Về mô hình nghị viện của các nước trên thế giới

16/03/2013

1. Chế độ nghị viện một viện, hai viện

Hiện nay, các nước trên thế giới thường tổ chức nghị viện gồm một hoặc hai viện. Tuy nhiên, trong lịch sử của một số nước chứng kiến nghị viện gồm hơn hai viện. Thí dụ, theo Hiến pháp Cộng hòa Nam Phi 1984, nghị viện Nam Phi có ba viện: một viện đại diện cho cồng đồng người da trắng, một viện đại diện cho cộng đồng người da màu và một viện đại diện cho công đồng người Anh điêng; Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên bang Nam Tư 1963 (hiệu đính năm 1968) quy định nghị viện có sáu viện. Năm 1974 Nam Tư thông qua Hiến pháp mới, trong đó quy định nghị viện có ba viện: một viện đại diện cho toàn thể nhân dân, một viện đại diện cho các dân tộc thuộc Liên bang, một viện đại diện cho các tổ chức chính trị-xã hội.

Lịch sử hành thành chế độ nghị viện hai viện bắt nguồn từ nước Anh vào thế kỷ thứ XIV, khi các nam tước cùng các giáo chủ tách ra họp riêng không có sự tham gia của  đại diện các lãnh địa và các thành phố. Dần dần các cuộc họp này trở thành một tổ chức riêng trong bộ máy nhà nước có tên gọi là Viện Quí tộc. Đến giữa thế kỷ XVII, cuộc cách mạng tư sản Anh đã thiết lập chính thể Cộng hòa, Viện Quí tộc bị giải thể. Sau này, khi nước Anh thiết lập lại chính thể Quân chủ, Viện Quí tộc được thành lập lại, chế độ nghị viện hai viện được thiết lập trở lại và tồn tại cho đến ngày nay.

Nhìn chung chế độ nghị viện hai viện mà đa số các nước phương Tây hiện nay áp dụng được xây dựng trên cơ sở quan điểm của các nhà tư tưởng khởi xướng thuyết tam quyền phân lập và của một số học giả tư sản khác. Trong tác phẩm Tinh thần pháp luật, Montesqiueu chia nhân dân thành hai loại: một loại là lớp bình dân, một loại là những người có tài sản, địa vị hoặc thuộc dòng dõi quí tộc được gọi chung là những người ưu tú (elite). Theo Montesquieu, cả hai loại nhân dân đều được tham gia thực hiện quyền lập pháp. Tuy nhiên, khi tham gia, những người ưu việt  “nên được một tỷ lệ cao tương ứng với vị thế ưu việt mà họ có trong quốc gia…Như vậy quyền lập pháp được giao cho hai cơ cấu: một bên là đại biểu quý tộc, bên kia là đại biểu dân chúng. Mỗi bên có nghị viện thảo luận riêng rẽ theo quan điểm và quyền lới của mình[1]. Ngoài ra, việc thiết lập nghị viện hai viện còn để các bên đối trọng nhau trong quá trình lập pháp. Nhà Hiến pháp học người Pháp L.Dughi cho rằng, “Phương pháp tốt nhất từ trước tới nay nhằm loại trừ khả năng nghị viện lạm dụng quyền lực là thiết lập nghị viện gồm hai viện. Sự hợp tác của hai viện cần thiết để biểu quyết luật, thông qua ngân sách và bằng cách đó để kìm chế lẫn nhau[2]. Học giả người Mỹ J. Bright nhấn mạnh tới ý nghĩa của việc thiết lập thượng viện là để “Kiềm chế sự nóng vội, sơ xuất của các đại biểu hạ viện, bằng cách đó chính phủ sẽ được bảo vệ tránh khỏi sức ép của quần chúng và những thay đổi bất thường của dư luận xã hội[3]. James Medison, một trong số những nhà sáng lập Hiến pháp Mỹ cho rằng, “trong chính thể cộng hòa, nghị viện luôn chiếm vị thế chủ đạo, vì vậy muốn cân bằng các nhánh của quyền lực nhà nước cần phải hạn chế vị thế đó của nghị viện bằng cách thành lập nghị viện gồm hai viện”[4]. Như vậy, bản thân nghị viện được cân bằng từ bên trong và sự cân bằng bày sẽ hạn chế việc lạm dụng quyền lực của chính nghị viện. Tổng thống Pháp De Gaulle xem việc thành lập thượng viện là bổ sung hoàn hảo cho hạ viện, để “Trong trường hợp cần thiết buộc hạ viện phải xem xét lại những dự luật của mình hoặc phải thông qua những dự luật mới[5].

Như vậy, có thể thấy rằng, theo quan điểm của các học giả tư sản, việc thiết lập chế độ nghị viện gồm hai viện nhằm mục đích sau:

Thứ nhất, kéo dài quá trình lập pháp, nhằm tránh sự sơ sài, thiếu cẩn trọng của nghị viện khi biểu quyết thông qua luật, bảo đảm tính khả thi của văn bản luật.

Do tính chất và tầm quan trọng của các văn bản luật có tác động sâu rộng và lâu dài đến các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh. Vì vậy, việc thông qua luật cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng, bảo đảm cho các quy định của luật mang tính khả thi, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống xã hội. Một trong những biện pháp bảo đảm sự kỹ càng trong quá trình thảo luận, thông qua luật là kéo dài quá trình này. Có nhiều phương pháp kéo dài quá trình thông qua luật, trong đó, phương pháp thông qua hai viện được áp dụng khá phổ biến ở nhiều nước. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này ở các nước cũng có sự khác nhau. Ví dụ, ở Anh đa số dự luật cần Thượng viện đồng ý, nhưng đôi khi, Hạ viện sẽ dùng Luật Quốc hội để thông qua. Điều này đã xảy ra năm 2004 khi nó được dùng để bắt thực thi lệnh cấm săn bắn[6]. Ở Nhật Bản, theo quy định của Hiến pháp năm 1946, trong trường hợp có sự bất đồng ý kiến giữa Thượng viện và Hạ viện, quyết định cuối cùng thuộc về Hạ viện.

Thứ hai, tạo ra sự kìềm chế đối trọng ngay trong nghị viện, qua đó bảo đảm sự cân bằng giữa các nhánh quyền lực.

Học thuyết quyền tối cao của nghị viện có ảnh hưởng tới mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của nhiều nước trên thế giới. Nước Mỹ khi mới giành được độc lập (năm 1776) đã thiết lập theo mô hình tổ chức bộ máy nhà nước của một số bang theo mô hình chế độ nghị viện Anh. Thực tế vận hành của  của mô hình này cho thấy vai trò to lớn của nghị viện, hoạt động của nghị viện lấn át hành pháp và tư pháp. Vì vậy, khi thảo luận mô hình tổ chức nghị viện tại Hội nghị lập hiến Philadenphia, các nhà lập hiến  Hoa kỳ cho rằng,  cùng với việc thiết lập cơ chế kiềm chế, đối trọng giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp, cần thiết lập cơ chế kiềm chế thẩm quyền to lớn của nghị viện bằng cách thiết lập chế độ hai viện đề hạn chế thẩm quyền to lớn của nghị viện. Từ đây chế độ nghị viện hai viện theo mô hình của Mỹ ra đời. Mô hình này có ảnh hưởng tới việc thiết lập chế độ nghị viện hai viện của nhiều nước trên thế giới có hình thức chính thể cộng hòa tổng thống.

Thứ ba, bảo đảm sự  bình đẳng về vị thế giữa các bộ phận trong xã hội.

Ở các nhà nước liên bang, nghị viện thường được tổ chức thành hai viện, trong đó thượng viện là cơ quan đại diện cho các chủ thể liên bang, thí dụ Braxin, Canada, Đức, Liên bang Nga, Mêhico, Mỹ, Malaixia, Vênêzuêla và một số nước khác; hạ viện là cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân. Vì hạ viện được bầu theo tỷ lệ số dân, do đó, những chủ thể liên bang có số dân lớn sẽ được cử nhiều đại diện hơn những bang nhỏ có ít dân. Điều này dẫn đến sự không bình đẳng về tiếng nói giữa các chủ thể trong liên bang. Để bảo vệ lợi ích của các chủ thể liên bang, không phân biệt chủ thể lớn hay nhỏ, đòi hỏi cần phải thành lập một cơ quan đại diện cho tiếng nói của các chủ thể liên bang, cơ quan đó là thượng viện.

Trong nhà nước đơn nhất, thượng viện thường đại diện cho tiếng nói của các đơn vị lãnh thổ tự quản, thí dụ, Ba Lan, Italia, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Pháp và một số nước khác.

Ở một số nước, ví dụ, Anh vẫn còn lưu giữ truyền thống thượng viện đại diện cho giới thượng lưu (quý tộc, thiên chúa giáo)[7], được thành lập bằng con đường bổ nhiệm hoặc cha truyền con nối. Hạ viện đại diện cho lớp bình dân, được thành lập bằng con đường bầu cử, do nhân dân trực tiếp bầu ra.

Ngày nay, ở các nước việc lựa chọn mô hình nghị viện một viện hay hai viện phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố hình thức cấu trúc nhà nước, truyền thống dân tộc và quan điểm của các nhà chính trị vào thời điểm sửa đổi hoặc thông qua hiến pháp mới.

Các nhà nước liên bang thường áp dụng chế độ nghị viện hai viện. Nhà nước đơn nhất thường thiết lập chế độ nghị viện một viện. Thí dụ, các nước châu Âu như Bungari, Hunggari, Phần Lan, Thụy Điển, Đan Mạch, Hy Lạp, Na Uy; các nước châu Á như Trung Quốc, Indonexia, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, Hàn Quốc, Lào, Irac; các nước châu Phi như Anggola, Ruanđa, Xudang, Tandania…

Theo con số thống kê, trong số 245 nước trên thế giới hiện nay, có 163 nước và vùng lãnh thổ thiết lập chế độ nghị viện một viện, trong đó có 115 nước là thành viên của LHQ, 35 nước không có chủ quyền và vùng lãnh thổ, 13 nước, vùng lãnh thổ không phải là thành viên của LHQ; trong số 82 nước, vùng lãnh thổ có nghị viện hai viện, 76 nước là thành viên của LHQ, 5 nước không có chủ quyền, vùng lãnh thổ, 1 nước không phải là thành viên của LHQ[8]

Tên gọi của của thượng viện được hiến pháp các nước quy định khác nhau, thí dụ, Viện nguyên lão ( Ba Lan, Mỹ, Nhật Bản, Pháo); Hội đồng liên bang (Đức, Liên bang Nga); Hội đồng bang (Ấn Độ) ; Hội đồng Tổng (Thụy Sĩ); Thượng nghị viện (Anh). Hạ viện có tên gọi là Quốc hội  Pháp và đa số những quốc gia châu Phi thuộc Pháp trước đây); Hội đồng dân tộc (Áo, Thụy Sĩ, Xlovakia); Viện đại biểu (Braxin, Mỹ, Italia, Indonexia, Nhật Bản,Rumani, Cộng hòa Séc); Viện nhân dân ( Ấn Độ); Viện bình dân (Anh). Hiến pháp của một số nước sử dụng tên gọi riêng, thí dụ, Đuma quốc gia (Liên bang Nga); Xâyim ( Ba Lan); Bundextas  (Đức).

2. Cách thức thành lập nghị viện, nhiệm kỳ của nghị viện

Nghị viện một viện, hạ viện của nghị viện hai viện của tuyệt đại đa số các nước do nhân dân bầu ra  thông qua cuộc bầu cử phổ thông, trực tiếp. Một số nước có nghị viện hoặc hạ viện của một số nước không hoàn toàn được thành lập bằng phương pháp này, thí dụ, Quốc hội Trung Quốc do nhân dân gián tiếp bầu ra thông qua các cuộc bầu cử ba vòng; hai trong số 545 thành viên của Viện nhân dân của nghị viện Ấn Độ đại diện cho cộng đồng Anh-Ấn do Tổng thống bổ nhiệm; 31 trong tổng số 301 đại biểu Quốc hội Yemen do Tổng thống bổ nhiệm; ở Indonexia, 100 trong số 500 thành viên của Viện nhân dân đại diện cho quân đội do các sĩ quan, binh lính quân đội bầu ra.

Hiến pháp của các nước quy định nhiệm kỳ của nghị viện một viện hay của hạ viện theo các cách khác nhau: 2 năm (Mỹ); 3 năm (Thụy Điển, Philipin); 4 năm (Achentina, Áo, Ba Lan, Bỉ, Bungari, Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Thái Lan); 5 năm (Ấn Độ, Campuchia, Trung Quốc, Pháp); 6 năm (Ai Cập). Hết nhiệm kỳ toàn bộ số thành viên của nghị viện (hạ viện) được bầu lại. Tuy nhiên, cũng có trường hợp ngoại lệ, thí dụ ở Achentina cứ 2 năm ½ số thành viên của hạ viện được đổi mới một lần.

Cách thức thành lập thượng viện có phần đa dạng hơn so với thành lập hạ viện, có các phương pháp thành lập thượng viện sau:

a) Bầu cử trực tiếp. 100 thành viên của thượng viện Mỹ do nhân dân các bang trực tiếp bầu ra, mỗi bang bầu hai đại biểu; toàn bộ 100 thành viên của thượng viện Ba Lan do nhân dân trực tiếp bầu ra; các nước Achentina, Italia, Mêhico, Thụy Sĩ cũng áp dụng phương pháp này.

b) Bầu cử gián tiếp. Thành viên của Viện Nguyên lão Nhật Bản, Pháp do nhân dân gián tiếp bầu ra thông qua đại diện cử tri.

c) Bổ nhiệm. 30 thành viên của thượng viện Goocđani do nhà vua bổ nhiệm.

d) Kết hợp giữa bầu và bổ nhiệm. Trong số 250 thành viên của thượng viện Ấn Độ, 12 do Tổng thống bổ nhiệm, 138 do nhân dân các bang trực tiếp bầu ra; 38 trong tổng số 47 thành viên thượng viện Chile do nhân dân bầu trực tiếp, còn lại do Tổng thống bổ nhiệm, các cựu Tổng thống là thượng nghị sĩ đương nhiên.

e)  Các hình thức khác. 68 thành viên của Bundexrat (Đức) đại diện cho các bang , do chính phủ các bang cử ra; 178 thành viên của Hội đồng Liên bang Nga là những người đứng đầu cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp  của các chủ thể liên bang; số thành viên của Thượng nghị viện Anh thay đổi theo thời gian , năm 1984 có 1.202 thành viên, năm 1987 có 1.187, năm 1988 có 1.211, bao gồm các công tước, hầu tước, bá tước, nam tước, tổng giám mục, giám mục và các nhà quí tộc là thượng nghị sĩ suốt đời.

Nhiệm kỳ của thượng viện thường dài hơn hạ viện, thí dụ, nhiệm kỳ của Thượng viện Nhật Bản là 6 năm, cứ 3 năm bầu lại ½ số thành viên; Thượng viện Ấn Độ, Mỹ cũng có nhiệm kỳ 6 năm, nhưng cứ hai năm bầu lại 1/3 số thành viên; Thượng viện Mehico có nhiệm kỳ 6 năm, hết thời hạn toàn bộ thành viên được bầu lại; trong khi đó nhiệm kỳ của Thượng viện Achentina, Pháp là 9 năm và cứ 3 năm 1/3 số thành viên được bầu lại.

3. Mô hình nào cho Việt Nam?

Như đã đề cập ở trên  đây, việc thiết lập chế độ nghị viện một viện hay nghị viện hai viện tùy thuộc vào sự lựa chọn của mỗi nước. Cho dù là chế độ một viện hay hai viện thì việc tổ chức nghị viện đều cần phải những  yêu cầu căn bản chế độ dân chủ đại đại diện. Theo đó, thứ nhất, nghị viện phải là cơ quan đại diện cho toàn thể nhân dân, đại diện cho lợi ích của các giai cấp, tầng lớp, lợi ích của các địa phương; thứ hai, hoạt động lập pháp của nghị viện phải đáp ứng yêu cầu của cuộc sống xã hội, phục vụ cho lợi ích của xã hội; thứ ba, cần thiết lập cơ chế giám sát hoạt động của nghị viện, bảo đảm ngăn ngừa kịp thời hành vi lạm dụng quyền lập pháp của nghị viện.

Quốc hội nước ta được tổ chức theo truyền thống Quốc hội một viện. Lịch sử lập hiến Việt Nam cho thấy, vấn đề Quốc hội một viện hay hai viện đã được đặt ra thảo luận trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1946. Tuy nhiên, sau khi thảo luận các phương án, các nhà lập hiến Việt Nam đã chọn mô hình Quốc hội một viện. Thực tiễn hoạt động của Quốc hội nước ta trong giai đoạn và qua đã chứng minh cho thấy tính đúng đắn của sự lựa chọn này. Quốc hội đại diện cho ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam. Các đại biểu Quốc hội là những người đại diện cho các tầng lớp, giai cấp, cho các dân tộc, các địa phương. Trong cơ cấu của Quốc hội các khóa, số lượng đại biểu Quốc hội đại diện cho các dân tộc thiểu số chiếm một tỷ lệ thích đáng đáng (từ 13% đến 18%); các tỉnh, thành phố đều có một số lượng đại biểu nhất định. Bên cạnh đó là đại diện của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức, doanh nghiệp và các thành phần xã hội khác. Với cơ cấu thành phần của Quốc hội, Quốc hội nước ta thực sự là cơ quan đại biểu cho ý chí nguyện vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Thực tiễn tổ chức và hoạt động nghị viện của các nước cho thấy, có nhiều phương pháp khác nhau để kéo dài quá trình lập pháp nhằm bảo đảm chất lượng và tính khả thi của văn bản luật. Một trong phương pháp đó được áp dụng trong hoạt động lập pháp của Quốc hội nước ta là quy trình xem xét, thông qua dự án luật tại hai kỳ họp của Quốc hội. Quy trình này đòi hỏi qua nhiều công đoạn với nhiều bước khác nhau, với những yêu cầu chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng của văn bản. Quy trình này cũng đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới có chế độ nghị viện một viện.

Để kiểm soát hoạt động lập pháp của nghị viện, bảo đảm cho hoạt động lập pháp của nghị viện trong phạm vi hiến định, các nước đều thiết lập cơ chế kiểm soát hoạt động thực thi quyền lực nhà nước, trong đó có hoạt động thực thi quyền lập pháp. Ở Việt Nam, cơ chế kiểm tra tính hợp hiến trong hoạt động của Quốc hội đã được thiết lập. Tuy nhiên, sự vận hành của cơ chế này trong thực tiễn chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi cần phải được tiếp tục xây dựng và hoàn thiện. Vì vậy, trong lần sửa đổi Hiến pháp này có trù liệu thiết lập cơ chế bảo vệ hiến pháp tập trung – thành lập cơ quan bảo vệ hiến pháp chuyên trách. Việc thành lập cơ quan bảo vệ hiến pháp chuyên trách sẽ góp phần bảo đảm kiểm soát có hiệu quả việc thực thi quyền lực nhà nước nói chung, hoạt động lập pháp của Quốc hội nói riêng.

Với những phân tích nêu trên, có thể khẳng định rằng, việc thành lập Quốc hội một viện ở nước ta là hoàn toàn phù hợp với điều kiện thực tế cũng như truyền thống văn hóa chính trị của nước ta. Nhiệm vụ đặt ra trước mắt chúng ta hiện nay là tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm cho Quốc hội thực hiện đầy đủ và đúng thẩm quyền mà Hiến pháp trao cho, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện thành công chiến lược đưa nước ta trở thành nước công nghiệp vào năm 2020./.

Tài liệu tham khảo 

[1] Xem,  J.J. Montesquieu, Tinh thần pháp luật, Nxb. Lý luận chính trị, H.2004 Tr. 105

[2] Xem. L. Dunghi, Luật Hiến pháp, Tiếng Nga. M.1908, tr.416.

[3] Xem Lịch sử nước Mỹ, Tiếng Nga, M.1889, tr.120.

[4] Xem. Hamilton. Madison and Jay. On The Constitution/ Selections from the Federalist Papers. Edite with an introduction by R.Gariel. The Liberal Arts Pres. New York, 1954, pp. 175-180.

[5] Gaulle Ch. De. Mesmoires de guerre. Le salut. Pr. 1959, p. 496-502.

[6] Xem. http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2010/05/100501_laws_uk.shtml.[7] Tên chính thức của thượng viện Anh là Viện Quý Tộc (House of Lords). Viện Quý Tộc có 770 nghị sĩ (tiếng Anh: Lord). Thượng Nghị viện không được dân cử, nó bao gồm 26 giám mục của Giáo hội Anh ("Lords Spiritual") và 698 quý tộc (các khanh tướng; "Lords Temporal"). Các giáo sư trong Thượng Nghị viện phục vụ bao lâu họ vẫn giữ chức vụ giáo hội, trong khi các khanh tướng có nhiệm kỳ đến lúc qua đời.

 

[8] Xem. http://vi.wikipedia.org/wiki/

PGS.TS.Vũ Hồng Anh

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống