Vai trò của Quốc hội trong việc xác lập khung thể chế cho tăng trưởng xanh - Kinh nghiệm nghị viện một số nước và bài học cho Việt Nam

29/06/2017

 TS. Nguyễn Minh Sơn[1]

1. Tăng trưởng xanh và tính tất yếu của việc lựa chọn chuyển đổi sang tăng trưởng xanh của các nước trên thế giới

Khái niệm về tăng trưởng xanh của các tổ chức, các nước khác nhau nhưng đều quy tụ 3 điểm cơ bản như sau: (i) Tăng trưởng xanh là nền kinh tế thân thiện với môi trường, giảm phát thải khí nhà kính để giảm thiểu biến đổi khí hậu; (ii) Tăng trưởng xanh là nền kinh tế tăng trưởng theo chiều sâu, hao tổn ít nhiên liệu, tăng cường các ngành công nghiệp sinh thái, đổi mới công nghệ; (iii) Tăng trưởng xanh là nền kinh tế tăng trưởng bền vững, xóa đói giảm nghèo và phát triển công bằng.

Tăng trưởng xanh được coi là một chương trình toàn diện, tạo ra hướng tiếp cận mới trong tăng trưởng kinh tế, hướng tới phục hồi và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, nuôi dưỡng cuộc sống của con người và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu. Nhiều quốc gia hiện nay đã và đang lựa chọn xu hướng tăng trưởng kinh tế xanh nhằm hướng tới phát triển bền vững.

Để thúc đẩy tăng trưởng xanh, chính phủ các nước có thể tiếp cận theo nhiều phương thức khác nhau. Một số nước tập trung vào từng lĩnh vực xanh cụ thể như phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển rừng, phát triển năng lượng sạch, tái sinh. Một số nước tiếp cận liên ngành xuyên suốt các lĩnh vực như sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất và tiêu dùng bền vững... Dù với phương thức nào, chiến lược tăng trưởng xanh của các nước cũng đều tập trung giải quyết các vấn đề sản xuất và tiêu dùng bền vững; xây dựng cơ sở hạ tầng bền vững; bảo vệ, khai thác và sử dụng hiệu quả tài nguyên; giảm phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, sử dụng ít tài nguyên, áp dụng các biện pháp sản xuất sạch.

2. Vai trò quan trọng của Quốc hội trong việc xác lập khung thể chế cho tăng trưởng xanh

Đến nay, thực tiễn phát triển kinh tế xanh đã được xác định là trọng tâm trong chính sách, pháp luật phát triển quốc gia của nhiều nước trên thế giới nhằm đạt được sự phát triển bền vững[2]. Nhiều quốc gia phát triển đã đi tiên phong trong việc thúc đẩy tăng trưởng xanh với nhiều nội dung quan trọng thể hiện sự cam kết mạnh mẽ, hành động cụ thể hướng tới nền kinh tế xanh, như: Đan Mạch có sáng kiến “Tăng trưởng xanh”; Ai-len thông qua Kế hoạch phát triển quốc gia (2007 - 2013) tạo ra một khuôn khổ tài chính vững mạnh cho phép giải quyết các thách thức của môi trường trong giai đoạn 2007 - 2013; Hàn Quốc công bố “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh” đến năm 2050 và Kế hoạch 5 năm về tăng trưởng xanh 2009 - 2013; Trung Quốc coi nội dung phát triển xanh, xây dựng xã hội tiết kiệm năng lượng và thân thiện với môi trường là mục tiêu cần nỗ lực hướng tới trong quá trình thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng…

3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Xây dựng và hoàn thiện khung thể chế cho tăng trưởng xanh chắc chắn phải dựa trên cơ sở đặc điểm chính trị, điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như văn hóa của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, những giá trị ưu việt mang tính phổ quát, những kinh nghiệm thành công của các quốc gia khác cũng cần được tham khảo và vận dụng.

Qua phân tích kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình xây dựng thể chế pháp luật tăng trưởng xanh của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy, để tạo động lực cho sự phát triển kinh tế xanh thịnh vượng của quốc gia, một trong những đòi hỏi then chốt là phải có một hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, hoàn chỉnh, kịp thời, cập nhật, nhạy bén với xu thế và phù hợp với các quy luật kinh tế thị trường, kiến tạo một môi trường đầu tư và kinh doanh thông thoáng, lành mạnh.

Nhìn chung, pháp luật tăng trưởng xanh của các quốc gia có trình độ phát triển cao đều được xây dựng và hoàn thiện trên nguyên tắc: (1) Tôn trọng và tuân thủ các nguyên tắc thị trường một cách nghiêm ngặt và thống nhất, giảm thiểu việc can thiệp, áp đặt hành chính lên thị trường; (2) Tôn trọng quyền tự do và nguyên tắc bình đẳng trong kinh doanh nhằm khuyến khích sự tham gia kinh doanh của tất cả các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân; (3) Quy định rõ ràng về chế độ sở hữu, cho phép tiếp cận công khai và bình đẳng các nguồn lực cơ bản như nguồn lực về đất đai, về tín dụng, cơ hội đầu tư, thông tin, nguồn nhân lực và hướng tới sự phân bổ nguồn lực hợp lý, hiệu quả và bền vững; (4) Thiết lập hệ thống tư pháp độc lập, cơ chế giải quyết khiếu kiện, tranh chấp hiệu quả; quy định chặt chẽ về giám sát thực thi pháp luật cũng như các chế tài xử phạt nghiêm minh nhằm bảo đảm tính ổn định, lâu bền của luật pháp, tránh sự thay đổi thường xuyên.

Đối với quá trình xây dựng và hoàn thiện khung thể chế cho tăng trưởng xanh của Việt Nam, trước hết cần thống nhất trong nhận thức và quan điểm về tăng trưởng xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, năng lượng thân thiện với môi trường, chống biến đổi khí hậu hướng đến phát triển bền vững mà trọng tâm là về mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường.

Tiếp đó, trong quá trình xây dựng và hoàn thiện khung thể chế tăng trưởng xanh, cần nhanh chóng thay đổi các văn bản pháp luật cũ bằng các văn bản pháp luật mới để tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, tiến bộ, phù hợp khi có sự ra đời và phát triển của các quan hệ kinh tế mới. Ban hành các văn bản pháp luật kinh tế có liên quan đến tăng trưởng xanh theo thứ tự ưu tiên: văn bản pháp luật quy định chung (được coi là gốc) thì phải được ban hành trước, văn bản pháp luật chuyên ngành thì phải được ban hành sau để bảo đảm tính hệ thống. Mạnh dạn nghiên cứu, áp dụng các tư tưởng, quan điểm tiến bộ mang tính phổ quát về thể chế pháp luật trên thế giới. Xác định một cách rõ ràng, đầy đủ, khoa học các quan điểm về tăng trưởng xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, năng lượng thân thiện với môi trường, chống biến đổi khí hậu hướng đến phát triển bền vững trước khi tiến hành sửa đổi hoặc xây dựng mới văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục tình trạng vừa thiết kế, vừa thi công, vừa xây dựng pháp luật, vừa đề xuất chính sách.

4. Đề xuất, kiến nghị

- Đề xuất, kiến nghị với Quốc hội:

Thứ nhất, cần tiến hành rà soát, đánh giá lại toàn bộ các văn bản pháp luật về tài chính, thuế và phí, môi trường, sử dụng năng lượng, khoa học - công nghệ, phát triển kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực… liên quan đến phát triển kinh tế xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường hướng đến phát triển bền vững đã được Quốc hội ban hành. Từ đó, chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, đề xuất hướng sửa đổi, bổ sung tránh dàn tri, lãng phí, chồng chéo giữa các chính sách.

Thứ hai, tiến hành nghiên cứu, xem xét đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ Quốc hội khóa 14 dự án Luật về tăng trưởng xanh hướng đến phát triển bền vững và dự án Luật quy hoạch. Khẩn trương nội luật hóa việc thực hiện 17 mục tiêu, 169 chỉ tiêu trong văn kiện Chuyển đổi thế giới của chúng ta: Chương trình Nghị sự năm 2030 vì sự phát triển bền vững” của Liên Hợp quốc.

Thứ ba, nghiên cứu bổ sung một số chỉ tiêu như: GDP xanh; giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP mỗi năm; giảm cường độ phát thải khí nhà kính; tỷ lệ đô thị và các làng nghề có hệ thống thu gom và xử lý nước thải đạt quy chuẩn; diện tích cây xanh tương ứng tiêu chuẩn đô thị vào Nghị quyết Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm để Chính phủ triển khai thực hiện. Đây cũng là căn cứ để Quốc hội, các cơ quan Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH thực hiện giám sát chặt chẽ việc triển khai thực hiện một cách thường xuyên.

Thứ tư, nâng cao vai trò giám sát trong việc thực thi chính sách pháp luật về tăng trưởng xanh gắn với bảo vệ môi trường, hướng đến phát triển bền vững dưới các hình thức như: thường xuyên tiến hành giám sát nội dung này theo từng cấp độ khác nhau; sau các đợt giám sát, cần ban hành Nghị quyết giám sát với nội dung chặt chẽ, lượng hóa bằng bài toán cụ thể, có mốc thời gian thực hiện rõ ràng để các cơ quan Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội theo dõi, giám sát việc thực hiện của Chính phủ; chất vấn thành viên Chính phủ về nội dung này ít nhất 1 năm/1 lần; chất vấn thành viên Chính phủ tại phiên họp UBTVQH ít nhất 1 năm/1 lần; chất vấn thành viên Chính phủ tại phiên họp ở các cơ quan Quốc hội 1 năm/1 lần.

Thứ năm, cần được chú trọng và tăng cường vai trò của Quốc hội trong công tác thông tin truyền thông. Thông qua các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc cử tri, doanh nghiệp các cơ quan Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH thường xuyên thông tin tuyên truyền các nội dung có liên quan đến chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môi trường hướng đến phát triển bền vững. Qua đó, sẽ dần dần tạo cách nghĩ, cách làm trong cộng đồng doanh nghiệp, người dân và xã hội. Với nguồn lực và nhân lực còn hạn chế của Quốc hội trong việc thực hiện giám sát liên tục, kịp thời, thì việc khuyến khích, thúc đẩy vai trò của các tổ chức xã hội trong theo dõi, giám sát bảo vệ môi trường là rất quan trọng và cần thiết. Thông qua đó, có thể phát hiện, tố giác các hành vi gây ô nhiễm môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đến các cơ quan Quốc hội.

- Đề xuất, kiến nghị với Chính phủ:

Thứ nhất, về cơ chế, chính sách, cần tập trung vào tạo điều kiện thuận lợi cho đổi mới mô hình tăng trưởng, trọng tâm là cơ cấu lại ngành nghề, ưu tiên phát triển các ngành có công nghệ cao, phát thải cac-bon thấp; công nghệ thân thiện môi trường; sử dụng tiết kiệm năng lượng và tài nguyên; không gây ô nhiễm môi trường; phục hồi tài nguyên và hệ sinh thái.

Thứ hai, về nhận thức, tập trung tuyên truyền, giáo dục định hướng thay đổi nhận thức trước đây của xã hội từ nền “kinh tế nâu” sang nền “kinh tế xanh” để tạo ra một sự đồng thuận cao trong xã hội từ lãnh đạo đến người dân và doanh nghiệp, từ đó thay đổi quan niệm và nhận thức về một “nền kinh tế xanh”. Trong hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, đổi mới giáo trình, bài giảng theo hướng tiếp cận phát triển “nền kinh tế xanh”; nâng cấp nội dung “kinh tế môi trường” và “kinh tế tài nguyên thiên nhiên” truyền thống theo hướng giảng dạy “kinh tế xanh” .

Thứ ba, hoàn thiện công tác quản lý tài chính trong nghiên cứu, phát triển và huy động các nguồn lực phục vụ việc ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ. Cần có chính sách đầu tư cho phát triển khoa học, công nghệ trong nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu các lĩnh vực ngành nghề trong nội hàm của “nền kinh tế xanh”, “tăng trưởng xanh” như sử dụng năng lượng tái tạo, công nghệ sản xuất tiết kiệm tài nguyên, tiêu hao ít năng lượng, công nghệ giảm thiểu phát thải khí nhà kính; hạn chế tối đa gây ô nhiễm môi trường; phục hồi hệ sinh thái tự nhiên; định hướng lại đầu tư công, hướng tới mức đầu tư khoảng 2% tổng chi ngân sách hàng năm cho khôi phục hệ sinh thái và bảo vệ môi trường.

Thứ tư, cần nghiên cứu đổi mới quy hoạch sử dụng đất cho phát triển đô thị, phát triển giao thông, khu công nghiệp, khu chế xuất, các công trình phúc lợi xã hội theo hướng đô thị xanh, giao thông xanh. Cải cách lại hệ thống thuế tài nguyên và thuế môi trường, điều chỉnh thông qua công cụ tài chính và thuế khóa nhằm khuyến khích tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên, nhất là tài nguyên quý hiếm, bảo vệ môi trường, duy trì và phát triển hệ sinh thái tự nhiên.

Thứ năm, đối với chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, hiện nay đã ban hành quyết định tính chỉ tiêu GDP xanh, đòi hỏi cần phải xem xét và đưa vào cải tiến Hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) phản ánh đủ các chỉ tiêu tính toán hạch toán tài nguyên và môi trường, hình thành hệ thống tài khoản vệ tinh về đất, nước, rừng... trong hạch toán cân đối tài khoản quốc gia. Hướng tới những hao hụt trong trữ lượng tài nguyên quốc gia cần được quy ra giá trị tiền tệ và cân đối trong hệ thống tài khoản quốc gia bao gồm hạch toán Môi trường và Kinh tế (SEEA) theo hướng dẫn của Văn phòng thống kê Liên Hợp Quốc.

Thứ sáu, cần rà soát, xem xét lại cơ chế, chính sách đã có liên quan đến dịch vụ hệ sinh thái và đầu tư cho phát triển rừng thời gian vừa qua, gắn phát triển rừng với xóa đói giảm nghèo trên cơ sở phát huy hiệu quả thể chế “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, những ưu thế của công cụ kinh tế liên quan đến chi trả dịch vụ môi trường  rừng (PES), bổ sung và hoàn thiện công cụ này triển khai trong cả nước. Sau đó, tiếp tục PES cho các hệ sinh thái khác như hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái biển, san hô...

Thứ bảy, dựa vào tiêu chí quốc tế như đã dự tính của Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), đầu tư công toàn cầu 2% GDP cho phát triển kinh tế xanh, tổng kết thời gian vừa qua mức độ đầu tư cho môi trường ở Việt Nam còn thiếu hụt bao nhiêu để tiếp tục bổ sung và hoàn thiện phù hợp với thực tiễn tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam và xu thế chung toàn cầu.    

Thứ tám, tích cực hợp tác quốc tế trong nỗ lực chuyển đổi từ mô hình của nền “kinh tế nâu” sang nền “nền kinh tế xanh” ở Việt Nam, huy động các nguồn lực hỗ trợ của quốc tế, nguồn vốn quốc tế cho giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Thứ chín, duy trì và phát triển nguồn “vốn tự nhiên” là những tài nguyên như đất, nước, khoáng sản, rừng, thủy sản, hệ sinh thái và những gì hình thành nên sinh quyển trái đất, cung cấp hàng hóa và dịch vụ cần thiết cho sự sống, sự thịnh vượng, đồng thời là cơ sở cho mọi hoạt động kinh tế của con người. Việt Nam hội tụ những điều kiện thuận lợi, lợi thế so sánh để duy trì và phát triển nguồn vốn tự nhiên. Đó là lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, tính đa dạng sinh học cao, cảnh quan thiên nhiên phong phú, tiềm năng năng lượng tái tạo rất lớn, đặt biệt là năng lượng gió, năng lượng mặt trời, địa nhiệt, năng lượng sinh khối. Cũng giống các dạng vốn khác (vốn vật chất, vốn tài chính và vốn con người), vốn tự nhiên cũng có thể bị suy giảm và suy thoái do sản xuất và tiêu dùng, cần phải được cân đối thông qua đầu tư vào vốn tự nhiên, quản lý hệ sinh thái, duy trì dòng hàng hóa và dịch vụ cho tương lai. Do vậy, việc thúc đẩy tăng trưởng xanh với trọng tâm đầu tư vào nguồn vốn tự nhiên được xem là cách tiếp cận quan trọng để hài hòa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, đồng thời tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế bền vững. Các chính sách, biện pháp để đầu tư, phát triển nguồn vốn tự nhiên được tập trung vào: thúc đẩy khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững tài nguyên đất, nước, khoáng sản, rừng, thủy sản; bảo tồn đa dạng sinh học; phát triển dịch vụ hệ sinh thái; hạch toán và thiết lập tài khoản vốn tự nhiên làm căn cứ cho quy hoạch khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững nguồn vốn tự nhiên.

Thứ mười, cần ưu tiên phát triển các ngành kinh tế xanh mũi nhọn để tạo động lực mới thúc đẩy kinh tế phát triển, thêm việc làm cho xã hội: tập trung vào các ngành kinh tế có thể phát huy lợi thế so sánh của Việt Nam như phát triển nông nghiệp hữu cơ; phát triển các mô hình kinh tế sinh thái; phát triển sản xuất hàng hóa và dịch vụ môi trường, tái chế chất thải phát triển du lịch sinh thái; tái sinh rừng tự nhiên, trồng rừng ngập mặn, chắn sóng, chắn cát... Mặt khác, Việt Nam cũng nên xem xét sử dụng các gói hỗ trợ kinh tế trong việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng xanh như giao thông công cộng, xây dựng nhà sử dụng hiệu quả năng lượng, hạ tầng cấp nước và vệ sinh môi trường.

 (Bản tin Thông tin khoa học lập pháp, Số 01(27) năm 2017)



[1] Phó Chủ nhiệm Ủy ban kinh tế của Quốc hội

[2] Luật khung về tăng trưởng xanh được Quốc hội Hàn Quốc chính thức thông qua vào ngày 29/12/2009 và được Chính phủ Hàn Quốc công bố thi hành vào ngày 13/1/2010; Nghị viện Nhật Bản đã ban hành Luật môi trường cơ bản, Luật kiểm soát ô nhiễm không khí, Luật kiểm soát ô nhiễm nước, Luật ngăn ngừa ô nhiễm đất và văn bản pháp luật về năng lượng, thuế bảo vệ môi trường..; Quốc hội Trung Quốc đã ban hành một số đạo luật như: Luật sử dụng năng lượng hiệu quả; Luật thúc đẩy sản xuất sạch hơn; Luật về thúc đẩy nền kinh tế thần kỳ; Luật về biến đổi khí hậu; Luật về năng lượng tái tạo, Luật thuế bảo vệ môi trường…; Nghị viện Cộng hòa Pháp đã thông qua hai đạo Luật Grenelle môi trường quan trọng nhất là: Luật Grenelle 1 (ra đời 3/8/2009) và Luật liên quan đến cam kết quốc gia với môi trường Grenelle 2 (ngày 29/6/2010);  Cụ thể hóa Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức (1949), Nghị viện Đức đã xây dựng và ban hành Luật môi trường và một số luật khác như Luật kiểm soát phát thải (2002), Luật bảo tồn thiên nhiên và quản lý cảnh quan, Luật tài nguyên nước (2010), Luật quản lý chất thải và chu kỳ bền vững kín (2011), Luật quy hoạch thành phố và quốc gia (2008), Luật bảo tồn đất (1998), Luật săn bắn (1976), Luật bảo vệ các động vật (2006), Luật công nghệ gen (1993)… 

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống