Lấy phiếu tín nhiệm – một hình thức giám sát Thường niên của quốc hội và hội đồng nhân dân

25/09/2013

1. Quyền lực nhà nước và phân công lao động quyền lực
Quyền lực nhà nước, xét theo bản chất là một loại hình quyền lực xã hội đặc thù được biểu hiện bằng một thiết chế xã hội là bộ máy nhà nước. Không có một thiết chế xã hội là bộ máy nhà nước để biểu hiện thành một hiện thực xã hội thì quyền lực nhà nước sẽ là vô định, vô hiệu.
Quyền lực nhà nước là sự thể hiện bằng một bộ máy về mặt xã hội đó là quyền thống trị, lãnh đạo của một giai cấp, một cộng đồng dân cư đối với toàn thể một xã hội, một quốc gia. Quyền lực nhà nước cũng có thể được xem là quyền lãnh đạo bằng nhà nước của một chủ thể - tập đoàn, giai cấp, một cộng đồng dân cư đối với một xã hội.
Như vậy, quyền lực nhà nước không thể tách rời bộ máy nhà nước, bộ máy nhà nước vật chất hóa, là hiện thân của quyền lực nhà nước. Nhưng bộ máy nhà nước không phải là một lâu đài trống rỗng mà ở đó có cả một đội ngũ đông đảo các công chức, mỗi người được giao một vị trí nhất định khác nhau để thực thi quyền lực nhà nước.
Một trong những đặc trưng cơ bản của đội ngũ công chức này là tính chuyên nghiệp, họ được đặt vào đây, ở những vị trí khác nhau, nói theo ngôn ngữ của Lênin, để chuyên làm “nghề cai trị”. Mỗi người cùng với vị trí của mình hợp với những người khác, những công chức khác tỏa lan ra theo các chiều ngang, dọc bủa vươn ra trên một quốc gia, một đất nước thành một bộ máy và đó là bộ máy nhà nước, tồn tại liên tục, không ngừng, bảo đảm cho quyền lực nhà nước hiện hữu, thống nhất. Đối với quyền lực nhà nước, nó không thể có giây phút chết. Người xưa, theo cách khái quát, hình tượng hóa đã có câu nói: “Một đất nước không thể một ngày thiếu vua” là như vậy.
Để thực hành những công việc được giao, từng con người trong guồng máy nhà nước đó, thường xuyên sản ra một lực với những thao tác nhất định để thực hiện và hoàn thành một công vụ được giao. Nói cách khác, quyền lực nhà nước thông qua sức lao động thể hiện thành hành động của đội ngũ công chức nhà nước để trở những quyết định, mệnh lệnh, chỉ thị, công vụ…để từ đó dến với xã hội. Như vậy, quyền lực nhà nước gắn bó hữu cơ với lao động của từng con người cụ thể, tức là của đội ngũ công chức đông đảo. Quyền lực nhà nước không thể hiện hình, có hình hài, tồn tại như một hiện thực xã hội. Điều đó nói lên tầm quan trọng, vị trí xã hội rất cần thiết, không thể thiếu của loại hình lao động này và từ lâu ở các nước đã ra đời khái niệm “lao động quyền lực”.
Lao động quyền lực gắn liền với những thao tác thực thi quyền lực là một loại hình lao động đặc thù. Và như phân tích ở trên, quyền lực nhà nước luôn trong tư thế vận hành, hoạt động, được tổ chức theo một quy trình chặt chẽ có tính tái diễn liên tục, thường trực như một dòng điện xoay chiều, không ngừng, thông qua những khâu đoạn nhất định có tính bắt buộc. Và ở từng khâu đoạn, quyền lực nhà nước được biểu hiện thành những hoạt động, thao tác nhất định, đặc thù cho những con người nhất định với những phương thức riêng biệt, đặc thù ổn định thực hiện.
Từ đây xuất hiện nhu cầu đòi hỏi sự phân công lao động quyền lực trong từng khâu đoạn thực hiện quyền lực nhà nước: Lao động lập pháp khác lao động hành pháp và lao động tư pháp khác lao động lập pháp, hành pháp.
Thực tiễn tác nghiệp của từng loại hình lao động – quyền lực lập pháp, hành pháp, tư pháp cho thấy phương thức thực hiện của từng loại hình lao động quyền lực rất khác nhau: Lập pháp không giống hành pháp. Đặc trưng của lao động lập pháp là chế độ đại nghị - hội và nghị bằng các văn bản quy phạm pháp luật đưa ra những quy tắc có tính khuôn mẫu để hướng dẫn cả xã hội cùng làm theo một định hướng chung. Hành pháp thì khác, liên quan đến tổ chức, điều hành, chỉ huy, phục tùng do một cá nhân có thể là Thủ tướng, Bộ trưởng… thực hiện. Sự điều hành đòi hỏi những quyết định kịp thời, mau lẹ, liên tục nên phải do cá nhân chịu trách nhiệm, còn lao động tác nghiệp thực hiện quyền tư pháp lại khác hẳn: Lấy các quy định pháp luật soi rọi vào từng hành vi, sự kiện pháp lý để xem xét, phán quyết và áp dụng các chế tài cụ thể đối với từng hành vi cho từng con người theo một thủ tục, trình tự tố tụng chặt chẽ. Đó là những cơ sở khách quan cho sự chuyên môn hóa các thao tác vận hành thực thi quyền lực của mỗi loại hình lao động quyền lực: Lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Không phải ngẫu nhiên từ thời cổ đại cách thời đại chúng ta ngày nay 25-26 thế kỷ các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại đã bàn đến một cách khá cụ thể về phân công lao động quyền lực. Platon (427-347 tr CN) đã từng cho rằng phân công lao động là nguyên tắc cơ bản của một xã hội lý tưởng, từ đó ông xem phân công lao động trong bộ máy nhà nước để thực thi các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp là hoàn toàn cần thiết. Arixtốt (384-322 tr.CN) là học gỉa vốn được Mác đánh giá là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại, cũng khẳng định nhà nước là một thể thống nhất được tạo nên bởi ba bộ phận độc lập với nhau: Cơ quan làm luật, cơ quan hành pháp, cơ quan xét xử.
2. Sự cần thiết phải chế ngự, giám sát quyền lực nhà nước
Nếu như quyền lực nhà nước được thực hiện bởi những người có đức hạnh và tài năng và với mục đích vì nhân dân thì sự chế ngự, giám sát quyền lực nhà nước là vô nghĩa và cũng không cần thiết phải xác định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong Hiến pháp và các bản tuyên ngôn. Lịch sử đã cho thấy sự tàn bạo của của nền quân chủ chuyên chế và chế độ độc tài phát xít khi quyền lực nhà nước không bị hạn chế. Hơn nữa, nhân dân với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước không thể thụ động trông chờ vào “sự ban phát” của kẻ nắm quyền lực nhà nước.
Trong chế độ chuyên chế thần quyền, những lãnh tụ là người “cõi trên” do vậy quyền lực cai trị không thể bị nghi ngờ. Tuy nhiên, đa số nhân dân không tin là mình được thần thánh cai trị và chính những người cai trị biết rõ nhất mình có là thánh thần hay không. Cũng có quan điểm cho rằng không nên hạn chế quyền lực vì sự tin tưởng vào đạo đức của người cai trị. Nhưng cai trị bằng đạo đức là lý tưởng hơn là một thực tế vì lịch sử cho thấy các vị vua và các lãnh tụ cai trị bằng nhân đức không nhiều. Hơn nữa, chỉ điều chỉnh các quan hệ quyền lực bằng các quy tắc đạo đức, bằng nhân nghĩa trong điều kiện phát triển của chế độ tư hữu và xung đột giai cấp gần như là không thể vì các quy tắc đạo đức rất đa dạng và không thể xác định rõ ràng.
Mục đích quan trọng và cơ bản nhất của việc chế ngự, giám sát quyền lực nhà nước là nhằm ngăn ngừa sự chuyên chế, lạm dụng quyền lực. Trong hầu hết các chính thể hiện đại, nguồn gốc quyền lực nhà nước được ghi nhận là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân nhưng quyền lực này chủ yếu được thực hiện thông qua các đại diện của nhân dân. Vì quyền lực không do dân trực tiếp thực hiện nên không có sự đảm bảo tuyệt đối là quyền lực nhà nước không đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Ở góc độ này, sự chế ngự, giám sát quyền lực giúp hạn chế sự lạm dụng quyền lực nhà nước và đảm bảo cho việc thực hiện quyền lực nhà nước phải vì lợi ích của nhân dân.
Tuy nhiên sự chế ngự, giám sát quyền lực nhà nước không chỉ ngăn ngừa sự chuyên chế và lạm dụng mà nó còn có mục đích đảm bảo cho quyền lực nhà nước được thực hiện một cách có hiệu quả và có trách nhiệm. Có quan điểm đối lập tính hiệu qủa với sự chế ngự, giám sát quyền lực nhà nước. Quan điểm này cho rằng, chế ngự, giám sát sẽ trói buộc nhà nước và do vậy dẫn đến tình trạng kém hiệu quả trong quản lý nhà nước.
Vấn đề cốt lõi là nhân dân trước tiên và cần thiết phải tránh được điều tồi tệ xảy ra do sự chuyên chế và lạm dụng quyền lực nhà nước trước khi đạt được những điều tích cực khác từ quyền lực nhà nước. Nói một cách ngắn gọn, chuyên chế có thể hiệu quả trong một mặt nào đó nhưng nó chắc chắn dẫn tới rủi ro do sự chuyên quyền, sự chế ngự; giám sát có thể cản trở nhà nước nhưng nó giúp hạn chế sự rủi ro từ chính nhà nước.
Tính hiệu quả của quyền lực nhà nước phải được xác định với một tiêu chí quan trọng nhất là ý chí của nhân dân. Hay nói cách khác, việc thực hiện quyền lực nhà nước được coi là hiệu quả nhất khi nó không trái với lợi ích và ý chí của nhân dân. Trên thực tế, sự chuyên chế có thể mang lại hiệu quả tăng trưởng kinh tế nhưng sự tăng trưởng này không đảm bảo là toàn dân được hưởng lợi như nhau, đặc biệt là người nghèo và những tầng lớp dễ bị tổn thương nhất. Mặt khác, sự chế ngự, giám sát quyền lực cung cấp cơ chế báo động để “ngăn chặn những thảm họa” mà việc thực hiện quyền lực một cách chuyên chế không thể có được ( ). Quyền lực nhà nước không thể có hiệu quả nếu thảm họa xảy ra, đặc biệt là thảm họa do sự chuyên chế trong việc thực hiện quyền lực nhà nước mang lại.
Sự cần thiết chế ngự, giám sát quyền lực nhà nước cũng xuất phát từ ý nghĩa của việc chế ngự, giám sát. Tuy sự chế ngự, giám sát quyền lực không thể chỉ bằng các quy tắc đạo đức nhưng nó lại có ý nghĩa đạo lý vì sự lạm dụng quyền lực nhà nước chính là sự vi phạm đạo lý, coi thường quyền lực của nhân dân và góp phần làm suy giảm đạo đức trong xã hội. Sự chế ngự, giám sát quyền lực có ý nghĩa nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy dân chủ và ý thức chính trị của nhân dân.
Một trong những đặc trưng quan trọng nhất của quyền lực nhà nước là tính độc quyền sử dụng sức mạnh vũ lực, hay được coi là là sự độc quyền sử dụng sức mạnh cưỡng chế với toàn thể cư dân. Không một chủ thể nào có thể cạnh tranh với nhà nước trong việc sử dụng sức mạnh cưỡng chế ( ). Hơn nữa, quyền lực nhà nước lại dựa trên nguồn của cải vật chất to lớn và bộ máy đồ sộ cho nên nó trở nên nguy hiểm đối với lợi ích hợp pháp của các cá nhân công dân. Xuất phát từ đặc tính này của quyền lực nhà nước cho thấy sự cần thiết phải chế ngự, giám sát quyền lực nhà nước.
Trong chế độ dân chủ và pháp quyền thì quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tự có của nhà nước mà quyền lực được nhân dân ủy quyền, nhân dân giao quyền. Vì quyền lực nhà nước là của nhân dân, nhưng nhân dân lại không trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước của mình mà lại giao cho người khác là nhà nước, nên tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên phải chế ngự, giám sát quyền lực nhà nước.
Mặt khác, khi ủy quyền cho nhà nước, quyền lực nhà nước lại thường vận động theo xu hướng tự phủ định mình, trở thành đối lập với chính mình lúc ban đầu (từ của nhân dân là số đông chuyển thành số ít của một nhóm người hoặc của một người). C.Mác gọi hiện tượng này là sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước là của nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước, suy cho cùng, là giao cho những con người cụ thể thực thi. Mà con người thì "luôn luôn chịu sự ảnh hưởng của các loại tình cảm và dục vọng đối với các hành động của con người. Điều đó cũng khiến cho lý tính đôi khi bị chìm khuất"( ). Đặc biệt là khi lý tính bị chi phối bởi các dục vọng, thói quen hay tình cảm thì khả năng sai lầm trong việc thực thi quyền lực nhà nước càng lớn. Hơn nữa, với bản tính vị kỷ, con người thường "bị điều khiển bởi khát vọng, trong đó khát vọng về quyền lực vừa là mục tiêu, vừa là công cụ để đạt các khát vọng khác"( ). Với đặc điểm đó của con người, không thể khẳng định người được ủy quyền luôn luôn làm đúng, làm đủ những gì mà nhân dân đã ủy quyền.
Cũng do bản tính, con người sinh ra đã có một mong muốn rất tự nhiên là muốn hơn người khác, muốn chỉ đạo người khác. Quyền lực nhà nước là lĩnh vực có khả năng nhất trong việc giúp con người đáp ứng được ước muốn này. Vì vậy, lòng đam mê quyền lực là bản tính vốn có của con người. Bản tính này càng cao trong một xã hội phương Đông. “Cho đến tận bây giờ ở phương Đông đều phải thừa nhận rằng, không ai không muốn đi học để rồi có cơ hội cho việc được làm quan, được cai trị thiên hạ, không những thoát khỏi cảnh đồng quê chân lấm, tay bùn mà còn có cơ hội giúp đỡ họ hàng theo kiểu “làm quan thì cả họ được nhờ”, chứ không phải đi học lấy kiến thức để làm kinh tế như ở các xã hội phương Tây. Khi chưa có quyền lực thì tìm mọi cách để có quyền lực, khi đã có quyền lực rồi thì tìm mọi cách để giữ quyền lực đến hơi thở cuối cùng. Sự đam mê này rất dễ dẫn tới mù quáng mà không trong sạch, anh minh, gây tổn thất cho người khác. Trong một xã hội như vậy mà việc tổ chức quyền lực không có những rào chắn, thì rất dễ bị thao túng, dễ lạm dụng quyền lực và lộng quyền” ( ).
Vì vậy, chế ngự, giám sát quyền lực nhà nước là một nhu cầu khách quan từ phía người ủy quyền đối với người được ủy quyền. Hơn thế nữa, quyền lực nhà nước không phải là một đại lượng có thể cân đong, đo đếm được một cách rạch ròi, vì nó là một thể thống nhất, như nói ở phần trên. Điều đó lại càng đòi hỏi phải chế ngự, giám sát quyền lực nhà nước để hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền, mâu thuẫn chồng chéo hoặc trùng lắp trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước, hạn chế hiệu lực và hiệu quả thực thi quyền lực nhà nước được nhân dân ủy quyền.
Xuất phát từ các đòi hỏi khách quan nói trên, quyền lực nhà nước thường được lượng hóa, phân định thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sự lượng hóa này là để giao cho các cơ quan nhà nước khác nhau, thay mặt nhân dân thực hiện. Trong thực tiễn ở nước ta, cũng như các nước, quyền lập pháp được giao cho Quốc hội hay Nghị viện, quyền hành pháp được giao Chính phủ, quyền tư pháp được giao cho Tòa án. Sự phân định các quyền như vậy là điều kiện cơ bản để nhân dân giao quyền mà không bị lạm quyền, nhân dân kiểm soát và đánh giá được hiệu lực và hiệu quả thực hiện các quyền mà mình đã giao. Đồng thời, cũng là để cho các cơ quan tương ứng được giao quyền đề cao trách nhiệm trong việc thực thi quyền lực nhà nước và tự kiểm tra việc thực hiện quyền lực nhà nước được giao của mình.
Quyền lập pháp là quyền đại diện cho nhân dân thể hiện ý chí chung của quốc gia. Những người được nhân dân trao cho quyền này là những người do phổ thông đầu phiếu bầu ra hợp thành cơ quan gọi là Quốc hội hay Nghị viện. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đại diện cho nhân dân, bảo đảm cho ý chí chung của nhân dân và được thể hiện trong các đạo luật mà mình là cơ quan duy nhất được nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật. Quyền biểu quyết thông qua luật là quyền lập pháp, chứ không phải là quyền đưa ra các mô hình xử sự cho xã hội. Vì vậy, quyền lập pháp không đồng nghĩa với quyền làm ra luật. Đồng thời, là người thay mặt nhân dân giám sát tối cao mọi hoạt động của nhà nước, nhất là hoạt động thực hiện quyền hành pháp, để góp phần giúp cho các quyền mà nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước không bị lạm quyền, lộng quyền hay bị tha hóa.
Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia do Chính phủ đảm trách. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là quản lý nhà nước (hay cai trị) mà thực chất là tổ chức thực hiện pháp luật để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển xã hội. Không có một Chính phủ quản lý nhà nước hữu hiệu không thể có một nhà nước giàu có, phát triển ổn định cả về mặt kinh tế lẫn mặt xã hội. Thực hiện quyền này đòi hỏi Chính phủ và các thành viên của Chính phủ phải nhanh nhạy, quyết đoán kịp thời và quyền uy tập trung thống nhất.
Quyền tư pháp là quyền xét xử, được nhân dân giao cho tòa án. Độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là nguyên tắc xuyên suốt và cao nhất trong tổ chức thực hiện quyền này, mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức không được phép can thiệp vào hoạt động xét xử của Tòa án. Đây thực chất là quyền bảo vệ ý chí chung của quốc gia bằng việc xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật từ phía công dân và cơ quan nhà nước. Vì vậy, bảo vệ pháp luật, công lý, tự do của công dân là trách nhiệm hàng đầu của quyền tư pháp. Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ tính pháp quyền và công lý trong các phán quyết của Tòa án.
Ngoài việc hạn chế quyền lực nhà nước từ phía bên ngoài như quy định nhiệm kỳ của các cơ quan nhà nước thông qua bầu cử, phân quyền rõ ràng cho từng cơ quan nhà nước, buộc các cơ quan nhà nước chỉ được hoạt động cũng như thực hiện các nhiệm vụ cho phép của luật pháp…thì sự hạn chế quyền lực nhà nước được tiến hành ngay ở bên trong của sự tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước là rất quan trọng. Về nguyên tắc, thì sự hạn chế quyền lực được tạo ra từ một cơ chế kiểm soát bên trong có hiệu quả hơn cơ chế kiểm soát từ bên ngoài. Kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong tức là cách kiểm soát ngay trong lòng các cơ quan nhà nước, trước khi các hành vi hoạt động của nhà nước phát huy tác dụng ra bên ngoài. Ví dụ phân chia quyền lực, kìm chế đối trọng là những biểu hiện rõ nét nhất của cơ chế kiểm soát quyền lực bên trong. Kiểm soát quyền lực bên ngoài tức là kiểm tra những quyết định của nhà nước sau khi đã phát huy tác dụng. Ví dụ việc xét xử của tòa án đối với các quyết định quản lý của các cơ quan nhà nước…
3. Phân công và kiểm tra, giám sát quyền nhà nước ở Việt Nam
Trong mục IV Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng, khi đề cập đến vấn đề nhà nước, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (năm 1991) viết: "Nhà nước Việt Nam thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân công rành mạch ba quyền đó"( ). Tiếp tục tổng kết thực tiễn, hoàn thiện và phát triển quan điểm nói trên của Cương lĩnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng khẳng định: "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp"( ). Đến năm 2001, với sáng kiến lập pháp của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Quốc hội khóa X đã tiến hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, trong đó đã thể chế các quan điểm nói trên của Đảng thành một trong những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Đây là một trong những quan điểm và là nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc cải cách, xây dựng bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới; thể hiện sự phát triển mới về nhận thức lý luận của Đảng và nhà nước ta trong quá trình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) một lần nữa khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.
Sự khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát quyền giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một bước phát triển mạnh mẽ trong việc hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của Đảng ta. Với sự hoàn thiện này, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ta được xác định bởi bốn nội dung quan trọng: Thống nhất quyền lực, phân công quyền lực, phối hợp quyền lực và kiểm soát quyền lực.
Quyền lực nhà nước là thống nhất, nghĩa là quyền lực nhà nước thống nhất nơi nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Nhân dân trao quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và cho các cơ quan tư pháp, chứ không phải nhân dân trao hết thảy quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, rồi đến lượt mình, Quốc hội lại trao quyền cho Chính phủ và các cơ quan tư pháp. Theo Điều 84 Hiến pháp năm 1992, nhân dân chỉ trao cho Quốc hội ba nhóm quyền hạn và nhiệm vụ: Quyền hạn và nhiệm vụ về lập hiến, lập pháp; quyền hạn và nhiệm vụ về giám sát tối cao; quyền hạn và nhiệm vụ về quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Quan niệm này hoàn toàn phù hợp với dân chủ XHCN. Bởi vì, dân chủ XHCN đòi hỏi nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không chỉ bằng hình thức dân chủ đại diện mà còn bằng cả dân chủ trực tiếp, trong đó có trưng cầu ý dân, có như vậy, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mới đúng, mới bảo đảm thực hiện đầy đủ, không hình thức. Như vậy, thống nhất quyền lực nhà nước được hiểu là toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tập trung thống nhất ở nhân dân chứ không phải thuộc về Quốc hội.
Quan niệm này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực. Trước hết, điều đó chỉ ra rằng, quyền lực nhà nước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là nhân dân, đều do nhân dân ủy quyền, giao quyền. Do vậy, nói quyền lực nhà nước là thống nhất trước tiên là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước. Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một nhà nước "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" như Đảng ta đã chỉ ra.
Do vậy, mặc dù có sự phân định ba quyền nhưng cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp không hoàn toàn tách biệt nhau mà "ràng buộc lẫn nhau", phối hợp với nhau, hoạt động một cách nhịp nhàng trên cơ sở làm đúng, làm đủ nhiệm vụ. quyền hạn mà nhân dân giao cho mỗi quyền được Hiến pháp - đạo luật gốc của nhà nước và xã hội quy định. Mục đích của việc phân công quyền lực nhà nước là để nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm cho tính pháp quyền của nhà nước và phát huy dân chủ XHCN, chứ không phải là để thỏa hiệp hay chia rẽ quyền lực nhà nước giữa các quyền. Ý nghĩa của sự phân công quyền lực nhà nước là để phân định nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan trọng bộ máy nhà nước, để nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, quyền lực nhà nước ngày càng thực sự là quyền lực của nhân dân.
4. Lấy phiếu tín nhiệm – Một hình thức thực hiện quyền giám sát của cơ quan quyền lực
Theo quy định của pháp luật, hiện ở Việt Nam đang tồn tại hai loại giám sát quyền lực, đó là giám sát mang tính quyền lực nhà nước (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) và giám sát xã hội mang tính quyền lực nhân dân (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, phương tiện thông tin đại chúng và các cá nhân, cộng đồng…).
Để thực hiện quyền giám sát của mình, ngày 21/11/2012 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 4 đã thông qua Nghị quyết số 35/2012/QH13: Về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.
Đây là một trong các hình thức hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhằm theo dõi, xem xét, đánh gía hoạt động thực tiễn của các đối tượng bị giám sát trong việc tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH; nghị quyết của HĐND và các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên. Thực chất đây là quá trình Quốc hội và Hội đồng nhân dân kiểm tra các cá nhân được lấy phiếu tín nhiệm tổ chức thực hiện các văn bản của Quốc hội và Hội đồng nhân dân nhằm đảm bảo cho việc tổ chức và thực hiện các hoạt động thực tiễn của các cá nhân được lấy phiếu tín nhiện tuân thủ Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH; nghị quyết của HĐND và các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước cấp trên trong việc giải quyết các công việc cụ thể thuộc thẩm quyền của mình. Đồng thời việc lấy phiếu tín nhiệm cũng là một bước để thăm dò mức độ tín nhiệm, là một trong những căn cứ cho việc phân loại, đánh giá, bố trí cán bộ của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Nếu chức danh nào đó hai năm liên tục tín nhiệm thấp sẽ được chuyển sang hình thức bỏ phiếu tín nhiệm (thể hiện sự tín nhiệm hoặc không tín nhiệm, làm cơ sở cho việc miễn nhiệm, bãi nhiệm cán bộ).
Bên cạnh các hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực còn có các hoạt động giám sát xã hội mang tính quyền lực nhân dân – hoạt dông giám sát do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, phương tiện thông tin đại chúng và các cá nhân, cộng đồng…tiến hành. Giám sát xã hội đối với tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước có tác dụng hỗ trợ cho giám sát mang tính quyền lực nhà nước. Cùng với xu hướng dân chủ hóa đời sống xã hội, giám sát xã hội đối với tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ngày càng được tăng cường và mở rộng, bảo đảm sự vận hành của tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước có hiệu quả, khoa học, nhằm mục đích xây dựng và hoàn thiện pháp quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, tăng cường sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực cũng như của nhân dân trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, phân công, phối hợp, minh bạch giữa các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp. Mỗi cơ quan trong bộ máy nhà nước cần xác định rõ phạm vi, nhiệm vụ, trách nhiệm, nghĩa vụ, sẽ tạo nên hiệu quả hoạt động chung của bộ máy nhà nước trong việc thực thực thi quyền lực nhà nước.
Kết hợp giám sát của Quốc hội, của HĐND với sự tham gia giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Nhằm mục đích nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, của HĐND và giám sát, phát hiện, kiến nghị xử lý những sai phạm, ở các nước đã áp dụng mô hình giám sát hỗn hợp này gọi là “Ombudsman” (thanh tra Quốc hội);
Hai là, ban hành Luật Giám sát xã hội đối với tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Xây dựng chương trình phối hợp giám sát giữa các cơ quan quyền lực nhà nước và hoạt động giám sát của nhân dân để bảo đảm giám sát có hiệu quả, hợp lý, khoa học. Đặc biệt trong điều kiện một đảng cầm quyền như ở nước ta hiện nay, các đoàn thể quần chúng đại diện cho các giai tầng trong xã hội tham gia công việc của đất nước là một nhiệm vụ vô cùng cần thiết;
Ba là, ban hành Quy chế phản biện xã hội đối với việc thực thi quyền lực nhà nước. Phản biện xã hội là điều kiện căn bản, thiết yếu phải công khai, minh bạch để nhân dân tham gia tổ chức và quản lý nhà nước và chủ động phòng, chống cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức lạm dụng quyền, bưng bít thông tin, ban hành các quyết định để bảo vệ lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân trong cơ quan nhà nước, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân, lợi ích của nhà nước và xã hội;
Bốn là, xây dựng và ban hành Luật Trưng cầu dân ý nhằm tạo cơ sở pháp lý để mở rộng quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân được tham gia quản lý xã hội, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Thông qua trưng cầu dân ý nhân dân bày tỏ ý kiến của mình đối với những vấn đề hệ trọng của đất nước hoặc của từng địa phương. Luật Trưng cầu ý dân phải được xây dựng phù hợp với truyền thống, đặc điểm, điều kiện của Việt Nam nhằm phát huy hiệu quả cơ chế Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Những nội dung của điều luật phải thiết thực, khả thi trong tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện của đất nước, không rập khuôn máy móc nhưng cần tính đến thông lệ quốc tế, có tính hiện đại;
Năm là, sửa đổi, bổ sung Luật Khiếu nại, tố cáo phù hợp với thực tiễn, hợp lý và khoa học hơn. Theo đó, cần nghiên cứu tách bạch Luật Tố cáo và Luật Khiếu nại; đổi mới về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, không nên giao quyền cho thủ truởng cơ quan hành chính nhà nước giải quyết khiếu nại nhằm đảm bảo tính khách quan trong quá trình giải quyết khiếu nại. Ngoài ra, để nâng cao khả năng giám sát của nhân dân, công dân đối với bộ máy nhà nước, việc xây dựng Luật Khiếu nại nên mở rộng phạm vi điều chỉnh rộng hơn về thủ tục hành chính, trong đó có cả tiếp nhận và giải quyết kiến nghị, thỉnh cầu, khiếu nại, chứ không chỉ dừng lại ở khiếu nại;
Sáu là, tạo điều kiện để nhân dân thực hiện quyền giám sát của mình đối với tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Thông tin là cơ sở, điều kiện của giám sát, vì giám sát phải có các chứng cứ, chứng minh việc thực thi đúng hay không đúng pháp luật của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước. Thông tin để nhân dân biết các quy định, các dự án và các văn bản pháp luật, giám sát đối với việc thực thi quyền lực nhà nước. Ngoài ra, thông qua kênh thông tin, người dân có thể bày tỏ ý kiến của mình về hành vi của các cá nhân trong cơ quan công quyền và về những vấn đề liên quan, vì rằng chính sách, pháp luật của nhà nước không phải bao giờ cũng phù hợp với sự vận động của đời sống xã hội, mà luôn phải được sửa đổi, bổ sung qua thực tiễn cuộc sống;
Bảy là, đổi mới tổ chức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội. Xây dựng quy chế phối hợp giữa cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước; cần coi giám sát và phản biện xã hội là một nhu cầu cần thiết, tất yếu trong quá trình lãnh đạo và điều hành đất nước; thực hiện đồng bộ cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ;
Tám là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Đảng ta lãnh đạo là để đưa độc lập, tự do, dân chủ cho người dân”. Đảng lãnh đạo nghĩa là làm sao “đưa” dân chủ đến người dân chứ không phải “cho” dân chủ./.

Ts. Trần Nho Thìn

Nguồn tin: Viện Nghiên cứu lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống