Tổng quan về quy trình lập pháp của Quốc hội Việt Nam

02/01/2013


1. Khái quát về chức năng lập pháp của Quốc hội Việt Nam: 

- Lập pháp của Quốc hội là thay mặt nhân dân xem xét thông qua các dự án Luật được cơ quan hay cá nhân có thẩm quyền đưa trình;

- Có 4 mô hình lập pháp trên thế giới:

+ Mô hình lập pháp chứng thực, xác nhận không có ảnh hướng đến chính sách, không sửa đổi hoặc từ chối chính sách được cơ quan, cá nhân đưa trình;

+ Mô hình lập pháp diễn đàn: Khớp nối các khác biệt, có thể chỉ trích Chính phủ nhưng không thay đổi gì;

+ Mô hình lập pháp chuyển đổi: Có quyền sửa đổi, hoặc từ chối các chính sách trong các dự án luật đưa trình, xây dựng và thay thế chính sách của riêng mình.

+ Mô hình lập pháp mới nổi: Thay đổi từ mô hình này sang mô hình khác nhưng chưa triệt để;

- Mô hình lập pháp nước ta có ảnh hưởng đến chính sách; trong dự án đưa trình và có sự hợp tác với cơ quan có thẩm quyền đưa trình dự án luật.

2. Quy trình lập pháp là gì?

- Là các bước, các giai đoạn cần tiến hành theo một trật tự hợp lý, chặc chẽ, khoa học do luật quy định nhằm tạo ra các đạo luật có chất lượng tốt nhất;

- Tuân thủ nghiêm minh quy trình lập pháp là nguyên tắc của nhà nước pháp quyền.

- Quy trình lập pháp của Quốc hội Việt Nam quy định trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 03/6/2008 trên cơ sở sửa đổi, bổ sung luật năm 1996 và luật năm 2002.

3. Các giai đoạn (các bước) trong quy trình lập pháp nước ta.

(Theo luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, quy trình lập pháp nước ta trải qua 6 bước).

-        Lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh;

-        Soạn thảo luật, pháp lệnh;

-        Thẩm tra dự án Luật, pháp lệnh;

-        Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét cho ý kiến;

-        Thảo luận tiếp thu, chỉnh lý và thông qua dự án luật, dự án pháp lênh;

-        Công bố luật, pháp lệnh.

6 bước nói trên có quan hệ chặt chẽ với nhau.

3.1. Giai đoạn 1: Lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh (chương trình nhiệm kỳ và chương trình hàng năm):

- Đề nghị kiến nghị về luật, pháp lệnh (đưa sáng kiến lập pháp): Luật Việt Nam quy định rất rộng rãi bao gồm: Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận và các tổ chức thành viện có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội (điều 87 Hiến pháp hiện hành);

- Đại biểu Quốc hội có quyền gửi đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh, có quyền gửi kiến nghị về luật, pháp lệnh đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

- Đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh phải nói rõ: Sự cần thiết, đối tượng phạm vi điều chỉnh, quan điểm chính sách của văn bản, nội dung chính, dự kiến nguồn tài chính, báo cáo đánh giá tác động sơ bộ của văn bản;

- Kiến nghị về luật, pháp lệnh phải nêu rõ sự cần thiết ban hành, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của văn bản;

- Thời gian gửi kiến nghị, đề nghị chậm nhất vào ngày 01/3 của năm trước;

- Thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh;

- Ủy ban pháp luật tập hợp và chủ trì thẩm tra đề nghị xây dựng luật, pháp lệnh của cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội và kiến nghị về luật, pháp lệnh của đại biểu Quốc hội;

- Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban pháp luật trong việc thẩm tra;

- Ủy ban thường vụ Quốc hội lập dự kiến chương trình xây dựng luật, pháp lệnh…;

- Quốc hội xem xét, thông qua dự kiến chương trình xây dựng…;

-  Trong trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh chương trình.

3.2. Giai đoạn 2: Soạn thảo luật, pháp lệnh:

Thành lập ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo (điều 30).

- Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập ban soạn thảo và phân công cơ quan chủ trì soạn thảo trong các trường hợp: Dự án luật có nội dung liên quan đến nhiều ngành nhiều lĩnh vực, dự án luật do Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình.

- Trường hợp dự thảo luật do Chính phủ trình thì Chính phủ giao cho một Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ chủ trì soạn thảo và thành lập ban soạn thảo.

- Trường hợp do cơ quan khác, tổ chức trình thì cơ quan tổ chức đó có trách nhiệm thành lập ban soạn thảo.

Lấy ý kiến đối với dự án Luật, pháp lệnh (điều 35).

- Trong quá trình soạn thảo dự án luật, cơ quan, tổ chức, chủ trì soạn thảo phải lấy ý kiến cơ quan tổ chức hữu quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản.

- Việc lấy ý kiến có thể bằng hình thức trực tiếp, gửi dự thảo để góp ý, tổ chức hội thảo, thông qua trang thông tin điện tử của Chính phủ, của các cơ quan chủ trì soạn thảo và các phương tiện thông tin đại chúng.

- Cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm góp ý bằng văn bản. Trong đó, Bộ Tài chính có trách nhiệm góp ý về nguồn tài chính, Bộ Nội vụ góp ý về nguồn nhân lực; Bộ Tài nguyên môi trường góp ý về đánh giá tác động đối với môi trường…

Thẩm định dự án Luật do Chính phủ trình (điều 36):

- Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự án Luật;

- Sau khi có thẩm định của Bộ Tư pháp cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự án luật trước khi trình Chính phủ;

- Chính phủ xem xét, thảo luận tập thể và biểu quyết theo đa số để quyết định việc trình dự án luật ra Quốc hội;

- Đối với những dự án luật không do Chính phủ trình, Chính phủ có trách nhiệm tham gia ý kiến bằng văn bản.

3.3. Giai đoạn 3: Thẩm tra dự án Luật:

- Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban có trách nhiệm chủ trì thẩm tra dự án Luật thuộc lĩnh vực mà mình phụ trách (điều 41);

- Nội dung (điều 41):

+ Phạm vi, đối tượng điều chỉnh;

+ Nội dung của dự thảo Luật có những vấn đề gì còn có ý kiến khác nhau;

+ Sự phù hợp của nội dung dự thảo với đường lối, Hiến pháp, pháp luật và tính thống nhất của dự thảo văn bản với hệ thống pháp luật.

+ Tính khả thi.

- Ủy ban Pháp luật có trách nhiệm thẩm tra để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án Luật với hệ thống pháp luật.

- Ủy ban Các vấn đề xã hội thẩm tra việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong dự án Luật (điều 47).

3.4. Giai đoạn 4: Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét cho ý kiến về dự án Luật (điều 48)

- Giai đoạn này nhằm đảm bảo đưa trình dự án Luật ra Quốc hội được chuẩn bị chu đáo, đúng quy trình Luật định và nâng cao chất lượng của dự án Luật;

- Trên cơ sở ý kiến của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, cơ quan tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án Luật có trách nhiệm nghiên cứu, tiếp thu để chỉnh lý hoàn thiện dự án.

3.5. Giai đoạn 5: Thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý và thông qua:

- Quốc hội: xem xét, thông qua dự án Luật tại một hoặc hai kỳ họp Quốc hội (điều 51).

+ Đối với dự án Luật thông qua tại 1 kỳ họp thường có nội dung đơn giản, chủ yếu là sửa đổi bổ sung một số điều.

+ Đối với dự án thông qua tại hai kỳ họp là phổ biến.

Trình tự xem xét thông qua dự án Luật tại một kỳ họp (điều 52):

- Cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội trình dự án luật, thuyết trình về dự thảo;

- Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

- Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể. Trước đó có thể thảo luận ở tổ;

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân đưa trình dự án Luật có thể giải trình thêm trong quá trình Quốc hội xem xét, thảo luận.

- Đối với những vấn đề quan trọng và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau của dự án Luật thì Quốc hội tiến hành biểu quyết theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

- Sau khi dự án Luật được Quốc hội thảo luận, cho ý kiến, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý;

- Uỷ ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo;

- Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo luật;

- Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực.

Trình tự xem xét thông qua dự án Luật tại hai kỳ họp (điều 53):

- Tại kỳ họp thứ nhất:

+ Đại diện cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội thuyết trình dự án luật;

+ Đại diện cơ quan chủ trì thẩm tra trình bày báo cáo thẩm tra;

+ Quốc hội thảo luận tại phiên họp toàn thể về những nội dung cơ bản, những vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án luật trước đó có thể thảo luận ở tổ;

+ Những vấn đề cơ bản, những vấn đề lớn quan trọng của dự án luật còn có ý kiến khác nhau thì Quốc hội biểu quyết theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

+ Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo đoàn thư ký kỳ họp tổng hợp ý kiến của đại biểu và kết quả biểu quyết làm cơ sở chỉnh lý dự thảo.

- Trong thời gian giữa 2 kỳ họp của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo tổ chức việc nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo theo.

- Tại kỳ họp thứ hai:

+ Đại diện Uỷ ban thường vụ Quốc hội trình bày báo cáo giải trình tiếp thu chỉnh lý dự thảo;

+ Quốc hội thảo luận về những nội dung còn có ý kiến khác nhau của dự án luật;

+ Ủy ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, tiếp thu chỉnh lý dự thảo;

+ Thường trực Uỷ ban Pháp luật chủ trì, phối hợp với cơ quan chủ trì thẩm tra; cơ quan, tổ chức trình dự án tổ chức rà soát để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của dự án, dự thảo với hệ thống pháp luật;

+ Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Luật;

+ Chủ tịch Quốc hội ký chứng thực.

3.6. Giai đoạn 6: Công bố Luật.

- Chủ tịch nước ban hành lệnh để công bố Luật chậm nhất là mười lăm ngày kể từ ngày luật được thông qua.

GS. TS. Trần Ngọc Đường
Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống