Vai trò, mục đích và ý nghĩa của việc lấy phiếu tín nhiệm người giữ chức vụ do quốc hội, hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

25/09/2013
Trên thực tế Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001(sửa đổi, bổ sung năm 2007) và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) năm 2003 không quy định việc lấy phiếu tín nhiệm người giữ các chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn mà chỉ quy định việc bỏ phiếu tín nhiệm. Lần đầu tiên, tại kỳ họp giữa năm 2013 của Quốc hội và HĐND các cấp thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm theo Nghị quyết số 35/2012/QH13 ngày 21-11-2012 của Quốc hội khóa XIII. Bởi vậy chúng ta cũng chưa có nhiều kinh nghiệm cả trong nội dung lấy phiếu, cả trong cách thức tiến hành và đánh giá kết quả. Việc nghiên cứu vai trò, ý nghĩa và mục đích của việc lấy phiếu tín nhiệm gắn với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) có ý nghĩa thiết thực cả về thực tiễn, cả về lý luận cũng như tính pháp lý của vấn đề.

1- Phân biệt lấy phiếu tín nhiệm với bỏ phiếu tín nhiệm.
Xem trong nhiều Từ điển, kể cả Từ điển Bách khoa Việt Nam - một Từ điển đồ sộ như thế cũng không có định nghĩa hay khái niệm hoặc giải thích thế nào là lấy phiếu, thế nào là bỏ phiếu. Có lẽ cho đến thời điểm này duy nhất lần đầu tiên Quốc hội khóa XIII đặt cơ sở cho hai khái niệm này trong phạm vi công việc của mình bằng Nghị quyết số 35/2012/QH13:
“Lấy phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội, HĐND thăm dò mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Bỏ phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội, HĐND thể hiện sự tín nhiệm hoặc không tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức người không được Quốc hội, HĐND tín nhiệm” (Điều 2 Nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội khóa XIII ngày 21 tháng 11 năm 2012 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn).
Cũng trong Nghị quyết này tại Điều 1 khoản 2, khoản 3 có quy định phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng:
“ 2. Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ sau đây:
a) Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước;
b) Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, các thành viên khác của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
c) Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ;
d) Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước.
3. Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ sau đây:
a) Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy viên thường trực Hội đồng nhân dân, Trưởng ban của Hội đồng nhân dân;
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân”.
Theo chúng tôi thì khái niệm và hậu quả pháp lý của việc bỏ phiếu tín nhiệm là khá rõ ràng, tức là người đang giữ chức vụ sau khi bỏ phiếu nếu có quá nửa số đại biểu không tín nhiệm nữa thì phải làm các thủ tục tiếp theo để ra khỏi chức vụ đang nắm giữ, người tài đức hơn sẽ thay thế. Còn khái niệm và hậu quả pháp lý của việc lấy phiếu tín nhiệm lại có phần chưa thật rõ: Theo khái niệm (cách hiểu) lấy phiếu tín nhiệm như trên thì kết quả của việc lấy phiếu tín nhiệm sẽ làm cơ sở cho việc xem xét đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; thực ra những người trong diện lấy phiếu tín nhiệm quy định tại Điều 1 khoản 2 và 3 của Nghị quyết số 35 nói trên, họ đang nắm giữ chức vụ, đang thực thi nhiệm vụ, họ đã và đang được sử dụng vào vị trí công tác rồi, không phải bố trí, sử dụng lại nữa (trừ các trường hợp điều động, luân chuyển). Các trường hợp sau khi lấy phiếu phải đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm mà Nghị quyết số 35 nêu ra là vô cùng hãn hữu vì phải có hơn 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp hoặc 2 năm liền có quá nửa số phiếu tín nhiệm thấp. Các trường hợp “hãn hữu” rồi cũng “kéo lê” cho đến hết nhiệm kỳ, vì: năm đầu không phải lấy phiếu, không phải bỏ phiếu; năm thứ hai mới lấy phiếu, nếu có người có hơn 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp phải tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm thì diễn biến tiếp theo là khá phức tạp (có thể có nhân sự thay thế ngay, nhưng cũng có thể phải chuẩn bị đến kỳ họp sau mới thay thế được). Trường hợp sau hai lần lấy phiếu, có người phải bỏ phiếu tín nhiệm (do cả hai lần đều có quá nửa số phiếu tín nhiệm thấp) thì rất có thể đến kỳ họp năm thứ 4 mới thay thế được; khi đó lại phát sinh vấn đề, còn vài kỳ họp nữa thì thay làm gì, nếu thay thì người mới chưa quen việc đã phải bắt tay ngay vào việc tổng kết nhiệm kỳ, liệu thay thế người mới có khả thi hay không...).
Theo Nghị quyết số 35 của Quốc hội thì có thể coi lấy phiếu tín nhiệm là bước đi thứ nhất hoặc là bước đệm của bỏ phiếu tín nhiệm. Do đó có một câu hỏi được đặt ra là: Khi nào hay trường hợp nào thì phải trực tiếp bỏ phiếu tín nhệm mà không phải qua bước thứ nhất hay bước đệm ? Theo Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khoản 8 Điều 75, Quốc hội “Quyết định việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn”, nếu không có hướng dẫn cụ thể gì nữa thì có nghĩa là, cứ phải tuần tự lấy phiếu rồi mới bỏ phiếu. Theo chúng tôi như thế việc lấy phiếu tín nhiệm nếu không chặt chẽ, nghiêm túc và thực chất thì sẽ nhanh chóng giảm tác dụng, rồi ai cũng “tại vị” đến hết nhiệm kỳ.
Điều đáng suy nghĩ là, khi chưa có quy định lấy phiếu tín nhiệm thì tại kỳ họp thứ 6 tháng 11 năm 1999, Quốc hội khóa X đã thực hiện quyền giám sát tối cao, đã bỏ phiếu miễn nhiệm một chức vụ quan trọng (Phó Thủ tướng Chính phủ) do để sốt giá xi măng, để xẩy ra tiêu cực trong vụ Thủy cung Thăng long (nhà đầu tư năng lực yếu mà trúng thầu); cũng trong vụ Thủy cung Thăng Long, một đại biểu Quốc hội bị truất quyền đại biểu. Nhưng từ khi có quy định cụ thể việc bỏ phiếu tín nhiệm (năm 2001) đến nay, khá nhiều vụ việc nghiêm trọng hơn nhiều mà Quốc hội chưa tiến hành bỏ phiếu lần nào.
2- Quan hệ giữa việc lấy phiếu tín nhiệm với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.
Theo Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) thì Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân...Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Như vậy, nội dung của Nhà nước pháp quyền XHCN bao gồm 3 nhóm vấn đề chính:
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực thi các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp;
- Nhà nước quản lý đất nước và xã hội theo Hiến pháp và pháp luật được thể chế hóa từ đường lối, quan điểm,chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam ;
- Thẩm quyền của các cơ quan nhà nước do chính chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan đó và định hướng chính trị quyết định.
Những người có vai trò chủ chốt trong bộ máy nhà nước là những người trực tiếp thực hiện và lãnh đạo thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (những người thuộc diện lấy phiếu tín nhiệm) mà Nghị quyết số 35 của Quốc hội đã “lập thành danh mục”. Như vậy chất lượng những con người được sắp đặt, được kết cấu trong bộ máy nhà nước tốt xấu như thế nào, lập tức ảnh hưởng trực tiếp ngay đến việc vận hành hoạt động của cả bộ máy. Năng lực, trí tuệ, phẩm chất, đạo đức của những con người chủ chốt trong bộ máy tốt xấu như thế nào sẽ phản ảnh rõ nét ngay ở hiệu lực của bộ máy và hiệu quả hoạt động của bộ máy. Theo quy định của Luật Cán bộ, Công chức số 22/2008/QH12 đã được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008 thì cán bộ, công chức nói chung, những người giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước nói riêng phải:
- Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ lợi ích, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân (Điều 3);
- Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước (Điều 8);
- Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân (Điều 10)...
Đó là trọng trách lớn lao, cao cả của những người giữ các chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn. Thực tiễn cho thấy, không ít người đã phấn đấu bền bỉ, dốc hết tài năng, trí tuệ để hoàn thành nhiệm vụ ở mức cao nhất theo khả năng của mình. Nhưng lại cũng không hiếm người khi đã được nắm giữ một vị trí công tác, một chức vụ nhất định (nhất là những người hoạt động theo nhiệm kỳ) thì thường xuất hiện tư tưởng “an phận, yên chí”, đặc biệt là những người giữ các chức vụ mà hết nhiệm kỳ thì cũng là lúc “hạ cánh” kết thúc cuộc đời làm việc. Những người này thường làm việc theo kiểu “túc tắc” được đến đâu hay đến đó; thậm chí là “nước chảy, bèo trôi”, ngồi hưởng lợi. Bởi vậy không thể không lấy phiếu tín nhiệm thường xuyên, nghiêm túc, chặt chẽ , chính xác và thực chất theo quy định của pháp luật đối với những người giữ các trọng trách trong bộ máy nhà nước; buộc họ muốn tồn tại được thì không có cách nào khác là phải thường xuyên phấn đấu, phấn đấu liên tục, không ngơi nghỉ để hoàn thành nhiệm vụ ngày càng tốt hơn theo quy định của pháp luật. Có như vậy mới góp phần làm cho Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng được củng cổ vững mạnh hơn. Đó cũng là mục đích của việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm sẽ được trình bày dưới đây.
3- Mục đích của việc lấy phiếu tín nhiệm.
Theo Nghị quyết số 35 của Quốc hội thì mục đích lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm là, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND; giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ (Điều 3).
Theo quy định trên thì mục đích của việc lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là đồng nhất, nhưng xem xét kỹ thì có những khác biệt nhất định.
- Về mức độ tín nhiệm: Nếu bỏ phiếu tín nhiệm chỉ có 2 mức là “tín nhiệm” và “không tín nhệm”. Còn lấy phiếu tín nhiệm thì có nhiều mức hơn, ít nhất là 3 mức. Độ chụm các phiếu phân ra 2 mức sẽ tập trung hơn nhiều các phiếu phân ra 3 hay nhiều mức.
- Về hiệu lực, hiệu quả: Bỏ phiếu tín nhiệm có hiệu lực, hiệu quả hơn vì đây là cuộc bỏ phiếu “một mất, một còn” (do chỉ có 2 mức, một là tiếp tục giữ chức vụ, hai là “rời khỏi ghế”), chắc chắn không ai muốn rơi vào kết cục xấu nên sức phấn đấu của mỗi người sẽ mãnh liệt hơn).
- Về xử lý kết quả cũng khác nhau: Đối với việc bỏ phiếu tín nhiệm thì cần chuẩn bị người thay thế khẩn trương, rốt ráo hơn, vì rất có thể xảy ra trường hợp có chức danh (có người) sau một năm đảm trách công việc không còn được tín nhiệm nữa (tức là có quá nửa số phiếu không tín nhiệm); còn đối với việc lấy phiếu tín nhiệm thì khả năng nói trên hiếm xảy ra, vì phiếu được dàn trãi ra nhiều mức. Theo Nghị quyết số 35 của Quốc hội, việc lấy phiếu tín nhiệm có 3 mức thì thường các chức danh được lấy phiếu tín nhiệm có mức đầu và mức giữa nhiều hơn, mức cuối thường ít phiếu nhất. Thực tiễn cuộc lấy phiếu tín nhiệm ở Quốc hội ngày 10-6-2013 cũng phản ánh đúng tình hình này, người có nhiều phiếu loại ba- phiếu tín nhiệm thấp cũng chỉ trên 41%, nếu phải bỏ phiếu tín nhiệm thì phải tới gần 67%. Thực tế các cuộc lấy phiếu tín nhiệm ở HĐND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vừa qua cũng chưa có trường hợp nào phải bước sang giai đoạn bỏ phiếu tín nhiệm. Vì vậy trong việc lấy phiếu tín nhiệm thì việc chuẩn bị nhân sự sẽ có thời gian nhiều hơn, bớt bị động, bớt cập rập hơn.
- Về việc xem xét, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ cũng có những nét khác nhau: Đối với việc bỏ phiếu tín nhiệm, người không được tín nhiệm nữa thì đã được coi như một cuộc đánh giá tập thể đáng tin cậy. Việc bố trí, sử dụng cán bộ này có thể có nhiều khó khăn, nhất là người đã cận kề tuổi nghỉ hưu. Còn đối với việc lấy phiếu tín nhiệm, đặc biệt đối với cán bộ trẻ, qua ba, bốn lần lấy phiếu tín nhiệm sẽ cho phép cơ quan chức năng đánh giá tương đối sát đúng năng lực, phẩm chất của cán bộ đó; sẽ có điều kiện xem xét, bố trí, sử dụng sát đúng, hợp lý hơn và cơ quan làm công tác cán bộ cũng có phần yên tâm hơn (vì việc xem xét, đánh giá đã do một tập thể có uy tín tiến hành có hệ thống); việc cân nhắc sử dụng cho khóa tới, thời gian tới có phần thuận lợi hơn.
4- Vai trò và ý nghĩa của việc lấy phiếu tín nhiệm.
Các vấn đề trên đây ít nhiều cũng đã nói lên vai trò, ý nghĩa của việc lấy phiếu tín nhiệm. Trong mục này xin nói thêm một số điểm sau:
- Lấy phiếu tín nhiệm, trước mắt là một hình thức giám sát mà trên giác độ nhân sự thì có hiệu lực và hiệu quả cao hơn so với các hình thức giám sát khác đã được tiến hành ở Quốc hội và HĐND. Lý thuyết cũng như thực tiễn đều cho thấy, bất kỳ một cuộc kiểm tra, thanh tra, giám sát nào của một cơ quan chức năng nào mà chi phối trực tiếp đến quyền lợi, lợi ích của cá nhân đều có hiệu lực cao hơn. Lấy phiếu tín nhiệm đang là một hình thức giám sát có hiệu lực như thế. Đối với Quốc hội, lấy phiếu tín nhiệm chẳng những là một hình thức giám sát mà còn là “hình thức giám sát tối cao”, vì nó được tiến hành tại kỳ họp, tại phiên họp toàn thể của Quốc hội. Kết quả hoạt động giám sát này sẽ đưa ra các “chỉ số”, các “thang bậc” tín nhiệm của từng người. Với hình thức giám sát và kết quả cụ thể như thế, nên lấy phiếu tín nhiệm còn có thể được coi là một “công cụ đo, đếm” mức độ tín nhiệm của mỗi người khi được lấy phiếu.
- Khoản 3 Điều 8 Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định nghĩa vụ của cán bộ, công chức là phải “Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân”. Quốc hội, HĐND lấy phiếu tín nhiệm những người giữ các chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn chính là thực hiện quyền giám sát của nhân dân theo hình thức đại diện. Nhân dân giao phó nhiệm vụ trọng đại này cho đại biểu dân cử thì đại biểu dân cử phải thực hiện với tinh thần trách nhiệm cao nhất, bảo đảm tính nghiêm túc, công bằng, dân chủ, khách quan, trung thực và thực chất nhất để kết quả lấy phiếu đạt độ chính xác cao nhất.
- Vạn sự khởi đầu nan, cuộc lấy phiếu tín nhiệm được thực hiện trong năm 2013 tuy là một bước khởi đầu, nhưng cũng đã đem lại kết quả đáng trân trọng. Dù mức độ tín nhiệm của mỗi người cao thấp như thế nào nhưng tác dụng tích cực đã thấy rõ. Các “chỉ số tín nhiệm” thực tế đã trở thành “động lực” thôi thúc “Tổng tư lệnh”, các “Tư lệnh lĩnh vực” tập trung thời gian, công sức, trí tuệ nhiều hơn cho công tác thuộc phạm vi lãnh đạo-điều hành của mình. Người có “chỉ số” tín nhiệm cao thì phấn đấu giữ cho được và cao hơn nữa trong lần lấy phiếu sau; người có “chỉ số” tín nhiệm thấp thì càng phải gắng sức, nỗ lực có tính “đột phá” để cải thiện “ngôi thứ” của mình. Tất cả đều đang phấn đấu với cường độ mạnh. Điều đó chắc chắn sẽ góp phần làm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả hơn...
- Cũng có lẽ vì vai trò, ý nghĩa và tác dụng lớn lao của việc lấy phiếu tín nhiệm bước đầu như thế nên trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã nâng tầm từ vị trí là một trong ba việc quy định tại khoản 7 Điều 83 của Hiến pháp hiện hành lên thành một khoản độc lập và là một nhiệm vụ quan trọng trong 14 nhiệm vụ của Quốc hội (Điều 75 Dự thảo mới Hiến pháp sửa đổi).
5- Một vài kiến nghị cho việc hoàn thiện lấy phiếu tín nhiệm.
- Những phân tích trên đây cũng như thực tiễn đều cho thấy, việc lấy phiếu tín nhiệm là cấp độ thấp hơn so với việc bỏ phiếu tín nhiệm; do đó dù hiện thời nó đang có tác dụng mạnh nhưng cũng không thể mạnh bằng việc bỏ phiếu tín nhiệm. Vì thế, kiến nghị đầu tiên là, phải “giữ lửa” cho các cuộc lấy phiếu tín nhiệm sau, nếu không nó sẽ rơi vào tình trạng như chống tham nhũng. (Tham nhũng như những đám mây đen, ai cũng cảm nhận, cũng nhìn thấy rất rõ, cực rõ; nhưng không ai với tay túm đám mây đó kéo giật xuống được mà chỉ có thể làm tan mây). Lấy phiếu tín nhiệm nếu sau vài ba lần, ai cũng “bình chân như vại”, “gì thì gì ta vẫn tại vị” trong khi tình hình kinh tế-xã hội vẫn vậy, phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí...hiệu quả không cao thì tác dụng của việc lấy phiếu cũng sẽ không còn “màu nhiệm” nữa. Giải pháp cho vấn đề này như trên đã nói, Quốc hội, HĐND, các đại biểu dân cử phải tiến hành công việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất, nghiêm túc, trung thực, chặt chẽ, đúng đắn, cẩn trọng, đánh giá đúng thực chất, đúng bản chất của người giữ chức vụ phải lấy phiếu; loại trừ mọi hành vi làm sai lệch thực chất, bản chất của đối tượng được lấy phiếu tín nhiệm.
- Xem xét thêm các đối tượng được lấy phiếu tín nhiệm: Ở trung ương, các đối tượng được quy định ở khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 35 của Quốc hội là hợp lý (đã bao hàm đầy đủ các chức vụ chủ chốt); nhưng ở địa phương, các chức vụ được quy định tại khoản 3 Điều 1 Nghị quyết này, có lẽ chưa đầy đủ. Theo Nghị định số13/2008/NĐ-CP ngày 04 tháng 02 năm 2008 của Chính phủ thì cấp tỉnh có 20 Sở, Ngành, trong đó cơ cấu “cứng” là 17 Sở, ngành (Nội vụ; Tư pháp; Kế hoạch và Đầu tư; Tài chính; Công thương; Giao thông vận tải; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Xây dựng; Tài nguyên và Môi trường; Thông tin và Truyền thông; Lao động-Thương binh và xã hội; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Khoa học và Công nghệ; Giáo dục và Đào tạo; Y tế; Thanh tra tỉnh; Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh) và 3 Sở, Ngành đặc thù là Ngoại vụ; Quy hoạch kiến trúc; Ban dân tộc. Tuy nhiên do Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 Điều 122 quy định “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có từ 9 đến 11 thành viên; Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có không quá mười ba thành viên” nên nhiều Giám đốc Sở, Trưởng ngành tự nhiên bị loại khỏi hình thức giám sát lấy phiếu tín nhiệm. Và cũng tự nhiên tạo ra sự thiếu công bằng, bất bình đẳng giữa các Giám đốc Sở, Trưởng ngành ở cấp tỉnh. Nên chăng ở trung ương, Bộ trưởng, Trưởng ngành nào thuộc diện lấy phiếu tín nhiệm thì ở cấp tỉnh Giám đốc Sở, Trưởng ngành đó cũng thuộc diện lấy phiếu.
Ở địa phương còn 2 chức vụ rất quan trọng nữa cũng cần đưa vào diện lấy phiếu tín nhiệm, đó là Chánh án Tòa án nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân.
Nhân đây cũng xin được nói thêm: Có ý kiến cho rằng, ở địa phương chỉ lấy phiếu tín nhiệm các chức vụ của HĐND và UBND (không lấy phiếu các chức danh Tư pháp) thì ở trung ương cũng nên xem lại, chỉ nên lấy phiếu tín nhiệm các thành viên Chính phủ là đủ, các chức vụ khác không cần lấy phiếu. Theo chúng tôi, bộ máy nhà nước bao gồm các cơ quan Lập pháp, các cơ quan Hành pháp và các cơ quan Tư pháp. Các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước phải cùng được giám sát theo quy định của pháp luật, không loại trừ một chức vụ nào, một hình thức giám sát nào mà pháp luật đã quy định. Trong Luật hoạt đông giám sát của Quốc hội năm 2003, ngay tại Điều 1 đã quy định “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”. Còn tại Điều 7 và Điều 13 đã quy định 6 hình thức giám sát tối cao của Quốc hội đối với các cơ quan nhà nước, các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước; không có lý do gì để Quốc hội thi hành Luật hoạt động giám sát lại chỉ bỏ phiếu tín nhiệm đối với chức vụ này mà lại miễn trừ chức vụ khác. Tham khảo các nước thì phải lưu ý đến thể chế chính trị; thể chế chính trị của đất nước chúng ta là thể chế của nền dân chủ XHCN do Đảng Cộng sản cầm quyền, khác với thể chế chính trị của các nước tư bản là nền dân chủ tư sản, tam quyền phân lập; Nghị viện (Quốc hội) của họ chỉ có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ, phần lớn theo hình thức “cả gói”, tức là toàn bộ Nội các. Do đó không nên vận dụng phương pháp của các nước có thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập vào việc lấy phiếu hay bỏ phiếu tín nhiệm ở Quốc hội, HĐND nước ta.
- Lấy phiếu tín nhiệm, như Nghị quyết số 35 của Quốc hội đã chỉ rõ, đó là bước “thăm dò mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ...” chưa phải là quyết định ngay tức khắc. Đã là thăm dò thì nên có nhiều mức hơn (khoảng 4 hoặc 5 mức là phù hợp). Nếu thiết kế 4 mức thì gồm các mức: tín nhiệm cao; tín nhiệm khá; tín nhiệm; không tín nhiệm. Bốn mức này ứng với Điều 29 Luật Cán bộ, Công chức do Quốc hội khóa XII thông qua năm 2008, bao gồm:
a) Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ;
b) Hoàn thành tốt nhiệm vụ;
c) Hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế;
d) Không hoàn thành nhiệm vụ.
Nếu thiết kế năm mức thì thêm mức thứ tư “tín nhiệm thấp” trước mức năm “không tín nhiệm”. Vừa qua do chỉ có ba mức nên có những chức danh mà một số đại biểu không tín nhiệm nhưng chưa có mức này để ghi, đành phải ghi vào mức “tín nhiệm thấp” nên đã phản ảnh chưa thật chính xác trong kết quả. Có chức danh chỉ đạt “nhỉnh hơn” mức “tín nhiệm” chút ít, nhưng không có mức nào phản ánh tình huống này nên đại biểu phải ghi lên mức “tín nhiệm cao” mặc cho tâm trí không thật mãn nguyện với từ “cao”...Việc thăm dò với bốn, năm mức sẽ phản ánh kết quả thực chất hơn. Cơ quan quản lý, cơ quan làm công tác tổ chức và cán bộ sẽ thuận tiện hơn trong việc đánh giá, bố trí, sử dụng người được thăm dò ở thời gian sau. (Cần chú ý rằng, lấy phiếu tín nhiệm là bước thăm dò, khác với bỏ phiếu tín nhiệm mang tính quyết định ngay). Cũng cần phải nói thêm rằng, việc quy định 3 mức (tín nhiệm cao, tín nhiệm và tín nhiệm thấp) là đương nhiên các chức vụ đều đã được công nhận có tín nhiệm cả rồi, chỉ có mức độ là khác nhau. Điều này cũng không thật sự khách quan, vì đã có những trường hợp đại biểu Quốc hội đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm để miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm một chức vụ cụ thể, do có khá nhiều đại biểu không tín nhiệm người giữ chức vụ đó nữa.
- Cần làm rõ căn cứ (tiêu chí) đánh giá mức độ tín nhiệm: Nếu chỉ với hai căn cứ (hai tiêu chí) là kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống thì rất khó cho việc đánh giá vì quá cô đọng và quá chung chung. Có lẽ nên căn cứ vào 5 tiêu chí được quy định tại khoản 1 Điều 28 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 để đánh giá (cũng là dịp thực hiện điều luật):
a). Chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước;
b). Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc;
c). Năng lực lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ;
d). Tinh thần trách nhiệm trong công tác;
đ). Kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Theo chúng tôi vào thời điểm này, những người được lấy phiếu tín nhiệm còn phải báo cáo rõ ràng phẩm chất chính trị về các vấn đề như sự trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với lợi ích dân tộc; nói, viết và hành động có nhất quán không. Về phẩm chất, đạo đức cá nhân, phải báo cáo rõ, có cuộc sống giản dị không; có quan liêu, tham nhũng không; có lạm dụng, mua bán, làm giàu bằng quyền lực không; có gần gũi với nhân dân nơi cư trú và cán bộ, công chức, người lao động nơi công tác không. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay đang thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI của Đảng (Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay) phải thêm một tiêu chí nữa là, khả năng đoàn kết, quy tụ của người được lấy phiếu; phải báo cáo rõ tình hình đoàn kết nội bộ mà chức vụ đó có vai trò là trung tâm gắn kết, quy tụ cán bộ, công chức, người lao động trong thực thi nhiệm vụ chính trị thuộc phạm vi lãnh đạo-điều hành.
Việc cụ thể hóa các tiêu chí là để mọi người được lấy phiếu phải báo cáo tương đối thống nhất, đầy đủ nội dung phục vụ cho việc đánh giá. Đồng thời đại biểu đánh giá cũng có tài liệu tương đối đầy đủ làm căn cứ cho việc xem xét của mình. Ngoài ra cũng cần thống nhất độ dài báo cáo của người được lấy phiếu (khoảng 5 đến 7 trang A4 là vừa, và khung thời gian báo cáo thống nhất là một năm. Nếu báo cáo dài 7 trang thì 49 người ở Quốc hội cũng đã hơn 340 trang. Mỗi đại biểu trong kỳ họp đọc và suy ngẫm chỉ một tài liệu đã 340 trang rồi, trong khi còn biết bao nhiêu tài liệu khác nữa nên phải góp phần“giảm tải” cho đại biểu).
- Cân nhắc thêm việc luật hóa việc lấy phiếu tín nhiệm: Ở một vài cuộc hội thảo, hội nghị, Ban tổ chức đã đưa ra yêu cầu dự thảo các điều luật lấy phiếu tín nhiệm để đưa vào Luật hoạt động giám sát (sửa đổi, bổ sung) của Quốc hội hoặc Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi). Dự thảo Hiến pháp trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 5 tháng 5 năm 2013 cũng đã đưa vào. Nói phải cân nhắc thêm vì rằng: Theo quy định hiện hành (từ Hiến pháp đến các Luật tổ chức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội...) chỉ quy định bỏ phiếu tín nhiệm. Mười hai năm qua đi, bỏ phiếu tín nhiệm chưa được thực hiện lần nào, mà việc bỏ phiếu tín nhiệm có mục đích trực tiếp củng cố bộ máy nhà nước (hoặc là người trong bộ máy phải thường xuyên cố gắng hoàn thành nhiệm vụ ở tầm cao hơn; hoặc là phải thay thế người có năng lực, phẩm chất hơn để bộ máy khỏe mạnh hơn). Nay tiến hành thì lại thăm dò chứ không quyết định là điều phải cân nhắc. Đành rằng, nếu luật hóa thì ghi cả hai hình thức, song rất có thể hình thức bỏ phiếu tín nhiệm vẫn chỉ được quy định mà không khi nào được thực hiện. Còn nếu giữ nguyên như hiện hành (chỉ quy định việc bỏ phiếu tín nhiệm) chắc chắn nó sẽ được thực thi ngay và kết quả sẽ tốt hơn nhiều vì đã đến lúc không thể không làm. Hơn nữa, thông thường việc thăm dò chỉ áp dụng khi chuẩn bị bổ nhiệm hay bầu cử một hay một số chức vụ nào đó mà cần phải biết mức độ tín nhiệm của mọi người trong tổ chức, đơn vị đối với người được dự kiến giữ chức vụ đó; còn người đã đảm nhiệm chức vụ rồi, nếu được dự kiến đưa lên chức vụ cao hơn thì mới thăm dò để biết mức độ đồng thuận. Tóm lại, ghi vào Hiến pháp và các đạo luật liên quan việc bỏ phiếu tín nhiệm là việc chắc chắn, còn lấy phiếu tín nhiệm thì cần cân nhắc trước khi quyết định./.

Ts. Bùi Ngọc Thanh

Nguồn tin: Viện Nghiên cứu lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống