vực bầu cử ít nhất bốn người để làm việc như cán bộ bầu cử cho cuộc trưng cầu dân ‎ý ở khu vực đó. Các quy định ở Chương 4 của Luật Bầu cử liên quan đến các cán bộ bầu cử cũng được áp dụng cho những cán bộ bầu cử được bổ nhiệm đặc biệt này.

Mục 5. Những người có quyền bỏ phiếu ở các cuộc bầu cử Quốc hội thì cũng có quyền bỏ phiếu ở các cuộc trưng cầu dân ‎ý.

Một người có quyền bỏ phiếu hay không được xác định trên cơ sở của một danh sách bầu cử được lập ra trước cuộc trưng cầu dân ‎ý. Nếu cuộc trưng cầu dân ‎ý này không được tổ chức cùng lúc với cuộc bầu cử khác theo Luật Bầu cử (1997:157), danh sách bầu cử của cuộc trưng cầu dân ‎ý sẽ được lập theo Chương 7, các Mục 1, 4, 10, 11 và 13 của Luật Bầu cử. Các điều khoản thuộc Chương 7, Mục 14 của Luật Bầu cử về quyền khiếu nại về các quyết định sửa đổi danh sách bầu cử, sẽ cũng được áp dụng trong trường hợp khiếu nại liên quan đến một cuộc trưng cầu dân ‎ý.

Mục 6. Khi chuẩn bị tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý, nếu Cơ quan Bầu cử Trung ương không quyết định khác, một phiếu bầu sẽ được cấp cho mỗi người có quyền bỏ phiếu theo danh sách bầu cử với những thông tin về người có quyền được bầu. Phiếu bầu, hơn nữa sẽ chứa đựng những thông tin về cuộc trưng cầu dân ‎ý như đã hướng dẫn cho những người có quyền bỏ phiếu. Đối với một cuộc trưng cầu dân ‎ý và bầu cử Quốc hội diễn ra cùng thời gian, một phiếu bầu chung sẽ được thiết kế. Liên quan đến phiếu bầu thì áp dụng Chương 7, các Mục từ 7-9 của Luật Bầu cử (1997:157).

Cơ quan bầu cử Trung ương, thông qua những cách thức thích hợp sẽ thông báo tới công chúng về thời gian, phương pháp và các điều kiện khác được áp dụng cho cuộc trưng cầu dân ‎ý. Trong trường hợp của một cuộc trưng cầu dân ‎ý về một vấn đề liên quan đến hiến pháp thì thông báo cho công chúng về cách diễn đạt ngôn ngữ của lời đề nghị mà cuộc trưng cầu dân ‎ý đề cập tới.

Mục 7. Trong cuộc trưng cầu dân ‎ý, chỉ có phiếu bầu do Cơ quan bầu cử Trung ương cấp mới được sử dụng. Cách thể hiện ‎ý kiến đối với mỗi đề nghị là đối tượng của cuộc trưng cầu dân ‎ý được in trên mỗi lá phiếu. Bên cạnh đó thì các phiếu trắng cũng sẽ có sẵn. Các phiếu bầu cho một và những cuộc trưng cầu dân ‎ý tương tự sẽ có cùng kích cỡ, màu sắc và chất liệu.

          II.3. Những quy định cụ thể về trưng cầu dân ý.

II.3.1. Estonia (Luật Trưng cầu dân ý 19/6/1994).

Điều 31. Bỏ phiếu

(1) Bỏ phiếu, bỏ phiếu sớm và bỏ phiếu tại nhà sẽ được diễn ra vào thời gian và tuân theo các thủ tục được quy định trong Luật Bầu cử Quốc hội.

(2) Khi bỏ phiếu, cử tri sẽ đánh dấu vào ô [Có] hoặc [Không].

Điều 32. Đảm bảo sự công khai của cuộc trưng cầu dân ý

(1) Để đảm bảo sự công khai của cuộc trưng cầu dân ‎ý, những đại diện được uỷ quyền của các đảng phái chính trị, các đại diện của báo giới và các đại diện của các cơ quan tổ chức khác với sự chấp thuận của Uỷ ban bầu cử trung ương sẽ có cơ hội trở thành các quan sát viên tại cuộc bỏ phiếu và thẩm tra các kết quả bỏ phiếu trong ngày trưng cầu dân ý.

(2) Những người được chỉ rõ trong tiểu mục (1) của phần này sẽ đăng k‎ý như những quan sát viên của cuộc bỏ phiếu và thẩm tra các kết quả bỏ phiếu với Uỷ ban bầu cử Quốc gia.

Điều 33. Thẩm tra các kết quả

(1) Trên cơ sở danh sách và các phụ lục, các tiểu ban sẽ thẩm tra tổng số cử tri tại một điểm bầu cử, số cử tri nhận được phiếu bầu, số cử tri tham gia bỏ phiếu, số câu trả lời ủng hộ hoặc phản đối đối với vấn đề đưa ra xin‎ ý kiến tại cuộc trưng cầu dân ý và số phiếu phạm quy (hỏng).

(2) Trên cơ sở các biên bản nhận được từ các tiểu ban, mỗi uỷ ban cấp hạt sẽ thẩm tra tổng số cử tri trong danh sách trưng cầu ‎ý kiến, số người tham gia trưng cầu ‎ý kiến và những câu trả lời ủng hộ hoặc phản đối đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu dân ý. Các kết quả thu được sẽ được kiểm tra thông qua việc đếm lại phiếu.

(3) Trên cơ sở các biên bản nhận được từ các uỷ ban cấp hạt, Uỷ ban Bầu cử Quốc gia sẽ thẩm tra con số cử tri đăng k‎ý các danh sách trưng cầu, số lượng người tham gia trưng cầu, số phiếu hợp lệ và tổng số câu trả lời ủng hộ hoặc phản đối đối với câu hỏi được đưa ra trưng cầu dân ‎ý.

Điều 34. Các thủ tục của kết quả trưng cầu dân ý

(1) Các kết quả trưng cầu dân ‎ý của các xã nông thôn và thành phố sẽ được đưa vào biên bản của các uỷ ban cấp hạt tương ứng theo khu vực.

(2) Các kết quả cuối cùng của cuộc trưng cầu dân ‎ý sẽ được đưa vào biên bản của Uỷ ban bầu cử quốc gia.

(3) Biên bản này sẽ được ký bởi chủ tịch và thư ký của uỷ ban tương ứng. Những ý kiến không chính thống của các thành viên uỷ ban và các kiến nghị và khiếu nại nhận được bởi một uỷ ban liên quan đến việc vi phạm Luật này trong khi diễn ra cuộc trưng cầu dân ý cũng được ghi vào biên bản.

Điều 35. Sự mất hiệu lực của cuộc trưng cầu dân ý

Nếu Luật này bị vi phạm ở một điểm bỏ phiếu trong khi diễn ra việc trưng cầu dân ‎ý thì Uỷ ban Bầu cử Quốc gia hoặc một toà án có thể tuyên bố cuộc trưng cầu dân ‎ý và tất cả các phiếu bầu tại điểm bỏ phiếu đó bị vô giá trị.

 Điều 36. Quyết định về vấn đề đưa ra trưng cầu ý kiến

Một vấn đề đưa ra trưng cầu ‎ý kiến được quyết định bởi đa số phiếu.

Điều 37. Thông tin về các kết quả trưng cầu dân ý

(1) Uỷ ban Bầu cử Quốc gia sẽ thông báo các kết quả trưng cầu dân ‎ý không muộn hơn bảy ngày sau ngày trưng cầu dân ‎ý.

(2) Một thông báo của Uỷ ban Bầu cử Quốc gia liên quan đến các kết quả của cuộc trưng cầu dân ý sẽ được công bố trên công báo.

Điều 38. Tuyên bố một đạo luật được thông qua bằng việc trưng cầu dân ‎‎ý hoặc các cuộc bầu cử Quốc hội bất thường

(1) Một đạo luật được thông qua bằng một cuộc trưng cầu dân ‎ý sẽ được nhanh chóng công bố bởi Tổng Thống của nước Cộng hoà.

(2) Nếu một dự luật đưa ra trưng cầu dân ý không nhận được đa số phiếu thuận, thì Tổng thống của Nước Cộng hoà sẽ tuyên bố cuộc bầu cử Quốc hội bất thường.

Điều 39. Hiệu lực của một đạo luật hoặc nghị quyết về vấn đề quốc gia được thông qua tại cuộc trưng cầu dân ý

(1) Một Đạo luật sửa đổi Hiến pháp được thông qua tại một cuộc trưng cầu dân‎ ý sẽ có hiệu lực vào ngày được thông báo sau đó, nhưng không sớm hơn ba tháng kể từ ngày công bố.

(2) Những Luật khác được thông qua trong một cuộc trưng cầu dân  ‎ý sẽ có hiệu lực vào ngày thứ mười sau ngày xuất bản trên Công báo, nếu không có quy định gì khác về ngày trong luật này.

(3) Một nghị quyết về vấn đề quốc gia khác được trưng cầu dân ‎ý sẽ có hiệu lực khi có sự công bố về các kết quả trưng cầu của Uỷ ban Bầu cử Quốc gia, và có tính bắt buộc đối với các cơ quan nhà nước kể từ thời điểm đó.

Điều 40. Đệ trình và xem xét các kiến nghị, khiếu nại và trách nhiệm đối với việc vi phạm Luật này

(1) Việc đệ trình và xem xét các kiến nghị, khiếu nại liên quan đến các hoạt động và quyết định của cuộc trưng cầu dân ‎ý của ban tổ chức trưng cầu sẽ diễn ra tại thời điểm và tuân theo các thủ tục được quy định tại Luật Bầu cử Quốc hội.

(2) Nếu vi phạm Luật này, trách nhiệm hành chính và hình sự được áp dụng theo các quy định của pháp luật. 

II.3.2. Philipine (Luật Trưng cầu dân ý ngày 4/8/1989).

Điều 15. Tổ chức trưng cầu dân ý

(1) Ngày trưng cầu dân ‎ý sẽ được Quốc hội xác định trong nghị quyết về việc tổ chức một cuộc trưng cầu dân ‎ý về một dự luật hoặc vấn đề quốc gia khác.

(2) Một cuộc  trưng cầu dân ‎ý sẽ không được tổ chức sớm hơn ba tháng trước hoặc sau sáu tháng sau khi nghị quyết tổ chức trưng cầu dân ‎ý được Quốc hội thông qua.

Điều 16. Hoãn  trưng cầu dân ý

Một cuộc trưng cầu dân ‎ý có thể được hoãn trong trường hợp tuyên bố tình trạng khẩn cấp hoặc tình trạng chiến tranh, hoặc nếu ngày trưng cầu dân ‎ý được đặt trong một thời gian khi mà thẩm quyền của các thành viên của Quốc hội, người đã quyết định cuộc  trưng cầu dân ‎ý đã chấm dứt, hoặc Tổng thống của nước Cộng hoà đã tuyên bố các cuộc bầu cử bất thường.

Điều 17. Việc quyết định trì hoãn cuộc trưng cầu dân ý

(1) Quốc hội có thể trì hoãn một cuộc  trưng cầu dân ‎ý bằng một nghị quyết trong một tình thế khẩn cấp do Chính phủ của nước Cộng hoà tuyên bố vì l‎ý do thiên tai, thảm hoạ hoặc bệnh truyền nhiễm, hoặc trong trường hợp được quy định tại tiểu mục 20 (2) của đạo luật này về đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp.

(2) Việc hoãn một cuộc trưng cầu dân ‎ý được Quốc hội quyết định bằng đa số phiếu cần thiết để trình dự luật hoặc các vấn đề quốc gia khác để  trưng cầu dân ‎ý.

Điều 18. Quyết định ngày  trưng cầu dân ý mới

(1) Quốc hội sẽ quyết định ngày trưng cầu dân ‎ ý mới trong vòng hai tuần sau khi các l‎ý do được quy định tại Điều 16 và Điều 17 của luật này chấm dứt tồn tại, tuân thủ những giới hạn về thời gian miêu tả trong tiểu mục 15 (2) của Luật này sẽ được tính từ thời điểm Quốc hội thông qua nghị quyết xác định một ngày  trưng cầu dân ‎ ý mới.

(2) Quốc hội sẽ quyết định một ngày  trưng cầu dân ‎ ý mới bằng đa số phiếu theo quy định tại tiểu mục 12 (3) và 13 (2) của Luật này.

(3) Nếu một nghị quyết không được thông qua vì không nhận được đa số phiếu cần thiết thì một cuộc  trưng cầu dân ‎ ý  sẽ không được tổ chức. Một thông báo tương ứng sẽ được công bố trên Công báo.

Điều 19. Công bố các nghị quyết và thông báo liên quan đến trưng cầu dân ý

Các nghị quyết nhằm tổ chức một cuộc trưng cầu dân ‎ý và dự luật được đưa ra trưng cầu dân ‎ý, các nghị quyết nhằm tổ chức một cuộc trưng cầu dân ‎ ý về vấn đề quốc gia khác, các nghị quyết để hoãn một cuộc trưng cầu dân ‎ý hoặc nhằm xác định một ngày trưng cầu dân ‎ý mới, và những thông báo về việc trì hoãn hoặc huỷ bỏ một  cuộc trưng cầu dân ‎ý sẽ được công bố trên Công báo.

Điều 20. Huỷ bỏ nghị quyết tổ chức trưng cầu dân ý

(1) Các thành viên của Quốc hội sẽ không có quyền huỷ bỏ một nghị quyết để đưa ra một dự luật hoặc vấn đề quốc gia khác ra trưng cầu dân ý hoặc để tổ chức một  trưng cầu dân ‎ý mà các thành viên này đã thông qua.

(2) Các nghị quyết nhằm tổ chức một cuộc trưng cầu dân ‎ý về một dự luật có sự xung đột với Hiến pháp, ngoại trừ các nghị quyết nhằm đưa một dự luật để sửa đổi Hiến pháp ra  trưng cầu dân ‎ý, có thể bị huỷ bỏ bởi quyết định của toà án tối cao trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

II.3.3. Thuỵ Điển (Luật Trưng cầu dân ý 1979).

Mục 10. Việc bỏ phiếu diễn ra trong ngày trưng cầu dân ‎ý ở các nơi bỏ phiếu cho cuộc trưng cầu dân ý mà cử tri có tên trong danh sách bầu cử. Những người có quyền bầu cử, những người đang cư trú bên ngoài Thụ‏y Điển hoặc ở những địa bàn khác ở Thụ‏y Điển hoặc vì những l‎ý do khác thấy họ có khó khăn trong việc bỏ phiếu vào thời gian và địa điểm được đề cập trên đây, có thể bỏ phiếu ở Posten Aktiebolag's những bưu điện ở Thụ‏y Điển, ở những điểm bỏ phiếu đặc biệt ở Thuy Điển hoặc ở những cơ quan ngoại giao Thụy Điển.

Nếu một vài cuộc trưng cầu dân ‎ý diễn ra cùng lúc, những người bỏ phiếu ở một bưu điện, ở một nơi bỏ phiếu đặc biệt hoặc ở một cơ quan ngoại giao, sẽ thực hiện quyền bỏ phiếu của họ tại một chỗ và cùng lúc với tất cả các cuộc trưng cầu dân ‎ý mà họ muốn tham gia. Nếu một cuộc trưng cầu dân ‎ý diễn ra cùng với một cuộc bầu cử Quốc hội, những cử tri muốn tham gia cả cuộc trưng cầu dân ‎ý và cuộc bầu cử phải bỏ các lá phiếu của mình ở cuộc trưng cầu dân ‎ý  cùng lúc với cuộc bầu cử.

Liên quan đến việc bỏ phiếu và việc xử l‎ý các phiếu bầu được bỏ hoặc ở bưu điện, ở các điểm bỏ phiếu đặc biệt trong nước hoặc ở các cơ quan ngoại giao, các quy định liên quan đến các cuộc bầu cử bình thường của Quốc hội ở các Chương 11-15 của Luật Bầu cử (1997:157) sẽ được áp dụng. Nếu một cuộc trưng cầu dân ‎ý diễn ra cùng với một cuộc bầu cử Quốc hội, hoặc nếu nó không bao trùm cả đất nước thì các quy định về các cuộc bầu cử đặc biệt ở các Chương 11-15 của Luật Bầu cử được áp dụng.

Ở những địa điểm mà việc bỏ phiếu diễn ra, một bản sao của Luật này, của luật đặc biệt cho cuộc trưng cầu dân ‎ý đang được triển khai, trong những trường hợp cụ thể, và của Luật Bầu cử sẽ được để sẵn. Khi cuộc trưng cầu dân ‎ý về một vấn đề liên quan tới hiến pháp, bản văn của đề nghị sửa đổi mà cuộc trưng cầu dân ‎ý đó đề cập tới cũng được để sẵn.

Mục 11. Các phiếu bầu được kiểm tạm thời ở các nơi bỏ phiếu và ở Uỷ ban Bầu cử. Về vấn đề này, các quy định tại Chương 16 và 17 của Luật Bầu cử được áp dụng. Khi mà cuộc trưng cầu dân ‎ý được tổ chức cùng thời điểm với cuộc bầu cử vào Quốc hội, sự kiểm soát phiếu bỏ trước được thực hiện theo quy định tại Chương 15, các Mục 7-13 và Chương 17, các Mục  3-7 cùng cho cuộc trưng cầu dân ‎ý và cuộc bầu cử.

Khi kiểm phiếu, các lá phiếu được sắp xếp theo các nhóm tuỳ theo ‎chính kiến. Phiếu trắng được để thành một nhóm riêng. Số phiếu của mỗi nhóm được đếm và con số được ghi chú tại một biên bản. Sau đó các lá phiếu được xếp theo nhóm trong một cái bao đặc biệt. Một ghi chú trên bao về loại phiếu và số lượng phiếu được đặt trong bao đó.

Về việc kiểm phiếu tại uỷ ban bầu cử, một hòm phiếu riêng được sử dụng cho mỗi loại bầu cử và cho mỗi khu vực hình thành một đơn vị bầu cử như áp dụng cho các cuộc bầu cử hội đồng địa phương.

Mục 12

Cuối cùng, các lá phiếu được Ban Hành chính Tỉnh kiểm. Lúc này các lá phiếu phải được đếm riêng cho mỗi khu vực hình thành một đơn vị bầu cử trong các cuộc bầu cử hội đồng thành phố. Chương 18, Mục 1 và các Mục 3-9 của Luật Bầu cử (1997:157) được áp dụng cho việc kiểm phiếu

Mục 13. Một lá phiếu là không hợp lệ nếu

1. Không do Cơ quan bầu cử Trung ương cung cấp cho cuộc trưng cầu dân ‎ý hoặc

2. Có những dấu hiệu rõ ràng được áp dụng cho lá phiếu đó một cách có chủ ý

Khi có một vài phiếu giống y hệt nhau trong một phong bì phiếu thì chỉ một phiếu được đếm. Nếu, trong trường hợp khác, có nhiều hơn một lá phiếu trong một phong bì phiếu thì những lá phiếu này cũng không hợp lệ.

Mục 14. Sau khi việc kiểm phiếu đã được Ban Hành chính Tỉnh thực hiện, tất cả các lá phiếu được đặt trong một cái bao đặc biệt với những phiếu hợp lệ được đặt riêng với các phiếu không hợp lệ. Sau đó cái bao sẽ được niêm phong. Các lá phiếu được giữ ít nhất một năm sau khi thủ tục kiểm phiếu đã hoàn tất.

Các thủ tục này được kết thúc bằng biên bản được nộp để kiểm tra. Các biên bản này được gửi ngay đến Cơ quan bầu cử Trung Ương.

Mục 15. Cơ quan Bầu cử Trung ương đếm các phiếu đã được bỏ trên phạm vi toàn quốc trên cơ sở các biên bản từ Ban Hành chính Tỉnh và tuyên bố kết quả của cuộc trưng cầu dân ‎ý thông qua một thông báo trên Công báo. Cuộc trưng cầu dân ‎ý đến đó là kết thúc. Các tài liệu liên quan đến cuộc trưng cầu dân ‎ý được đặt trong các két an toàn và giữ ít nhất một năm sau khi kết thúc việc bỏ phiếu.

Mục 16. Các khiếu nại về các quyết định mà nhờ đó Cơ quan Bầu cử Trung ương đưa ra kết quả cuộc trưng cầu dân ‎ý, được chuyển cho Ban thẩm tra bầu cử. Về những thủ tục như vậy, các điều khoản ở Chương 1, Mục 19, Chương 19, Mục 3 đoạn đầu tiên, các Mục  4 và 5-8 của Luật Bầu cử (1997:157) liên quan đến các kháng cáo đối với các cuộc bầu cử Quốc hội, cũng như các Mục 16 và 17 của Chương này được áp dụng.

Những người có quyền được bỏ phiếu theo danh sách bầu cử trong các cuộc trưng cầu dân ý cũng như những người bị tước quyền bầu cử theo quyết định được quy định tại Chương 7, Mục 11 của Luật Bầu cử có thể nộp các đơn kháng nghị. Các kháng nghị cũng có thể do một đảng hoặc một uỷ ban vận động đã hoạt động cho bất kỳ một đề nghị nào mà cuộc trưng cầu dân ý đề cập tới.

Mục 17. Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện cuộc trưng cầu dân ý do một cơ quan chịu trách nhiệm, nếu có sự chệch hướng với những kế hoạch được chuẩn bị sẵn, hoặc nếu một ai đó ngăn trở việc trưng cầu dân ý, báo cáo sai về số lượng phiếu đã bỏ hoặc hành động một cách không phù hợp trong thủ tục bỏ phiếu theo bất kỳ một cách nào khác, thì Uỷ ban thẩm tra bầu cử sẽ, nếu họ có thể giả định một cách hợp l‎ý rằng những gì đã xảy ra đã tác động đến kết quả của cuộc trưng cầu dân ý, khi điều tra về việc bỏ phiếu, tuyên bố rằng cuộc trưng cầu dân ‎ý đó vô hiệu đến một mức độ cần thiết nào đó, và yêu cầu một cuộc trưng cầu dân ý mới ở một hoặc một vài vùng hình thành một khu vực bỏ phiếu như là bầu hội đồng địa phương hoặc khi mà một sự đính chính có thể đạt được thông qua việc kiểm lại phiếu, yêu cầu Cơ quan Bầu cử Trung ương phải thông qua việc sửa sai này. Tuy nhiên, việc yêu cầu một cuộc bỏ phiếu mới sẽ chỉ được chấp nhận nếu những gì đã xảy ra có thể khiến cho kết quả của cuộc trưng cầu dân ý bị sai lệch về mặt mục đích của vấn đề được trưng cầu.

Nếu một quyết định cụ thể không thể bị kháng nghị theo luật pháp hoặc nếu nó phải bị kháng nghị theo một trình tự đặc biệt, một trường hợp được đề cập tới trong quyết định này có thể không được viện dẫn cùng với một kháng nghị được đề cập trong mục này.

Mục 18. Trong trường hợp một cuộc trưng cầu dân ý có tính tham vấn thì vấn đề được hỏi mọi người cũng như thời gian của việc bỏ phiếu được cụ thể hoá trong một luật đặc biệt.

 III. NHẬN XÉT CHUNG.

Luật trưng cầu dân ý là cơ sở pháp lý cho hoạt động nghiên cứu dư luận xã hội nói chung và hoạt động nghiên cứu dư luận xã hội phục vụ cho hoạt động lập pháp Quốc hội nói riêng. Đây cần được coi là một yêu cầu tất yếu trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc dư luận xã hội là một hiện tượng chính trị - xã hội, nên việc đảm bảo tính khuynh hướng của dư luận xã hội có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội. Vì vậy, nó cần được thiết chế hoá theo quy định của pháp luật.

 “Sự tham gia của nhân dân” [2]  và các hình thức huy động sự tham gia của nhân dân được xem xét từ các góc độ thực tiễn và lý luận. Đó là nền tảng để nhân dân tham gia vào việc xây dựng chính sách và pháp luật không theo cách “lấy - cho” từng lần mà trở thành hoạt động thường xuyên, bình thường hơn, tiếp cận rộng hơn ở mức độ “tham gia”.

Về sự tham gia của công chúng[3], nhằm hoàn thiện văn bản, mục đích là sự tham gia chủ động của công chúng tùy theo vấn đề mà họ quan tâm và hướng tới “sự đoàn kết nhất trí về chính trị và tinh thần trong xã hội”, như Văn kiện Đại hội Đảng IX đã chỉ rõ.

Vai trò của cơ quan Nhà nước là chủ động cho dân biết và có cơ chế nghe và phản hồi. Các chủ thể công bố dự kiến chính sách, dự thảo cần xây dựng các cơ chế đối ngoại, nghe, tổng kết, tập hợp, xử lý, tiếp thu, phản hồi bằng những hình thức đa dạng.

Trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, trước hết quan niệm về quan hệ Nhà nước - nhân dân phải được xử lý công bằng, và trên cơ sở đó, việc quản lý xã hội bằng pháp luật phải có sự tham gia tích cực của các cộng đồng xã hội không phải trong quá trình thực hiện mà còn ở quá trình quy hoạch, quyết định chính sách pháp luật. Điều kiện ban đầu đặt nền cho sự tham gia này là minh bạch hóa chính sách và pháp luật.

Tiến tới “bình thường hóa” việc Trưng cầu dân ý, tiến hành một cách thường xuyên và có ý thức sự tham gia của nhân dân vào chính sách . Cơ chế này có ba yêu cầu cơ bản:

 a) “Chính sách mới” được cơ quan soạn thảo công bố;

 b) Công chúng có quyền lợi liên quan biết chỗ lấy được thông tin này và địa chỉ để gửi ý kiến, họ chủ động góp ý kiến khi cần;

 c) Cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và phương tiện thông tin đại chúng tạo điều kiện để có hình thức thông tin thích hợp theo đối tượng, hoặc bằng các hình thức sinh hoạt cơ sở để nhiều người biết và giúp họ chuyển tải ý kiến tới cơ quan soạn thảo.

Vai trò của cơ quan Nhà nước là chủ động cho dân biết và có cơ chế nghe và phản hồi. Các chủ thể công bố dự kiến chính sách, dự thảo cần xây dựng các cơ chế nghe, tổng kết, tập hợp, xử lý, tiếp thu, phản hồi bằng những hình thức đa dạng.

Công khai chính sách và văn bản dự thảo nhằm “đưa đời sống” vào pháp luật, thông qua phản biện xã hội: Một cơ chế công khai về dự kiến chính sách và pháp luật vừa là sự thăm dò tác động xã hội của một chính sách sắp ban hành, đồng thời vừa thể hiện sự đối xử công bằng của nhà hoạch định chính sách đối với các đối tượng chịu tác động của chính sách. Đó là hướng xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó không ai đứng trên pháp luật.

Chủ thể trưng cầu dân ý là toàn thể xã hội nói chung, là quần chúng nhân dân, là các tổ chức Đảng, hoặc các tổ chức đoàn thể xã hội. Khách thể trưng cầu dân ý có thể là những sự kiện hết sức khác nhau trong đời sống xã hội. Lợi ích chung được xem xét là tiêu chuẩn hàng đầu để xác định khách thể của trưng cầu dân ý.

Kết quả trưng cầu dân ý chính xác cũng là cơ sở cho việc điều chỉnh tổ chức và hình thức hoạt động của quản lý nhà nước.

IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO.

 

1. C. Mác và Ph. Ăngghen (Toàn tập, Tập 23).1993. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

 2. Durkheim, E. 1895. Những quy tắc phương pháp xã hội học (Nguyễn Gia Lộc dịch). NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

3. Hồ Chí Minh (Toàn tập, Tập 5).1995. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4. Mai Quỳnh Nam.1995. Dư luận xã hội-mấy vấn đề lý luận và phương pháp nghiên cứu. Tạp chí Xã hội học, N. 1. 

5. Mai Quỳnh Nam.1996. Truyền thông đại chúng và dư luận xã hội. Tạp chí Xã hội học, N. 1.

6. Phạm Văn Quyết - Nguyễn Quý Thanh. 2001. Phương pháp nghiên cứu xã hội học. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

7. PGS-TS Từ Điền, Điều tra thăm dò Dư luận xã hội – Nhà xuất bản Thống kê -9-1996.

8. Mai Quỳnh Nam. Vai trò của nghiên cứu Dư luận xã hội đối với các nhiệm vụ của Quốc hội, 2004. Dự án Tăng cường năng lực điều tra Dư luận xã hội phục vụ hoạt động của Quốc hội. Trung tâm Thông tin, Thư viện và Nghiên cứu khoa học, Văn phòng Quốc hội.

9. Luật Trưng cầu Dân ý 19/6/1994 của Estonia .

10. Luật về Sáng kiến pháp luật và Trưng cầu dân ý ngày 04/8/1989 của Philipine.

11. Luật về Các cuộc trưng cầu dân ý quốc gia của Thuỵ Điển 1979.


[1] PGS.TS Từ Điển, Điều tra thăm dò dư luận, NXB Thống kê 9- 1996.

[2] Tham khảo Tài liệu: Lý thuyết về sự tham gia của công chúng trong sinh hoạt chính trị - xã hội - tài liệu của Nhóm Perspective, Hiệp hội quốc tế về Sự tham gia của Công chúng: www. theperspectives group.com, International Association for Public Participation.

[3] Tham khảo Tài liệu: Lý thuyết về sự tham gia của công chúng trong sinh hoạt chính trị - xã hội - tài liệu của Nhóm Perspective, Hiệp hội quốc tế về Sự tham gia của Công chúng: www. theperspectives group.com, International Association for Public Participation.

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống