Cơ chế hỗ trợ, cung cấp thông tin cho đại biểu Dân cử và việc chuẩn bị báo cáo, trách nhiệm Giải trình của người được lấy phiếu tín nhiệm

25/09/2013
Chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu dân cử chính là thước đo chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử. Tuy nhiên, muốn nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đại biểu dân cử ngoài việc đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao của mỗi đại biểu thì cần thiết phải có những giải pháp đồng bộ trong đó có cơ chế hỗ trợ, cung cấp thông tin cho đại biểu dân cử. Đây là một trong những vấn đề góp phần quan trọng nâng cao chất lượng hoạt động của các đại biểu dân cử hoạt động lập pháp, giám sát, tiếp xúc cử tri, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước... Bài viết này chỉ xin nêu việc hỗ trợ, cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội.

I. Cơ chế cung cấp thông tin cho đại biểu dân cử
Như chúng ta đã biết, thông tin có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, nó thúc đẩy tiến trình phát triển trên mọi lĩnh vực, làm nên những cuộc cách mạng mang tính đột phá của nền văn minh nhân loại, những lợi ích mà thông tin mang lại cho con người là vô cùng to lớn.
Thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, tại kỳ họp thứ Ba, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 27/2012/QH13 về một số cải tiến, đổi mới để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Một trong những nội dung được đề cập tới trong Nghị quyết này là cải tiến công tác bảo đảm phục vụ hoạt động của Quốc hội, trong đó có vấn đề cung cấp đầy đủ thông tin về việc chuẩn bị các dự án, đề án, báo cáo trình Quốc hội cho đại biểu Quốc hội; tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm thông qua truyền hình trực tuyến từ trụ sở Quốc hội đến các khu vực và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; tổ chức Thư viện Quốc hội, cổng thông tin điện tử Quốc hội; chuẩn bị điều kiện, cơ sở vật chất - kỹ thuật nâng cao chất lượng Quốc hội điện tử nhằm phục vụ hoạt động của đại biểu Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội là người là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước; là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội (Hiến pháp 1992). Quyền lực nhà nước được được các đại biểu Quốc hội thể hiện thông qua quyền lập Hiến, lập pháp, giám sát, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước như: tổ chức bộ máy nhà nước, chính sách kinh tế, đối nội, đối ngoại... Từng đại biểu Quốc hội muốn thực hiện tốt các quyền đó thì cần thiết phải những chính sách bảo đảm cho hoạt động của mỗi đại biểu, trong đó có cơ chế cung cấp thông tin đầy đủ cho đại biểu.
Ngoài việc nâng cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trong việc tự mình học tập, tìm hiểu các vấn đề thì công tác cung cấp thông tin về các lĩnh vực tới các vị đại biểu Quốc hội có ý nghĩa hết sức quan trọng. Các thông tin nền tảng được cung cấp là công cụ để các vị đại biểu Quốc hội có thể thực hiện nhiệm vụ, vai trò đại biểu của mình khi tham gia góp ý xây dựng văn bản luật và giám sát việc thực hiện pháp luật, tiếp xúc cử tri, quyết định các vấn đề quạn trọng của đất nước... Có thể nói, vai trò cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội là rất cần thiết, các thông tin cung cấp cho đại biểu Quốc hội càng bám sát diễn biến của đời sống kinh tế - xã hội thì chất lượng hoạt động của đại biểu càng tăng, khi các quyết định bám sát thực tế đời sống thì quy phạm pháp luật sẽ đi vào cuộc sống nhanh hơn.
Vậy tại sao việc hỗ trợ, cung cấp thông tin lại quan trong đối với các đại biểu Quốc hội là do Quốc hội của chúng ta hiện nay chủ yếu là các đại biểu kiêm nhiệm, được cơ cấu theo ngành nghề, dân tộc, giới tính…, khi đã kiêm nhiệm thì thời gian làm công tác chuyên môn là chủ yếu, các đại biểu chỉ thực sự thể hiện vai trò người đại biểu nhân dân tại kỳ họp toàn thể của Quốc hội, do vậy việc cập nhật thông tin giữa 2 kỳ họp là rất hạn chế, nếu như không có một cơ quan chuyên trách cung cấp thông tin cho đại biểu, hoặc đại biểu tự mình tìm hiểu, yêu cầu các cơ quan cung cấp thông tin, trong khi nhiệm vụ của đại biểu là hết sức nặng nề, đặc biệt là tại các kỳ họp khi tiến hành xây dựng pháp Luật, quyết định các vấn đề quan trọng và giám sát tối cao mọi mặt của đời sống xã hội, vì vậy việc tập hợp và xử lý các thông tin liên quan đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nếu được cung cấp đầy đủ thông tin, cũng như đủ thời gian để xem xét, xác minh và đánh giá thông tin, thì các đại biểu Quốc hội sẽ đưa ra những quyết định, ý kiến hợp lý, đáp ứng được mong đợi của nhân dân. Và như vậy, những bất hợp lý trong chính sách, pháp Luật, Dự án Luật được đệ trình trước Quốc hội sẽ được loại bỏ. Nói như vậy để thấy, Đại biểu dân cử có nhu cầu rất lớn về hỗ trợ, cung cấp thông tin để có thể làm tốt nhiệm vụ đại biểu, tuy nhiên việc hỗ trợ, cung cấp các thông tin ở đây phải mang tầm quốc gia, tầm chuyên gia, những thông tin chuyên sâu về những vấn đề pháp luật đề cập để tham gia trong việc xem xét sửa đổi, bổ sung hay xây dựng mới những văn bản pháp luật, cũng như giám sát việc thực hiện pháp luật ở các lĩnh vực cụ thể, sát với cuộc sống, sát với thực tiễn của đất nước, địa phương, đơn vị, có như vậy đại biểu mới có cái nhìn khái quát, có tầm nhìn xa, kể cả dự báo, so sánh với khu vực và thế giới từ đó mới tự tin bấm nút quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước, bởi mỗi quyết sách được đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua là một lời giải, một đáp án cho vấn đề bức xúc, có khi có tính “vấn nạn” mà cuộc sống ở tầm vĩ mô đang đặt ra, đang đòi hỏi phải được giải quyết.
Điều 100 Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001 đã quy định cơ chế bảo đảm, hỗ trợ đối với Đại biểu Quốc hội như việc “Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội”; “Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, các thành viên khác của chính phủ và các cơ quan của Nhà nước có trách nhiệm cung cấp tài liệu cần thiết mà đại biểu yêu cầu và tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu”.
Ở cấp độ chi tiết hơn, cơ chế hỗ trợ Đại biểu Quốc hội được quy định ở Luật tổ chức Quốc hội năm 2001, sửa đổi, bổ sung năm 2007, trong đó có chương riêng về đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội (Chương IV), bộ máy giúp việc và kinh phí hoạt động của Quốc hội (Chương VI).
Luật hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 quy định một chương về hoạt động giám sát của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội (Chương V); Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008...
Ngoài ra, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành nghị quyết về chức năng, nhiệm vụ của Văn phòng Quốc hội, trong đó có nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; Nghị quyết số 773/2009/NQ-UBTVQH12 ngày 03 tháng 03 năm 2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định một số chế định, định mức chi tiêu tài chính phục vụ hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Văn phòng Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; Nghị quyết số 524/2012/UBTVQH13 ngày 20 tháng 09 năm 2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về một số chế độ chi tiêu bảo đảm hoạt động của Quốc hội, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.
Như vậy, cơ sở pháp lý về cơ chế hỗ trợ, cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội đã được quy định khá đầy đủ. Vấn đề đặt ra việc hỗ trợ, cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội trong thời gia qua như thế nào, khó khăn, vướng mắc ra sao.
Như chúng ta đều biết hiện nay, việc cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội thường bao gồm: Báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo chuyên đề của địa phương, của Chính phủ, của các cơ quan của Quốc hội; Báo cáo của các ngành, của địa phương, cơ sở qua giám sát, khảo sát; các bài viết, báo cáo khoa học, báo cáo thực tế qua các cuộc hội thảo tại địa phương, tại các Đoàn đại biểu Quốc hội, các Uỷ ban của Quốc hội…; các văn bản pháp luật, các dự án luật; các thông tin khoa học của Viện Nghiên cứu lập pháp và các tài liệu tham khảo của Trung tâm thông tin; các báo cáo thống kê; các tài liệu và một số sách báo, tạp chí và mới đây nhất là báo cáo kết quả thực hiện công việc của những người được lấy phiếu tín nhiệm.
Thường thì các thông tin được cung cấp tập trung chủ yếu vào thời gian diễn ra các kỳ họp, qua các cuộc giám sát, khảo sát. Giữa hai kỳ họp Quốc hội thì đại biểu ít được cung cấp thông tin hơn. Từng đại biểu cũng ít yêu cầu các cơ quan cung cấp thông tin cho mình. Cơ chế hỗ trợ, cung cấp thông tin hiện nay chưa đồng đều giữa các đại biểu ở Trung ương và đại biểu địa phương, đại biểu Quốc hội ở địa phương thường thiếu thông tin song lại ít được hỗ trợ; trong khi đó đại biểu chuyên trách làm việc ở các cơ quan của Quốc hội thì quá nhiều nguồn tin, xử lý không hết.
Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là mặc dù quyền yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu của đại biểu Quốc hội được Hiến pháp và các văn bản pháp luật quy định đầy đủ nhưng trong thực tế, đại biểu Quốc hội cũng chưa sử dụng quyền yêu cầu cung cấp thông tin một cách triệt để, thực tế có nhiều đại biểu cả nhiệm kỳ hoạt động của mình cũng chưa sử dụng tới quyền này, không phỉ vì họ uyên bác, có đủ thông tin mà thực tế là họ không có thời gian do phải dành thời gian làm công tác chuyên môn và thậ sự là một số đại biểu không quan tâm tới một vấn đề cụ thể nào đó trên Nghị trường Quốc hội cũng như đời sống kinh tế - xã hội của địa phương. Hơn nữa, việc cung cấp thông tin của các cơ quan, đơn vị khi có yêu cầu của đại biểu không phải lúc nào cũng được thực hiện một cách nghiêm túc.
Nhiều thông tin liên quan đến quy hoạch, về các dự án đang triển khai, về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân do các đại biểu chuyển đi nhiều khi không nhận được phản hồi nhanh chóng, đầy đủ và chính xác từ phía các cơ quan có thẩm quyền ở cả Trung ương và đại phương. Tuy nhiên, trong trường hợp này chế tài đối với người đứng đầu các cơ quan, đơn vị không cung cấp thông tin đầy đủ, đúng thời hạn theo yêu cầu đại biểu như thế nào thì các quy định của pháp luật chưa đặt ra cụ thể. Về mặt khách quan, đại biểu Quốc hội phải được cung cấp thông tin đầy đtheerchaan thực và chính xác về những vấn đề trình Quốc hội thảo luận, biểu quyết thông qua. Đây là một điều kiện rất quan trọng giúp đại biểu Quốc hội tích cực tham gia thảo luận, tranh luận và khẳng định chính kiến của mình khi biểu quyết một chủ trương, quyết sách hay một điều luật nào. Mặc dù, pháp luật đã có quy đình về quyền cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội nhưng quy định còn chung chung. Giữa hai kỳ họp thời gian nhiều nhưng thông tin tài liệu lại hầu như không có để đại biểu nghiên cứu. Các quy định của pháp luật cũng không quy định cơ quan làm đầu mối cung cấp thông tin cho đại biểu trong thời gian giữa 2 kỳ họp. Hơn nữa, Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội là một văn bản có mục đích hướng tới việc tạo điều kiện giúp đại biểu Quốc hội thực hiện sứ mệnh và vai trò quan trọng với nhiều nhiệm vụ khó khăn. Song, hầu hết các điều khoản các điều khoản quy định về việc hỗ trợ thông tin đều đặt các đại biểu Quốc hội ở tư thế thụ động.
Các hình thức họp, hội nghị, tập huấn, chất vấn, tiếp xúc cử tri... đều do các cơ quan, tổ chức đứng ra lo liệu, trù tính, còn đại biểu Quốc hội là người “được mời tham gia họp” (các Điều 18, 20, 21), “nghiên cứu tài liệu” (Điều 7), “chất vấn” (Điều 10) và “yêu cầu cung cấp thông tin” (Điều 16). Điều 37 đề cập đến khả năng được cung cấp dịch vụ thông tin có vẻ như chỉ là những thông tin ở dạng tài liệu, báo chí, Internet... Vì vậy, trong khoảng thời gian này đại biểu phải hoàn toàn chủ động trong việc tìm kiếm thông tin, phải tích lũy kiến thức để không bị lạc hậu, không chung chung, cái gì cũng có thể biết nhưng không chắc, không sâu, không mới. Muốn vậy, đại biểu phải thường xuyên đi cơ sở để nắm bắt những vấn đề đang đặt ra của cuộc sống, biết được những mô hình hay, những vấn đề cần tháo gỡ. Tăng cường đối thoại với các bên để hiểu rõ những vấn đề cần quan tâm, những vấn đề người dân đang bức xúc, chứ không chỉ nghe một chiều.
Do đó, để nâng cao hoạt động cung cấp thông tin cho các đại biểu Quốc hội nói riêng và bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ở nước ta nói chung, chúng ta phải nghiên cứu sửa đổi nhiều quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và của đại biểu Quốc hội, đảm bảo thực sự tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân như đã quy định tại Điều 2 của Hiến pháp năm 1992.
Từ những phân tích trên có thể rút ra một số tồn tại trong công tác hỗ trợ, cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội như sau:
Thứ nhất, cách thức cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội chưa thường xuyên. Giữa hai kỳ họp, đại biểu Quốc hội thường chỉ nhận được rất ít thông tin, chủ yếu là Tạp chí hoặc giấy mời tham dự hội nghị, nhưng đến kỳ họp trong khi thời giờ nghiên cứu cá nhân ít thì số lượng tài liệu được cung cấp để đọc, nghiên cứu, xử lý thông tin lại quá lớn, tạo nên tình trạng thừa ứ thông tin, nhưng không thể “hấp thụ, tiêu hóa được”.
Thứ hai, cơ chế hỗ trợ thông tin chưa đồng đều giữa các đại biểu Quốc hội. Đối với đại biểu Quốc hội ở địa phương chủ yếu là kiêm nhiệm thường thiếu thông tin song lại ít được hỗ trợ, cung cấp về thông tin. Trong khi đó, các đại biểu Quốc hội chuyên trách làm việc tại các cơ quan của Quốc hội có quá nhiều thông tin nhưng lại được cung cấp rất nhiều thông tin kể cả thời gian giữa 2 kỳ họp.
Thứ ba, đó là cơ sở pháp lý quy định cơ chế hỗ trợ, cung cấp thông tin cho các đại biểu Quốc hội hiện nay chưa rõ, chưa có quy định cơ quan đầu mối đứng ra chủ động cung cấp thông tin cho đại biểu trong thời gian giữa 2 kỳ họp là cơ quan nào ? Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi không thực hiện nghiêm quy định về cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội như thế nào cũng chưa được đề cập rõ ràng. Hiện nay chúng ta có Trung tâm - Thư viện thuộc Văn phòng Quốc hội và Viện nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội là hai cơ quan có khả năng cung cấp, hỗ trợ đại biểu về mặt thông tin nhưng các cơ quan này chỉ cung cấp thông tin khi đại biểu yêu cầu, nên việc hỗ trợ, cung cấp thông tin không mang tính chủ động.
Thứ tư, việc hỗ trợ, cung cấp thông tin cho đại biểu chưa có sự phân loại nhu cầu thông tin phù hợp với từng đại biểu, từ đó đáp ứng thông tin cho đúng, trúng yêu cầu của đại biểu Quốc hội. Bởi sự khác nhau về nhu cầu cung cấp thông tin giữa đại biểu Quốc hội tham gia lần đầu với đại biểu Quốc hội tái cử, giữa đại biểu có chuyên ngành kinh tế - xã hội với đại biểu có chuyên ngành về khoa học - kỹ thuật.
Thứ năm, Viện nghiên cứu lập pháp được thành lập theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Sự ra đời của Viện Nghiên cứu lập pháp đã đáp ứng được phần nào nhu cầu về thông tin của các cơ quan của Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội, các thông tin do Viện nghiên cứu lập pháp cung cấp đều đảm bảo tính chính thống, kịp thời trên mọi lĩnh vực của đất nước, đặc biệt là lĩnh vực xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay giữa Viện nghiên cứu lập pháp và các Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố, là cơ quan tham mưu, giúp việc cho đại biểu dân cử chưa có Quy chế phối hợp về việc hỗ trợ, cung cấp thông tin cho đại biểu nên đã phần nào ảnh hưởng tới chất lượng tiếp cận hỗ trợ cung cấp nguồn thông tin của các đại biểu.
II. Đề xuất giải pháp nâng chất lượng công tác hỗ trợ, cung cấp, thông tin cho đại biểu dân cử
Thứ nhất, cần xây dựng một chiến lược thông tin phục vụ hoạt động của Quốc hội, ĐBQH theo hướng hoàn thiện các quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội của các cơ quan, tổ chức, đơn vị hữu quan. Nghiên cứu có quy định cụ thể về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng ở Trung ương và địa phương trong việc cung cấp thông tin phục vụ đại biểu Quốc hội. Xây dựng ngân hàng dữ liệu thông tin Quốc hội, trên cơ sở xây dựng kết cấu mạng thông tin Quốc hội nói chung. Hàng năm dành một khoản kinh phí thích hợp cho hoạt động thông tin và cung cấp thông tin phục vụ đại biểu Quốc hội.
Thứ hai, sớm nghiên cứu sửa đổi một số quy định trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội, Quy chế hoạt động của địa biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội về về quyền yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, về trách nhiệm tổ chức cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ đại biểu Quốc hội, đại biểu dân cử.
Thứ ba, phải đổi mới, đa dạng hóa các hình thức cung cấp thông tin, phải có những hình thức thích hợp giúp cho đại biểu Quốc hội thu thập, tích lũy thông tin về nội dung của mỗi kỳ họp, tránh tình trạng đến kỳ họp Đại biểu Quốc hội mới tranh thủ nắm bắt những vấn đề cần xử lý để biểu thị thái độ và bấm nút thông qua những quyết sách quốc gia đại sự.
Thứ tư, phải quy định một cơ quan làm đầu mối cung cấp thông tin cho đại biểu Quốc hội cả trước, trong và sau kỳ họp. Theo tôi, Viện nghiên cứu lập pháp là cơ quan thích hợp nhất có thể đáp ứng các yêu cầu về hỗ trợ, cung cấp thông tin cho đại biểu vì các thông tin do Viện nghiên cứu lập pháp cung cấp có tính chính thống, tính phản biện cao của các chuyên gia về một số vấn đề lớn trong nội dung của dự thảo luật, các báo cáo giám sát hay các báo cáo về kinh tế - xã hội hoặc các báo cáo thẩm tra...
Thứ năm, xây dựng Quy chế phối hợp giữa Viện nghiên cứu lập pháp với các cơ quan của Quốc hội, các cơ quan giúp việc Đoàn đại biểu Quốc hội tại các địa phương để có một kế hoạch bài bản hơn về việc hỗ trợ, cung cấp tin phục vụ các công tác lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước…, cho đại biểu Quốc hội cả trong và ngoài kỳ họp.
Thứ sáu, tăng cường đội ngũ nhân lực có năng lực tốt, đáp ứng công tác hỗ trợ chuyên môn cho đại biểu và các cơ quan của Quốc hội về cách thức tiếp nhận và xử lý thông tin dưới mọi hình thức.
Thứ bẩy, nâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi đại biểu Quốc hội trong việc chủ động khai thác, thu thập thông tin. Muốn vậy, các đại biểu quốc hội phải tăng cường tham gia các hoạt động giám sát, tiếp xúc cử tri... bởi đây là kênh thông tin lớn và rất quan trọng cho mỗi đại biểu. Thông qua các hoạt động này, đại biểu được cung cấp nguồn thông tin thực tiễn đa dạng, nhiều chiều, thấy được những mâu thuẫn phát sinh, những thiếu sót trong quy định của pháp luật, trong công tác chỉ đạo, điều hành của các cấp chính quyền. Từ đó, có đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật hoặc có những kiến nghị kịp thời đối với cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cử tri cũng như hạn chế, chấn chỉnh những sai sót trong quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước.
III. Việc chuẩn bị báo cáo, trách nhiệm giải trình của người được lấy phiếu tín nhiệm.
Điều 84 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định Quốc hội “bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn”.
Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã đặt ra yêu cầu cần “hướng dẫn để sớm thực hiện quy định việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn”.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp 1992 và Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI), tại kỳ thứ Tư, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 35/2012/QH13 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.
Mục đích của việc lấy phiếu là nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội; giúp người được lấy phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ.
Cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn là kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và và phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống.
Kỳ họp thứ Năm, Quốc hội khóa XIII, lần đầu tiên Quốc hội tiến hành lấy phiếu tín nhiệm 47/49 chức danh người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Cơ sở để các đại biểu Quốc hội tiến hành lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn là Báo cáo công tác của người được lấy phiếu. Theo Nghị quyết só 35/2012/QH13 của Quốc hội và Nghị quyết số 561/2013 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, báo cáo công tác của người được lấy phiếu gồm các nội dung cơ bản sau đây:
1. Họ và tên, chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
2. Kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật đối với chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
3. Tự đánh giá về các nội dung tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống;
4. Giải trình về ý kiến, kiến nghị của cử tri do Mặt trận Tổ quốc chuyển đến (nếu có).
Tuy nhiên, qua thực tế việc chuẩn bị báo cáo của các chức danh được lấy phiếu tín nhiệm tại kỳ họp thứ Năm, Quốc hội khóa XIII vừa qua cho thấy, mặc dù đã có hướng dẫn cụ thể của Ủy ban thường vụ Quốc hội việc chuẩn bị báo cáo của người được lấy phiếu, song các báo cáo vẫn bộc lộ nhiều hạn chế:
Thứ nhất, về hình thức các báo cáo đều không theo tiêu chí thống nhất, mỗi vị làm một kiểu.
Thứ hai, về thời gian cũng không thống nhất, yêu cầu lấy mốc thời gian công tác năm 2012 nhưng có đại biểu lại báo cáo toàn bộ các công việc từ khi được Quốc hội bầu, phê chuẩn tại kỳ họp đầu tiên, tháng 7/2011 đến nay. Điều này đã gây khó khăn cho các đại biểu Quốc hội khi so sánh, đánh giá công tác của các vị chức sắc với nhau.
Thứ ba, nội dung báo cáo không phản ánh được chức trách nhiệm vụ điều hành của người đứng đầu một ngành về kết quả công tác của ngành đó với cử tri cả nước, do đó đại biểu Quốc hội không có đầy đủ thông tin để đánh giá chính xác, khách quan, do đó sẽ ảnh hưởng tới việc bỏ phiếu mà đại biểu Quốc hội dành cho họ…
Có thể nói báo cáo của người được lấy phiếu càng rõ ràng, đầy đủ thì các đại biểu sẽ có nhiều thông tin để đánh giá chính xác, khách quan kết quả công tác, từ đó công tâm bỏ phiếu và ngược lại sẽ gây khó khăn cho người bỏ phiếu trong việc nhận định, đánh giá kết quả công tác của người được lấy phiếu.
Như chúng ta đều rõ, Quốc hội của chúng ta hiện nay là Quốc hội “kiêm nhiệm”, có tới 2/3 Đại biểu Quốc hội là không chuyên tập trung tại các địa phương, hơn nữa họ đều giữ các chức vụ lãnh đạo tại địa phương nên thời gian giữa hai kỳ họp mỗi người đều phải tập trung vào công tác chuyên môn, chỉ đến kỳ họp thì xét một cách khách quan, Đại biểu Quốc hội mới có thời gian dành cho trách nhiệm đại biểu. Trước tình hình này đòi hỏi công tác thông tin phải có những hình thức thích hợp giúp cho đại biểu Quốc hội thu thập, tích lũy thông tin về người được lấy phiếu.
Các đại biểu chuyên trách thường được cung cấp và tiếp cận nhiều thông tin chính xác, kịp thời về người được lấy phiếu trong khi các đại biểu không chuyên ở các địa phương vốn đã ít thời gian làm công tác đại biểu lại không được cung cấp kịp thời thông tin sẽ dẫn đến việc đánh giá không thật sự bảo đảm tính khách quan, công bằng mà những đánh giá này chiếm tới 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội.
Thực tế có những vấn đề nếu người được lấy phiếu không có báo cáo phân tích đánh giá cụ thể, người bỏ phiếu lại quan liêu không tìm hiểu thông tin một cách chính xác, chỉ căn cứ vào báo cáo tôi tin chắc kết quả lấy phiếu của đó sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ví dụ vấn đề về tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, đây là vấn đề vô cùng “nóng”, có thể coi là “vấn nạn” hiện nay và nhận được sự quan tâm của cử tri cả nước. Nếu đại biểu không tìm hiểu, nghiên cứu kỹ để đánh giá một cách chính xác nguyên nhân của “vấn nạn” đó sẽ có những đánh giá không chuẩn về người đứng đầu ngành giao thông, bởi đây không phải là việc riêng của ngành giao thông mà phải có sự phối hợp nhịp nhàng của nhiều bộ, ngành và chính quyền các địa phương.
Từ phân tích trên tôi muốn nhấn mạnh một điều là việc chuẩn bị báo cáo của người được lấy phiếu và việc cung cấp đầy đủ thông tin cho đại biểu là rất quan trọng. Người được bỏ phiếu tín nhiệm cần cung cấp thông tin rõ hơn, cụ thể hơn và cần thiết có đánh giá của cơ quan quản lý về kết quả hoàn thành nhiệm vụ chức trách được giao, có như vậy đại biểu Quốc hội sẽ có điều kiện làm tròn trách nhiệm của mình hơn khi bỏ phiếu. Trường hợp, báo cáo của người được lấy phiếu không nêu rõ ràng về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, đại biểu Quốc có quyền yêu cầu người được lấy phiếu giải trình đầy đủ bằng văn bản những nội dung mà mình đã yêu cầu.
Tóm lại, để việc lấy phiếu tín nhiệm người được Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn đảm bảo khách quan, trung thực đề nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội tiếp tục quan tâm, chỉ đạo sát sao công tác chuẩn bị báo cáo của người được lấy phiếu, có hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về nội dung, hình thức báo cáo, giải trình. Kịp thời hỗ trợ giúp đại biểu Quốc hội tiếp cận được nhiều thông tin thiết thực, tin cậy, làm cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm đối với những người được lấy phiếu tín nhiệm, qua đó tạo được sự quan tâm, đồng tình ủng hộ của dư luận, sự tin tưởng của cử tri và nhân dân cả nước.
Trên đây là một số ý kiến trao đổi của tôi về cơ chế hỗ trợ, cung cấp thông tin cho đại biểu dân cử và việc chuẩn bị báo cáo, trách nhiệm giải trình của người được lấy phiếu tín nhiệm.
Xin trân trọng cảm ơn./.

Trần Ngọc Vinh

Nguồn tin: Viện Nghiên cứu lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống