QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO TRONG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT MỘT SỐ NƯỚC – NHỮNG KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

24/11/2016

  ThS. Phạm Thị Tâm([1])

ThS. Bùi Thị Hòe([2])

1. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật quốc tế

Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc là văn kiện quốc tế đầu tiên ghi nhận quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, trong đó tập trung chủ yếu vào việc cấm phân biệt đối xử về tôn giáo. Theo Điều 18 của Tuyên ngôn:“Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm (conscience), và tôn giáo; quyền này bao gồm cả tự do thay đổi tôn giáo hoặc tín ngưỡng của mình, và tự do bày tỏ tôn giáo hay tín ngưỡng của mình bằng các hình thức truyền giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ, theo hình thức cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc riêng tư”.

Quy định trên sau đó được khẳng định và cụ thể hóa trong Điều 18 và Điều 20 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR). Khoản 2 Điều 18 Công ước này quy định: “Không ai phải chịu ép buộc dẫn đến làm tổn hại quyền tự do lựa chọn có hoặc tin theo tôn giáo hay tín ngưỡng của họ”. Khoản 3 Điều 18 xác định quyền này có thể bị giới hạn bởi luật khi cần thiết để “bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức xã hội, hoặc các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Khoản 4 Điều 18 yêu cầu các quốc gia thành viên ICCPR phải tôn trọng quyền tự do của các bậc cha mẹ hoặc những người giám hộ hợp pháp “để đảm bảo việc giáo dục về đạo đức và tôn giáo của con cái họ phù hợp với ý nguyện riêng của họ”. Khoản 2 Điều 20 nghiêm cấm mọi hành động cổ vũ hằn thù dân tộc, sắc tộc, tôn giáo dẫn đến kích động phân biệt đối xử và bạo lực.

Một số khía cạnh liên quan đến nội dung Điều 18 ICCPR sau đó được Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc làm rõ thêm trong Bình luận chung số 22 (được thông qua tại phiên họp lần thứ 48 của Ủy ban năm 1993), với một số nội dung chính như: giải thích về các quyền tự do tư tưởng, tự do tôn giáo, tín ngưỡng; về thuật ngữ “tín ngưỡng” và “tôn giáo”; phân biệt giữa tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm, tôn giáo hoặc tín ngưỡng với tự do thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng; về việc không cho phép áp đặt bất kỳ sự giới hạn nào đối với tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm; nghiêm cấm các hành vi lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để kích động chiến tranh, cổ vũ hận thù dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, hay kích động sự phân biệt đối xử, thù địch hoặc bạo lực; về việc hạn chế quyền tự do bày tỏ tôn giáo, tín ngưỡng…

2. Mô hình pháp luật về quyền tự do, tín ngưỡng của một số nước trên thế giới

2.1. Cộng hòa Pháp

Khi xét mối quan hệ giữa nhà nước với tôn giáo, Cộng hòa Pháp là nước theo mô hình thể chế thế tục trung lập, theo đó nhà nước thực hiện nguyên lý thế tục triệt để. Nhà nước không công nhận bất cứ tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng và thực thi nguyên lý thế tục trước nhà nước, điển hình mô hình nhà nước trung lập ở Pháp và Mỹ.

Luật tách giáo hội khỏi nhà nước (Luật phân ly) được ban hành 1905.  Điều 1 của Luật quy định: Cộng hòa Pháp bảo đảm tự do lương tâm” và tự do hành đạo”, quyền này chỉ bị hạn chế vì “lợi ích công cộng. Như vậy, quyền tự do tôn giáo (bao gồm cả tự do lương tâm) của mọi người được luật pháp thừa nhận và bảo đảm. Mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội được thể hiện trong Điều 2: “Cộng hòa Pháp không công nhận, trả lương hay tài trợ cho bất kỳ giáo phái tôn giáo nào”. Nguyên tắc này khẳng định rõ nhà nước Pháp hoàn toàn tách khỏi tôn giáo, là mô hình nhà nước hoàn toàn thế tục, không dựa vào bất cứ một tôn giáo nào. Tất cả các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo hộ.

2.2. Nhật Bản

Nhật Bản theo mô hình tôn giáo dân sự. Đây là mô hình áp dụng ở các nước đã có quá trình thực thi chế độ tự do tôn giáo về mặt pháp luật, pháp luật thừa nhận quyền tự do lựa chọn tôn giáo, sự tuyên xưng đức tin tôn giáo của mỗi cá nhân phù hợp với vị thế dân sự và quyền tự do tôn giáo. Ngoài Nhật Bản còn có một số quốc gia Công giáo ở Tây Âu, những nước theo Tin lành Luther, Thụy Điển, Hà Lan, Úc, Nam Phi... cũng theo mô hình này.

Điều 20 Hiến pháp Nhật Bản năm 1946 quy định: “... Không một đoàn thể tôn giáo nào được hưởng đặc quyền của nhà nước, cũng như sử dụng quyền lực chính trị. Không một ai bị cưỡng bức tham gia bất kỳ một hành vi, một nghi lễ hay một hoạt động tôn giáo nào. Nhà nước và các tổ chức nhà nước không được phép giáo dục tôn giáo và các hoạt động có tính chất tôn giáo”. Điều 89 chỉ rõ: “Không một khoản tiền công hay tài sản công nào được phép sử dụng, chi trả cho việc tiêu dùng, cho phúc lợi hay cho việc duy trì các tổ chức, đoàn thể tôn giáo”. 

Luật pháp nhân tôn giáo năm 1951 quy định về Đoàn thể tôn giáo([3]); phân tách giữa nhà nước và tôn giáo, tôn trọng tính đơn nhất và độc lập của các đoàn thể đó. Để thành lập pháp nhân tôn giáo phải thiết lập quy tắc([4]) và xin phép cơ quan quản lý chấp nhận quy tắc đó. Chỉ sau khi cơ quan có thẩm quyền chứng thực thừa nhận là hội đoàn tôn giáo thì mới được hoạt động. Điều 18 quy định, các đoàn thể tôn giáo phải có đại diện hợp pháp (cử ra một ban ít nhất có 3 người, trong đó có một người chịu trách nhiệm chính). Các đoàn thể tôn giáo phải công khai công bố mọi chuyện với tín đồ. Các đoàn thể tôn giáo có quyền sở hữu tài sản, được miễn thuế([5]).

2.3. Trung Quốc

Trung Quốc là nước theo mô hình ưu tiên cho sự đa dạng tôn giáo, thể chế thế tục gắn liền với việc xác định các “tôn giáo được thừa nhận”. Đây là mô hình phổ biến nhất trên thế giới hiện nay. Ví dụ Việt Nam, Nga, Lào, Cu Ba, Indonesia, Thái Lan, Singapore, Philippin, Hàn Quốc và nhiều nước ở châu Âu, châu Mỹ.

Hiến pháp năm 1982 của Trung Quốc khẳng định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân không được cưỡng chế công dân đi theo tôn giáo hoặc từ bỏ tôn giáo, không được phân biệt, kỳ thị người có tôn giáo và người không tôn giáo. Nhà nước bảo đảm hoạt động tôn giáo bình thường. Nghiêm cấm bất kỳ người nào lợi dụng hoạt động tôn giáo để phá hoại trật tự xã hội, tổn hại đến sức khỏe của công dân, làm ảnh hưởng các chế độ giáo dục của nhà nước. Đoàn thể tôn giáo và sự nghiệp tôn giáo không chịu sự chi phối của thế lực bên ngoài”.

Tháng 4/2005, Cục sự vụ tôn giáo Quốc vụ viện ban hành quy định về: “Phương pháp đăng ký và xét duyệt việc thiết lập cơ sở sinh hoạt tôn giáo([6]) để hướng dẫn thực hiện chính sách tôn giáo. Theo đó, các tôn giáo ở Trung Quốc được hoạt động bình thường với điều kiện: (i) Đoàn kết cùng toàn dân tập trung phấn đấu cho mục tiêu bốn hiện đại hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Quốc; (ii) Không can thiệp vào lĩnh vực chính trị và giáo dục thông qua các hoạt động tôn giáo và (iii) Độc lập, tự chủ, không phụ thuộc vào bên ngoài cũng như không chịu bất kỳ một sức ép nào từ bên ngoài (đáng chú ý là Thiên chúa giáo và Tin lành). Hiện nay ở Trung Quốc có năm tôn giáo được công nhận, gồm Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo và Đạo giáo, với 8 tổ chức tôn giáo hoạt động([7]). Các tổ chức tôn giáo này đều do Cục sự vụ tôn giáo của Quốc vụ viện cho phép thành lập và bảo trợ.

2.4. Vương quốc Anh

Nước Anh là một trong những nước theo mô hình nhà nước tôn giáo – dân tộc, một tôn giáo chủ lưu được thừa nhận là quốc đạo hay tôn giáo chính của nhà nước. Một số nước khác theo mô hình này là Ả-rập Xê-út (Saudi Arabia), Jordan, Brunây; Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Đông Timo...

Hiến pháp hiện hành của Anh khẳng định tách nhà nước khỏi giáo hội Anh giáo, trở thành một nhà nước thế tục. Tuy nhiên, giáo hội Anh giáo vẫn được hưởng những đặc quyền của một giáo hội quốc giáo. Cả hai Tổng giám mục của 2 giáo khu và 23 giám mục đều là thành viên đương nhiên của Thượng nghị viện trong khi không một giáo phẩm đồng hạng nào của các giáo hội khác (Công giáo, Tin lành) được hưởng đặc quyền này. Chỉ có giáo sĩ và chức sắc Anh giáo mới có quyền ứng cử vào Hạ nghị viện. Hôn nhân do linh mục Anh giáo làm phép cưới mặc nhiên có giá trị pháp lý. Tín đồ Anh giáo bị thất nghiệp được ưu tiên trong việc giúp đỡ tìm việc làm.

Những người không theo tôn giáo nào hoặc có tư tưởng phi tôn giáo không được ứng cử vào nghị viện. Một số bệnh viện và trường học không tuyển người không có tín ngưỡng tôn giáo vào làm việc.

2.5. Ả-rập Xê-út

Ả-rập Xê-út là nước đặc trưng theo mô hình tôn giáo – dân tộc. Tại Ả-rập Xê-út, tôn giáo và chính trị không tách rời nhau. Các đạo luật đều phải tuân thủ theo các quy định của Luật hồi giáo. Quyền xét xử được thực hiện theo Luật hồi giáo. Ả-rập Xê-út duy trì Luật hồi giáo trong việc xét xử ở hệ thống các toà án nên chế độ xét xử rất hà khắc (duy trì các tội tử hình và nhục hình như cắt cụt tay hay chân do ăn cướp, đánh roi nếu bị “sai lạc tình dục” hay bị say rượu). Các cộng đồng tôn giáo khác bị cấm sinh hoạt tín ngưỡng tại nơi công cộng, hoạt động của các nhà thờ Thiên chúa giáo cũng bị đặt ngoài vòng pháp luật, tín đồ Hồi giáo khi cải đạo sang một tôn giáo khác đối diện với nguy cơ án tử hình. Hệ thống pháp luật của Ả-rập Xê-út dựa trên luật Sharia hà khắc, lực lượng cảnh sát Hồi giáo tại A-rập Xê-út (Muttawa) thường xuyên trừng phạt nghiêm khắc hoạt động truyền giáo, sinh hoạt tín ngưỡng... của các tôn giáo khác và cả những hành vi được coi là “không phù hợp với văn hóa Hồi giáo” tại nơi công cộng.

3. Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

3.1. Về quy định số lượng tín đồ của pháp nhân tôn giáo

Số lượng tín đồ là những tiêu chí quan trọng với quyền pháp nhân tôn giáo. Luật pháp một số nước có quy định cụ thể về số lượng tín đồ cần đủ để xác nhận tư cách pháp nhân. Ví dụ: ở Cộng hoà Séc là từ 300 tín đồ trở lên, đối với các giáo hội lớn phải có 10.000 người trở lên; ở Nga là 20 tín đồ trở lên... Ở một số nước có quy định rất cụ thể về số lượng thành viên ban đại diện pháp nhân tôn giáo trên cơ sở số lượng tín đồ. Ví dụ, Luật phân ly của Pháp quy định các tổ chức tôn giáo có ít nhất 1.000 tín đồ, số lượng thành viên trong ban điều hành phải ít nhất có 07 người; các đoàn thể có từ 1.000 đến 20.000 tín đồ, thành viên ban điều hành có ít nhất 15 người và tổ chức có trên 20.000 người, ít nhất phải có 25 thành viên trong ban điều hành (Điều 19). Ở nước ta, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004) và Nghị định 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 chưa có quy định về số lượng tín đồ tối thiểu cần cho một pháp nhân tôn giáo. Điều này gây rất nhiều khó khăn cho việc đăng ký hoạt động tôn giáo, nhất là đối với các tổ chức tôn giáo cơ sở, như giáo xứ, giáo họ (đạo Công giáo), chi hội (đạo Tin lành). Vì vậy, Luật tín ngưỡng, tôn giáo cần quy định về số lượng tín đồ tối thiểu đối với mỗi loại hình tổ chức tôn giáo. Việc quy định số lượng tín đồ có thể đảm bảo nguồn lực cho sự hoạt động của tổ chức tôn giáo, nhất là đối với các tôn giáo có xu hướng tự trị của tôn giáo cơ sở như đạo Tin lành.

3.2. Về thời gian hoạt động tối thiểu

Đây là vấn đề quan trọng để công nhận pháp nhân tôn giáo, bởi cũng cần có khoảng thời gian cần thiết để tổ chức tôn giáo có thể hoạt động ổn định, lâu dài. Bởi vậy, luật pháp một số nhà nước, quy định các tổ chức tôn giáo muốn được đăng ký hoạt động cần phải có số năm hoạt động tối thiểu. Ví dụ ở Nga ít nhất 15 năm, ở Bỉ ít nhất 30 năm hoạt động trở lên. Ở nước ta, Nghị định 92/2012/NĐ-CP quy định, tổ chức tôn giáo để được công nhận phải có thời gian hoạt động “ổn định” khoảng 23 năm với 3 cấp độ: đăng ký sinh hoạt tôn giáo, đăng ký hoạt động tôn giáo và thừa nhận tổ chức tôn giáo (các tổ chức tôn giáo ít nhất có từ 20 năm sau khi đăng ký sinh hoạt tôn giáo, mới được đăng ký hoạt động tôn giáo (Điều 6) và có ít nhất từ 3 năm sau khi đăng ký hoạt động tôn giáo mới được xét công nhận tổ chức (Điều 8) với những yêu cầu “ổn định”. Những yêu cầu về thời gian, cấp độ chưa phù hợp với thực tế, nhất là yêu cầu phải hoạt động “ổn định” là khái niệm chưa rõ ràng và rất dễ bị giải thích theo các cách hiểu khác nhau. Mặt khác, việc phân khúc thành 3 cấp độ nêu trên trong việc công nhận tổ chức tôn giáo là chưa phù hợp. 

3.3. Vấn đề từ chối thừa nhận tư cách pháp nhân đối với tổ chức tôn giáo

Luật pháp tôn giáo một số nước như Nga, Pháp, Nhật có những quy định có thể tổ chức tôn giáo sẽ bị từ chối công nhận tư cách pháp nhân, nếu xét thấy hoạt động của tổ chức tôn giáo ấy có thể gây bất ổn cho xã hội, cũng có khi do thiếu minh bạch về tài chính. Do đó, việc từ chối công nhận một tổ chức tôn giáo là cần thiết để ổn định xã hội. Luật tín ngưỡng, tôn giáo của nước ta cũng nên điều chỉnh với quy định từ chối công nhận đối với những tổ chức tôn giáo xét thấy có thể gây mất ổn định xã hội.

3.4. Vấn đề quản lý nhà nước của chính quyền

Nhìn chung, luật pháp các nước có những quy định cụ thể nhằm kiểm soát hoạt động của tổ chức tôn giáo thông qua các hình thức khác nhau như: báo cáo chính quyền về việc bổ nhiệm chức sắc tôn giáo (Đức, Italia); báo cáo và chịu sự kiểm soát của chính quyền khi thực hiện các nghi lễ tôn giáo, nghiêm cấm việc hội họp có tính chất chính trị ở nơi chuyên dùng vào việc thờ tự và thực hành nghi lễ tôn giáo (Pháp); báo cáo việc triệu tập phiên họp để bầu cử chức sắc tôn giáo (Mỹ);... Ở nước ta, pháp luật cũng đề cập tới vấn đề quản lý hoạt động tôn giáo, song chưa có những quy định cụ thể, nhất là hoạt động của các tổ chức tôn giáo đã đăng ký hoạt động hay đã được công nhận tổ chức tôn giáo. Vì vậy, Luật tín ngưỡng, tôn giáo cần có quy định cụ thể về việc kiểm soát hoạt động của tổ chức tôn giáo sau khi đã được công nhận.

3.5. Về chủ thể công nhận tư cách pháp nhân tôn giáo

Dù có sự khác nhau, song nhìn chung luật pháp của tất cả các nước đều quy định thủ tục thành lập và đăng ký hoạt động của các tổ chức tôn giáo. Cơ quan có trách nhiệm thực hiện các thủ tục này được quy định khác nhau tùy theo mỗi nước. Ở Việt Nam, theo Nghị định 92/2012/NĐ-CP hiện hành, chủ thể công nhận tổ chức tôn giáo ở nước ta được phân thành ba cấp độ căn cứ theo phạm vi hoạt động của nhóm tôn giáo: cấp Nhà nước (Thủ tướng Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ); cấp tỉnh và cấp xã. Điều này chưa hợp lý, bởi vì có những tổ chức tôn giáo tuy phạm vi hoạt động trong nước không lớn nhưng nó lại có vị trí quan trọng về chính trị và đối ngoại (thí dụ một số hệ phái của Tin lành hay đạo Baha’i - theo cổ ngữ Arập nghĩa là "Người noi theo ánh sáng của Thượng đế). Vì vậy, Luật tín ngưỡng, tôn giáo cần điều chỉnh nêu rõ "công nhận tư cách pháp nhân tôn giáo" để tạo cơ sở pháp lý cho các tôn giáo có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với các tài sản hợp pháp của mình([8]).

3.6. Tự do tôn giáo và các giới hạn của nó

Luật pháp các nước đều quy định các giáo hội và các tổ chức tôn giáo không được phép tiến hành cầu nguyện, làm lễ và các nghi thức tôn giáo ở bên ngoài khuôn viên nhà thờ. Các buổi tập trung đông người để thực hiện các nghi thức tôn giáo đều phải tuân theo những điều luật về hội họp biểu tình; không được nhân danh quyền tự do tôn giáo để áp đặt những giá trị không thích hợp; tự do hành đạo phải tôn trọng quyền tự do của người khác. Nghĩa là, quyền tự do tôn giáo cũng phải có giới hạn trong khuôn khổ luật pháp như bất cứ quyền con người nào khác. Hiến pháp năm 2013 quy định “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.” (khoản 2, Điều 14). Do vậy, pháp luật cần quy định rõ những giới hạn của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhằm tránh sự xung đột giữa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo với các quyền khác và lợi ích hợp pháp khác được hiến định.

Nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm của mỗi nước nhằm xây dựng pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo là điều cần thiết. Song cần cân nhắc việc vận dụng kinh nghiệm cho phù hợp với đặc điểm chính trị - văn hóa và điều kiện quản lý của nước ta./.

Bản tin Thông tin khoa học lập pháp, Số 3(26) năm 2016

  


([1]) Trưởng phòng Nghiên cứu pháp luật về các vấn đề xã hội, Trung tâm NCKHLP, Viện NCLP.

([2]) Phó Trưởng phòng Nghiên cứu pháp luật về các vấn đề xã hội, Trung tâm NCKHLP, Viện NCLP.

[3]) Điều 2 quy định Đoàn thể tôn giáo: “1) Các đền, chùa, nhà thờ, tu viện và các đoàn thể tương tự khác có chức năng làm cơ sở lễ bái; 2) Các giáo phái, tông phái, giáo đoàn, giáo hội, hi tu đạo và các đoàn thể tương tự khác có mục đích chủ yếu là quảng bá giáo lý, thực hành nghi lễ và giáo dục, giáo hóa tín đồ”.

([4]) Phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền tài liệu, hồ sơ hợp pháp trong đó ghi rõ mục đích, tên, địa chỉ, các văn phòng tổ chức và thời hạn hoạt động của chúng, các cơ sở kinh doanh và bản kê khai tài sản đang sở hữu.

([5])Phạm Hồng Thái: Tìm hiểu chính sách tôn giáo của Nhật Bản, trong sách: Bước đầu tìm hiểu mối quan hệ giữa nhà nước và giáo hội, Nxb Tôn giáo Hà Nội 2003, tr.322-323.

([6])Lưu Bành: Luật pháp tôn giáo ở Trung Quốc: Tiến trình lịch sử và những tiến triển gần đây, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 3/2007, tr.56-57.

([7]) 1. Hội Phật giáo Trung Quốc (1953); 2. Hội Hồi giáo Trung Quốc (1953); 3. Ủy ban phong trào "Tam tự" yêu nước Giáo hội Tin lành Trung Quốc (1954); 4. Hội Đạo giáo Trung Quốc (1957); 5. Hội Thiên Chúa giáo yêu nước Trung Quốc (1957); 6. Ủy ban Quản trị Quốc gia Giáo hội Công giáo Trung Quốc (1980); 7. Giám mục đoàn Thiên Chúa giáo Trung Quốc (1980); và 8. Hội Tin lành Trung Quốc (1980).

([8]) Đỗ Quang Hưng: Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền, tlđd

 

 

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống