Một số kiến nghị bổ sung, hoàn thiện quy định Của pháp luật về đối tượng, phạm vi, quy trình, Thủ tục, tổ chức thực hiện việc lấy phiếu Tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn

25/09/2013
Hoạt động giám sát là một trong những chức năng quan trọng không chỉ đối với Quốc hội mà còn quan trọng đối với Hội đồng nhân dân các cấp. Cùng với chức năng lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, thì Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước, như giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; giám sát hoạt động của các cơ quan cấp cao và hoạt động của những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, v v ….. Đối với Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương không chỉ có chức năng quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương mà còn giám sát việc thực hiện pháp luật, giám sát hoạt động của những người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu ra. Có thể nói hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân có vai trò rất quan trọng, góp phần quan trọng trong việc bảo đảm Hiến pháp và pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất, bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả và đội ngũ cán bộ, công chức không ngừng được rèn luyện để nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Đồng thời, thông qua hoạt động giám sát, sẽ phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật để có biện pháp kịp thời xử lý, khắc phục. Trong bài viết này tôi xin nêu khái quát các quy định của pháp luật, thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về đối tượng, phạm vi, quy trình, thủ tục, tổ chức về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với những người do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn và nêu lên một số kiến nghị.

1. Những quy định của pháp luật về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với những người do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn
Ngày 21 tháng 11 năm 2012 tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 35 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn (sau đây gọi chung là Nghị quyết số 35). Theo quy định của Nghị quyết số 35, thì việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ.
Để triển khai thực hiện Nghị quyết số 35, ngày 16 tháng 1 năm 2013, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 561 để hướng dẫn việc thi hành một số điều của Nghị quyết số 35 về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn (sau đây gọi chung là Nghị quyết số 561). Nghị quyết số 561 đã quy định cụ thể về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, thời điểm tổ chức lấy phiếu tín nhiệm, nội dung báo cáo và trách nhiệm giải trình của người được lấy phiếu tín nhiệm, việc xác minh, trả lời những vấn đề đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu, mẫu phiếu, kiểm phiếu và công bố kết quả kiểm phiếu, xử lý kết quả lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, trình tự thủ tục từ chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm, phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức và đề nghị, kiến nghị Quốc hội, Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.
Theo Nghị quyết số 35 và Nghị quyết số 561 thì đối tượng, phạm vi, quy trình, thủ tục, tổ chức thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn được quy định cụ thể như sau:
1.1. Về người được lấy phiếu tín nhiệm
* Tại Điều 1 của Nghị quyết số 35 quy định những người được lấy phiếu tín nhiệm, bao gồm:
- Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ sau đây:
+ Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước;
+ Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, các thành viên khác của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
+ Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ;
+ Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước.
- Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ sau đây:
+ Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, ủy viên thường trực Hội đồng nhân dân, Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân;
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân.
- Theo đó tại Điều 2 của Nghị quyết số 561 quy định cụ thể hơn đối với một số người được lấy phiếu tín nhiệm đã quy định tại Điều 1 của Nghị quyết số 35 như sau:
+ “Các thành viên khác” của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định tại Điều 1 của Nghị quyết số 35 là các Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội không giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, bao gồm Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội là Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; Ủy viên Ủy ban thường vụ Quốc hội là Trưởng Ban công tác đại biểu của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
+ “Các thành viên khác” của Chính phủ quy định tại Điều 1 của Nghị quyết số 35 là các thành viên Chính phủ không giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, bao gồm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Tổng Thanh tra Chính phủ.
- Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ sau đây:
+ Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn;
+ Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các ủy viên của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
- Trường hợp một người đồng thời giữ nhiều chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn thì việc lấy phiếu tín nhiệm được thực hiện một lần đối với các chức vụ mà người đó đã được Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Trong phiếu tín nhiệm phải ghi rõ các chức vụ đó.
- Ở những địa phương đang thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường thì không thực hiện việc lấy phiếu tín nhiệm theo quy định tại Nghị quyết số 35. Việc đánh giá tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ tại các địa phương này được thực hiện theo quy định của văn bản khác của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
1.2. Về quy trình, thủ tục lấy phiếu tín nhiệm
* Tại Nghị quyết số 35 quy định về thời gian, quy trình lấy phiếu tín nhiệm như sau:
- Về thời hạn và thời điểm tổ chức lấy phiếu tín nhiệm được quy định như sau: Quốc hội, Hội đồng nhân dân tổ chức lấy phiếu tín nhiệm định kỳ hằng năm kể từ năm thứ hai của nhiệm kỳ; riêng đối với nhiệm kỳ 2011-2016 thì việc lấy phiếu tín nhiệm lần đầu tiến hành tại kỳ họp đầu năm 2013.
Để cụ thể hơn về thời gian lấy phiếu tín nhiệm, thì tại Điều 3 của Nghị quyết số 561 quy định việc lấy phiếu tín nhiệm được thực hiện định kỳ tại kỳ họp thường lệ đầu tiên hằng năm của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, kể từ năm thứ hai của mỗi nhiệm kỳ.
- Quy trình lấy phiếu tín nhiệm tại kỳ họp Quốc hội được quy định như sau:
+ Những người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn được lấy phiếu tín nhiệm phải có báo cáo bằng văn bản về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối trong năm trước đó. Báo cáo được gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội chậm nhất là 30 ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội.
Ủy ban thường vụ Quốc hội gửi báo cáo của người được lấy phiếu tín nhiệm và báo cáo tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri liên quan đến người được lấy phiếu tín nhiệm của Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (nếu có) đến đại biểu Quốc hội chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội;
+ Chậm nhất là 10 ngày trước ngày Quốc hội tiến hành lấy phiếu tín nhiệm, đại biểu Quốc hội có thể gửi văn bản đến người được lấy phiếu tín nhiệm yêu cầu làm rõ hơn những nội dung được nêu trong Báo cáo. Người được lấy phiếu tín nhiệm có trách nhiệm trả lời bằng văn bản đối với yêu cầu mà đại biểu đã nêu trước ngày lấy phiếu tín nhiệm;
+ Quốc hội thành lập Ban kiểm phiếu. Việc thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban kiểm phiếu theo quy định tại Điều 31 của Nội quy kỳ họp Quốc hội;
+ Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm bằng cách bỏ phiếu kín. Trên phiếu ghi rõ họ tên, chức vụ của những người được lấy phiếu tín nhiệm, các mức độ: “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm”, “tín nhiệm thấp”;
+ Ban kiểm phiếu công bố kết quả kiểm phiếu đối với người được lấy phiếu tín nhiệm;
+ Quốc hội xem xét, thông qua Nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Quy trình lấy phiếu tín nhiệm tại kỳ họp Hội đồng nhân dân được quy định như sau:
+ Những người do Hội đồng nhân dân bầu phải có báo cáo bằng văn bản về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống trong năm trước đó. Báo cáo được gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân chậm nhất là 20 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân.
Thường trực Hội đồng nhân dân gửi báo cáo của người được lấy phiếu tín nhiệm và báo cáo tập hợp, tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri liên quan đến người được lấy phiếu tín nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp (nếu có) đến đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân;
+ Chậm nhất là 03 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có thể gửi văn bản đến người được lấy phiếu tín nhiệm yêu cầu làm rõ hơn kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Người được lấy phiếu tín nhiệm có trách nhiệm trả lời bằng văn bản đối với yêu cầu mà đại biểu đã nêu trước ngày lấy phiếu tín nhiệm;
+ Hội đồng nhân dân thành lập Ban kiểm phiếu. Việc thành lập, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban kiểm phiếu theo quy định tại Điều 13 của Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân;
+ Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm bằng cách bỏ phiếu kín. Trên phiếu ghi rõ họ tên, chức vụ của những người được lấy phiếu tín nhiệm, các mức độ: “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm”, “tín nhiệm thấp”;
+ Ban kiểm phiếu công bố kết quả kiểm phiếu đối với người được lấy phiếu tín nhiệm;
+ Hội đồng nhân dân xem xét, thông qua Nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo đề nghị của Thường trực Hội đồng nhân dân.
* Theo đó tại Điều 4 của Nghị quyết số 561 quy định cụ thể hơn về quy trình lấy phiếu tín nhiệm đã quy định tại Nghị quyết số 35 như sau:
- Báo cáo của người được lấy phiếu tín nhiệm được gửi đến đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trước kỳ họp lấy phiếu tín nhiệm theo quy định của Nghị quyết số 35 gồm các nội dung cơ bản sau đây:
+ Họ và tên, chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn của người được lấy phiếu tín nhiệm;
+ Kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật đối với chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn;
+ Tự đánh giá về các nội dung tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống;
+ Giải trình về ý kiến, kiến nghị của cử tri do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc chuyển đến (nếu có).
- Trường hợp nhận được yêu cầu bằng văn bản do đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân chuyển đến đề nghị làm rõ thêm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, thì người được lấy phiếu tín nhiệm có trách nhiệm giải trình bằng văn bản và gửi đến đại biểu Quốc hội có yêu cầu chậm nhất là 10 ngày trước ngày Quốc hội tiến hành lấy phiếu tín nhiệm, đến đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là 03 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân.
- Chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân để tiến hành lấy phiếu tín nhiệm, nếu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thấy cần phải làm rõ vấn đề liên quan đến người được lấy phiếu tín nhiệm thì có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác minh và trả lời bằng văn bản cho đại biểu.
Trường hợp cơ quan có thẩm quyền chưa xác minh kịp thì báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân quyết định cho trả lời sau nhưng phải trước ngày lấy phiếu tín nhiệm lần tiếp theo; trong trường hợp này, việc lấy phiếu tín nhiệm vẫn được thực hiện.
- Trước khi tiến hành lấy phiếu tín nhiệm, Quốc hội có thể thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội; Hội đồng nhân dân có thể thảo luận tại Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân về các vấn đề có liên quan đến việc lấy phiếu tín nhiệm và người được lấy phiếu tín nhiệm.
Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo trước Quốc hội kết quả thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội; Thường trực Hội đồng nhân dân báo cáo trước Hội đồng nhân dân kết quả thảo luận tại Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân.
- Về việc xử lý hệ quả đối với người được Quốc hội, Hội đồng nhân dân đánh giá “tín nhiệm thấp”
Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức. Người có trên hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc 02 năm liên tiếp có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá “tín nhiệm thấp” thì Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân trình Quốc hội, Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm.
2. Thực trạng lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn
2.1. Thực trạng lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
* Thực hiện quy định của pháp luật, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII đã tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn như sau:
- Trước 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội những người được lấy phiếu tín nhiệm đã có báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội để gửi cho các đại biểu Quốc hội.
- Người lấy phiếu tín nhiệm tại kỳ họp này gồm 47 người do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, trừ Bộ trưởng Bộ tài chính, Tổng kiểm toán nhà nước, vì mới được Quốc hội cho thôi nhiệm vụ để làm nhiệm vụ khác.
- Quốc hội đã bố trí 1 ngày rưỡi để thảo luận, tiến hành lấy phiếu tín nhiệm, trong đó có nửa ngày thảo luận ở các đoàn đại biểu Quốc hội.
- Quy trình lấy phiếu tín nhiệm, kiểm phiếu và thông qua Nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
* Kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn như sau:
- Tổng số 47 người được lấy phiếu tín nhiệm không có ai có số phiếu “tín nhiệm thấp” trên 50% tổng số đại biểu Quốc hội.
- Có 18 người có số phiếu “tín nhiệm cao” đạt trên 50% tổng số đại biểu Quốc hội.
- Có 29 người có số phiếu “tín nhiệm cao” và “tín nhiệm” đạt trên 50% tổng số đại biểu Quốc hội.
- Có 8 người có số phiếu “tín nhiệm thấp” từ 10% đến dưới 20% tổng số đại biểu Quốc hội và 8 người khác có số phiếu “tín nhiệm thấp” từ 20% đến 41% tổng số đại biểu Quốc hội.
Kết quả phiếu tín nhiệm đã phản ánh tương đối sát thực đối với việc hoàn thành nhiệm vụ, quyền hạn, về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của những người được lấy phiếu tín nhiệm.
2.2. Thực trạng lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu
* Thực hiện quy định của pháp luật, tại kỳ họp giữa năm 2013, Hội đồng nhân dân các cấp đã tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu như sau:
- Trước trước ngày khai mạc kỳ họp Hội đồng nhân dân, những người được lấy phiếu tín nhiệm đã có báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp, ở cấp xã thì gửi đến Chủ tịch Hội đồng nhân dân để gửi cho các đại biểu Hội đồng nhân dân.
- Về đối tượng lấy phiếu tín nhiệm được thực hiện theo đúng quy định của Nghị quyết 35 và Nghị quyết 561. Tuy nhiên, có tỉnh như Quảng Nam không lấy phiếu tín nhiệm đối với 1 trường hợp vì chuẩn bị miễn nhiệm hoặc ở Nghệ an không lấy phiếu tín nhiệm đối với Trưởng ban Hội đồng nhân dân vừa được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh (15/7/2013).
Nhìn chung, việc lấy phiếu tín nhiệm đã được tiến hành công khai, nghiêm túc, bảo đảm đúng quy định của pháp luật, phát huy được vai trò, trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân. Tuy nhiên, đến nay do một số lý do, nên có một số tỉnh chưa thống kê đầy đủ kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với những người do Hội đồng nhân dân bầu, nhất là ở cấp xã, cấp huyện để gửi báo cáo kết quả về các cơ quan có thẩm quyển ở trung ương.
* Kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu như sau:
- Ở 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với 907 người. Kết quả lấy phiếu cho thấy đã có 689 người (chiếm 76%) có tỷ lệ phiếu “tín nhiệm cao” đạt trên 50% tổng số đại biểu; 39 người có tỷ lệ phiếu “tín nhiệm” đạt trên 50% tổng số đại biểu, ….Đặc biệt là có 8 tỉnh có 100% người có tỷ lệ phiếu “tín nhiệm cao” đạt trên 50% tổng số đại biểu.
- Ở cấp huyện: Trong tổng số 6141 người được lấy phiếu tín nhiệm thì có 4514 người (chiếm 73,5%) có tỷ lệ phiếu “tín nhiệm cao” đạt trên 50% tổng số đại biểu; có 496 người (chiếm 8,1%) có tỷ lệ phiếu “tín nhiệm” đạt trên 50% tổng số đại biểu.
- Ở cấp xã: Trong tổng số 52946 người được lấy phiếu tín nhiệm thì có 33174 người (chiếm 62,7%) có tỷ lệ phiếu “tín nhiệm cao” đạt trên 50% tổng số đại biểu; có 6964 người (chiếm 13,2%) có tỷ lệ phiếu “tín nhiệm” đạt trên 50% tổng số đại biểu.
3. Một số kiến nghị
Để tiếp tục hoàn thiện các quy định về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn, chúng tôi xin nêu một số kiến nghị sau đây:
3.1. Về đối tượng lấy phiếu tín nhiệm
- Việc lấy phiếu tín nhiệm là một trong những hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đối với việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật, cũng như giám sát hoạt động của các cơ quan quản lý, cơ quan tư pháp, đối với những người giữ các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước ở trung ương và địa phương. Qua giám sát Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp sẽ đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, cũng như về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của những người đứng đầu các cơ quan hành pháp (ở trung ương gồm Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; còn ở địa phương gồm Chủ tịch ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân, ủy viên ủy ban nhân dân, thủ trưởng các cơ quan chuyên môn), Chánh án tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp và một số chức vụ quan trọng khác.
Do đó chúng tôi đề nghị quy định theo hướng Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các phó Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước. Không nên quy định lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, vì đây là người đứng đầu cơ quan tham mưu của Quốc hội. Mặt khác Hội đồng dân tộc, các ủy ban của Quốc hội làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Cho nên trong nhiều trường hợp ý kiến của Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm ủy ban của Quốc hội chỉ là một ý kiến. Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch Hội đồng nhân dân, các phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch ủy ban nhân dân, các phó Chủ tịch ủy ban nhân dân, các ủy viên ủy ban nhân dân và những người đứng đầu các cơ quan thuộc ủy ban nhân dân, Chánh án tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp. Không nên quy định lấy phiếu tín nhiệm đối với Trưởng ban của Hội đồng nhân dân, vì đây là người đứng đầu của cơ quan tham mưu của Hội đồng nhân dân, trên thực tế các ban cũng không quyết định vấn đề gì, chỉ là cơ quan chuyên môn, tham mưu cho Hội đồng nhân dân.
3.2. Về các mức độ tín nhiệm
Theo quy định của Nghị quyết số 35 thì những người được lấy phiếu tín nhiệm có thể được đánh giá 3 mức độ là: “tín nhiệm cao”, “tín nhiệm”, “tín nhiệm thấp”. Qua thực tiễn thực hiện cho thấy các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân rất lúng túng trong việc đánh giá cán bộ, nhất là người giữ chức vụ chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ bình thường, năng lực hạn chế nên khi đó rất phân vân đánh giá ở mức “tín nhiệm” hay “tín nhiệm thấp”. Mặt khác thực tiễn cho thấy chia 3 mức tín nhiệm như trong Nghị quyết số 35 thì rất khó có người có tỷ lệ phiếu “tín nhiệm thấp” đạt trên 70% tổng số đại biểu, mặc dù có thể người đó hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ trung bình, thậm chí là hạn chế về năng lực, trình độ và phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống bình thường. Như vậy, việc lấy phiếu tín nhiệm sẽ không có ý nghĩa tích cực và vô hình dung sẽ làm cho việc lấy phiếu tín nhiệm chỉ là hình thức. Vì vậy, chúng tôi đề nghị nghiên cứu chỉ nên chia thành 2 mức tín nhiệm là “tín nhiệm” và “ không tín nhiệm”.
3.3. Về việc xử lý người có tỷ lệ phiếu tín nhiệm thấp
Tại Điều 10 của Nghị quyết số 35 quy định người được lấy phiếu tín nhiệm có trên hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc 02 năm liên tiếp có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá “tín nhiệm thấp” thì Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân trình Quốc hội, Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm. Và tại Điều 14 của Nghị quyết số 35 quy định Người được đưa ra bỏ phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân bỏ phiếu “không tín nhiệm” thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền đã giới thiệu người đó để Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn có trách nhiệm trình Quốc hội, Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức đối với người không được Quốc hội, Hội đồng nhân dân tín nhiệm. Chúng tôi nhận thấy quy trình này là quá dài đối với việc xử lý cán bộ khi không hoàn thành nhiệm vụ, có phẩm chất chính trị yếu kém …..; hơn nữa khi thực hiện 2 quy trình này có thể dẫn đến kết quả lấy phiếu tín nhiệm và kết quả bỏ phiếu tín nhiệm trái ngược nhau. Vì vậy, đề nghị xem xét sửa lại quy định này theo hướng người được lấy phiếu tín nhiệm có trên hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc 02 năm liên tiếp có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá “tín nhiệm thấp” thì không thực hiện quy trình bỏ phiếu tín nhiệm nữa mà cơ quan hoặc người có thẩm quyền đã giới thiệu người đó để Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn có trách nhiệm trình Quốc hội, Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức đối với người đó.
3.4. Về thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội, tại Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân
Nghị quyết số 35 quy định trước khi tiến hành lấy phiếu tín nhiệm, Quốc hội có thể thảo luận tại Đoàn đại biểu Quốc hội; Hội đồng nhân dân có thể thảo luận tại Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân về các vấn đề có liên quan đến việc lấy phiếu tín nhiệm và người được lấy phiếu tín nhiệm. Qua thực tiễn thực hiện, chúng tôi đề nghị không nên thực hiện quy định này, vì không rõ mục đích của việc làm này và cũng hình thức; hơn nữa các tài liệu, thông tin về người được lấy phiếu tín nhiệm đã được gửi cho các đại biểu rồi, nếu vấn đề nào chưa rõ thì đại biểu có thể yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác minh, làm rõ hoặc yêu cầu người được lấy phiếu tín nhiệm làm rõ; việc đánh giá và thể hiện sự tín nhiệm đối với người được lấy phiếu tín nhiệm là quyền, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Trên đây là một số ý kiến khái quát các quy định của pháp luật, thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về đối tượng, phạm vi, quy trình, thủ tục, tổ chức về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với những người do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn và một số kiến nghị, xin được nêu lên để các quý vị đại biểu tham khảo. Xin trân trọng cám ơn.

Ths. Đặng Đình Luyến

Nguồn tin: Viện Nghiên cứu lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống