Nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa đối chiếu với những luận điểm về phân quyền của Mông-te-ski-ơ và một số kiến nghị

30/11/2012
Mông-te-ski-ơ[1] viết: “Trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự. Với quyền lực thứ nhất, nhà vua hay pháp quan làm ra các thứ luật cho một thời gian hay vĩnh viễn, và sửa đổi hay hủy bỏ luật này. Với quyền lực thứ hai, nhà vua quyết định hòa hay chiến, gửi đại sứ đi các nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược. Với quyền lực thứ ba, nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân. Người ta sẽ gọi đây là quyền tư pháp, và trên kia là quyền hành pháp quốc gia[2]”.

I. ĐỐI CHIẾU NHỮNG LUẬN ĐIỂM VỀ PHÂN QUYỀN CỦA MÔNG-TE-SKI-Ơ VỚI TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

1.1. Những luận điểm về phân quyền của Mông-te-ski-ơ (1689-1755)

 1) Luận điểm thứ nhất: Trong mỗi nhà nước đều có ba thứ quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Mông-te-ski-ơ[1] viết: “Trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự. Với quyền lực thứ nhất, nhà vua hay pháp quan làm ra các thứ luật cho một thời gian hay vĩnh viễn, và sửa đổi hay hủy bỏ luật này. Với quyền lực thứ hai, nhà vua quyết định hòa hay chiến, gửi đại sứ đi các nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược. Với quyền lực thứ ba, nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân. Người ta sẽ gọi đây là quyền tư pháp, và trên kia là quyền hành pháp quốc gia[2]”.

Thuật ngữ quyền lực được Mông-te-ski-ơ dùng ở dạng số nhiều (tiếng Pháp: des pouvoirs) do đó phân quyền - separation des pouvoirs - không có nghĩa là chia nhỏ một đơn nguyên thành ba bộ phận mà là phân định, hay là tách biệt, ly khai ba chức năng quyền lực này. Như vậy các quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp ở đây được hiểu là các chức năng của quyền lực nhà nước.

2) Luận điểm thứ hai: Cần có sự phân lập ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; nếu nhập lại vào trong tay một cơ quan hay một người thì có nguy cơ lạm quyền và dân chúng mất tự do.

Theo diễn đạt của Mông-te-ski-ơ thì ba quyền này đang do một ông vua thực hiện, và do đó thường là “hung bạo” và “chuyên chế nghiệt ngã”. Mông-te-ski-ơ nhắc đi nhắc lại nhiều lần động từ “nhập lại”. Ông viết: “Khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên lão thì sẽ không còn gì là tự do nữa; vì người ta sợ rằng chính ông ta hay viện ấy sẽ đặt ra luật độc tài và thi hành một cách độc tài”[3].

Tương tự, “cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán đối với quyền sống và quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp thì ông tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp.

Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc hoặc của dân chúng nắm luôn cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết” [4].

Như vậy, cần phải tách ba thứ quyền lực này ra và trao cho ba cơ quan khác nhau. Hơn nữa tư tưởng chủ đạo của Mông-te-ski-ơ không chỉ là tách biệt, ly khai (phân lập) các thứ quyền lực ra mà quan trọng hơn là không được nhập các thứ quyền lực lại. Điểm đặc biệt ở chỗ: Mông-te-ski-ơ không nói tách ra thì có lợi gì mà nói nếu nhập lại thì có hại gì. Cách đặt vấn đề theo hướng này của Mông-te-ski-ơ ít được các nhà nghiên cứu để ý và phân tích thấu đáo trong các tài liệu viết về tư tưởng của Mông-te-ski-ơ. Mông-te-ski-ơ đặt ngược vấn đề như vậy là phù hợp với thực tiễn tổ chức bộ máy nhà nước phong kiến đương thời, do ba quyền đã nhập lại trong tay một ông vua mà dẫn đến áp bức và chuyên chế độc tài.

Với ý nghĩa này thì phân quyền là phân định, hay phân công quyền lực, phân công các chức năng chung nhất của nhà nước chứ không phải là chia nhỏ quyền lực. Phân quyền là để bảo đảm tự do cho nhân dân, tránh được  chuyên chế, độc tài[5].

3) Luận điểm thứ ba: Quyền lập pháp trao cho nghị viện - một cơ quan dân cử.

Mông-te-ski-ơ viết “Quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia, quyền hành pháp chỉ thực hiện ý chí đó”[6].

Từ chỗ xác định vai trò của hai quyền này là thể hiện ý chí chung và thực hiện ý chí chung của quốc gia mà cần có cách thức thành lập, cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động cũng như quan hệ giữa chúng với các quyền khác cho phù hợp. “Dân chúng thực hiện quyền lập pháp bằng cách giao cho các đại biểu của mình làm mọi việc mà cá nhân công dân không thể tự mình làm được”[7]. Quyền lập pháp cần được giao cho nghị viện - một cơ quan đại biểu, vì “dân chúng chỉ nên tham gia việc nước bằng cách chọn đại biểu của mình là những người đủ năng lực làm việc”, “cơ quan đại biểu dân chúng không nên giải quyết các công việc cụ thể vì họ không thể làm tốt điều này. Cơ quan đại biểu cho dân chỉ nên làm ra luật, và xem xét người ta thực hiện luật như thế nào”, “điều này thì có thể làm tốt, và không ai làm tốt hơn là cơ quan đại biểu của dân”[8]. Nghị viện có chức năng làm luật, quyết định thu thuế, ngân sách, giám sát việc thực hiện luật của hành pháp, có quyền công kích cơ quan hành pháp. Quyền quy định việc thu thuế là quyền quan trọng nhất của nghị viện, “nếu cơ quan hành pháp quy định việc thu thuế mà dân chúng không đồng tình thì không còn tự do nữa, vì như vậy là người hành pháp trở thành người lập pháp ngay ở điểm quan trọng nhất của việc lập pháp”[9].

Như vậy, Mông-te-ski-ơ đã chỉ rõ: quyền lập pháp trao cho nghị viện - cơ quan dân cử - là tốt nhất.

Về cơ cấu tổ chức, theo Mông-te-ski-ơ, Nghị viện, với tư cách là “ thể hiện ý chí chung của quốc gia” thì nên có hai viện: Viện của đại biểu dân chúng là Viện Lập pháp, có nhiệm vụ làm luật, còn Viện Quý tộc - Thượng viện - thì “tham gia công cuộc lập pháp với chức năng ngăn cản, chứ không có chức năng quy định”, “có thể bác bỏ ngân sách chứ không được sửa đổi ngân sách”. Như vậy Thượng viện - Viện Quý tộc - có vai trò rất lớn trong kiểm soát quyền lực đối với Hạ viện.

Về phương thức làm việc, hai viện “thảo luận riêng rẽ theo quan điểm của mình”.“Nghị viện trong một thời gian khá dài không họp bàn gì cả thì cũng không có tự do”, vì như vậy “sẽ  hoặc không có nghị quyết lập pháp gì cả, nhà nước rơi vào tình trạng vô chính phủ”,  hoặc “các nghị quyết lập pháp cũ bị hành pháp nắm lấy và thao túng, thành ra tình trạng chuyên chế”[10]. Mà nếu cơ quan lập pháp “cứ họp luôn luôn thì cũng vô ích”, như thế “sẽ làm cho cơ quan hành pháp quá bận rộn”, “không lo được việc chấp hành mà cứ lo bảo vệ quyền hạn chuyên trách của mình”[11]. “Nếu nghị viện thay đổi xoành xoạch, khóa nào cũng như nhau cả, thì nhân dân sẽ thấy rõ cơ quan lập pháp đã bại hoại, chẳng hy vọng gì vào lập pháp nữa”[12].

Như vậy, nghị viện không làm việc quanh năm như hành pháp nhưng cũng không thể làm việc quá ít, nghị viện phải làm việc sao cho những nghị quyết lập pháp, tức là luật không bị lạc hậu. Đây chính là cơ sở để nghị viện tư sản là cơ quan dân cử hoạt động lập pháp năng động, không phải quanh năm nhưng ít nhất phải là một số tháng nhất định trong một kỳ duy nhất hay hai kỳ trong năm.

4) Luận điểm thứ  tư: Quyền hành pháp nên giao cho một người.

Theo Mông-te-ski-ơ thì: “Quyền hành pháp thì phải trong tay một vị vua chúa, vì rằng quyền hành pháp luôn luôn cần đến một hành động nhất thời, để cho một người làm thì hơn nhiều người cùng nắm, nó khác với lập pháp do nhiều người làm thì hơn là một người ban hành”[13], và vì nó, cũng như lập pháp “không áp dụng chung cho một cá nhân”. Do điều kiện lịch sử mà Mông-te-ski-ơ cho rằng, quyền hành pháp nên trao cho vua chúa. Ông chưa thể hình dung ra một nhân vật như Tổng thống Mỹ, một ông vua kiểu mới, ông vua được bầu cử theo nhiệm kỳ.

Về bố trí con người cụ thể cho hành pháp, Mông-te-ski-ơ quan niệm quyền hành pháp không nên giao cho người từ cơ quan lập pháp, không nên kiêm nhiệm hành pháp với lập pháp: “Nếu không có vua chúa thì quyền hành pháp sẽ ủy thác cho một số người trong cơ quan lập pháp, và như thế thì sẽ không còn quyền tự do nữa; vì hai quyền hành pháp và lập pháp nhập làm một, và mấy con người kia vừa nhúng tay vào cả quyền này và quyền kia”[14]. Như thế có nghĩa là nghị sĩ không nên giữ chức vụ trong Chính phủ.

Hành pháp phải được bảo đảm tính độc lập, thể hiện trong sự bất khả xâm phạm của con người hành pháp: “Cá nhân con người hành pháp là bất khả xâm phạm, vì ông ta cần thiết cho quốc gia. Nếu cơ quan lập pháp xâm phạm ông ta thì sẽ trở thành chuyên chế và như vậy là không còn tự do”[15]. Ở đây cần hiểu là nếu là ông vua hay một Tổng thống, Thủ tướng nắm quyền hành pháp thì họ phải có được quyền miễn tố khi đang tại nhiệm.

5) Luận điểm thứ năm: Quyền tư pháp không có vị trí cao như lập pháp và hành pháp nhưng cần độc lập.

Mông-te-ski-ơ chỉ rõ vai trò to lớn của pháp quan, và chỉ ra rằng, khác với chính thể ở Italia, trong các chính thể chuyên chế châu Á, “đông đảo số lượng các pháp quan đã làm dịu bớt phương thức cầm quyền” tức là làm giảm tính chất chuyên chế.

Theo ông, Tòa án phải độc lập, “quyền xét xử không gắn với một cơ quan nào” và “trở thành như vô hình, như là con số không”, dân chúng “sợ cơ chế cai trị” chứ không phải là “sợ các quan cai trị”[16]. Theo ông, “quyền tư pháp không nên kết hợp với quyền nào” (trừ ngoại lệ là khi truy tố nhà quý tộc thì không đưa ra xử ở tòa án thường mà đưa ra một bộ phận của cơ quan lập pháp xử)[17].

Về tổ chức tòa án: “Quyền phán xét không nên giao cho Viện Nguyên lão thường trực mà do những người trong đoàn thể dân chúng cử ra trong thời gian một năm để lập thành toà án, làm việc bao lâu tùy theo sự cần thiết”[18]. Như vậy là Mông-te-ski-ơ muốn nói đến tòa án bồi thẩm đoàn, một thứ “Tòa án không nên cố định”[19]. Ông chủ trương bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án: “Các thẩm phán phải ngang địa vị như bị cáo hoặc những người đồng đẳng với bị cáo, để người bị cáo không nghĩ rằng mình đang nằm trong tay những kẻ sẵn sàng làm hại mình”[20]. Mông-te-ski-ơ chủ trương bảo đảm quyền chọn luật sư bào chữa trong các vụ hình sự lớn. Theo ông, trong các vụ hình án lớn, bị cáo phải được tự chọn luật sư bào chữa cho mình, hoặc ít ra có quyền từ chối luật sư đã được chỉ định mà bị cáo không thích[21].

6) Luận điểm thứ sáu: Quyền lập pháp và hành pháp là cân bằng, vừa có mối quan hệ phối hợp vừa kiềm chế lẫn nhau.

Mông-te-ski-ơ cho rằng, không chỉ phân định các quyền mà quan trọng hơn là “cần phải thiết lập một trật tự mà theo đó các quyền lực có thể kiềm chế lẫn nhau”[22]. Ngay trong quyền lập pháp cũng cần có kiềm chế “Quyền lập pháp gồm hai bộ phận ràng buộc nhau bằng chức năng ngăn cản bên này đối với bên kia”. Còn giữa lập pháp và hành pháp thì “cả hai bộ phận của lập pháp đều bị ràng buộc bằng quyền hành pháp, mà quyền hành pháp cũng bị ràng buộc bởi quyền lập pháp”.

Mông-te-ski-ơ viết “Quyền lập pháp thể hiện ý chí chung của quốc gia, quyền hành pháp chỉ thực hiện ý chí đó”[23]. Tuy nhiên “không nên để cho quyền lực lập pháp có được chức năng ngăn cản quyền lực hành pháp, vì quyền hành pháp có những giới hạn theo bản chất của nó, bao giờ cũng chỉ giải quyết những công việc nhất thời”[24]. Mặc dù vậy, ông cho rằng cần có sự giám sát của lập pháp đối với hành pháp: “Trong một nước tự do, nếu cơ quan lập pháp không có quyền ngăn cản cơ quan hành pháp thì nó phải có chức năng xem xét các đạo luật đã ban hành được thực hiện như thế nào”[25]. Như vậy quyền lập pháp không nên ngăn cản hành pháp nhưng có quyền giám sát hành pháp trong việc thực thi pháp luật.

“Trong ba thứ quyền lực thì quyền tư pháp dường như không là cái gì cả; còn hai quyền lập pháp và hành  pháp lại cần có một một uy lực điều chỉnh để dung hòa; mà bộ phận lập pháp gồm các nhà quý tộc là thích đáng để phát huy tác dụng điều hòa này”[26]. Quyền lập pháp liệu có thể “hạ mình trước tòa án luật định thấp kém hơn quyền lập pháp được không”[27]. Như vậy, đối với Mông-te-ski-ơ, sự kiểm soát giữa lập pháp và hành pháp mới là chủ yếu.

Mông-te-ski-ơ kết luận: “Đây là cấu trúc cơ bản của chính thể mà ta đang nói tới: Cơ quan lập pháp có hai bộ phận ràng buộc với nhau bằng chức năng ngăn cản bên này đối với bên kia. Cả hai bộ phận đều bị ràng buộc bởi quyền hành pháp, mà quyền hành pháp cũng bị ràng buộc bởi quyền lập pháp”[28].

Tuy nhiên, trong khi kiểm soát lẫn nhau thì chúng vẫn phải phối hợp với nhau: “Cả ba  quyền lực này do ràng buộc lẫn nhau mà dường như nghỉ ngơi và bất động. Tuy nhiên vì tính tất yếu của sự vật và vận động, nên cả ba quyền lực vẫn buộc phải đi tới, mà đi tới một cách nhịp nhàng”[29].

Cần nhấn mạnh một điều: Mông-te-ski-ơ không đưa ra được mô hình rõ ràng về cơ chế kiểm soát, kiềm chế lẫn nhau giữa ba quyền cũng như quy chế truy xét trách nhiệm của các quyền khi không thực hiện được vai trò của mình. Cơ chế kiềm chế, đối trọng phải đợi đến Hiến pháp Mỹ 1787 mới trở thành hiện thực.

Đáng lưu ý là Mông-te-ski-ơ không quan tâm nhiều đến thứ bậc của các quyền lực như J.Lốc[30]. Nếu J.Lốc chủ trương Nghị viện phải có vị trí cao hơn vì “chỉ có duy nhất một loại quyền lực tối cao đó là quyền lập pháp, các quyền khác cần phải phụ thuộc quyền lập pháp”[31], thì Mông-te-ski-ơ chủ trương vừa phân công, phối hợp nhưng lại có sự kiểm soát quyền lực lẫn nhau phù hợp với tính chất hoạt động của chúng. Ông không chỉ rõ cơ quan nào có quyền cao hơn, đứng trên các cơ quan khác mà là làm sao chúng phải thực hiện đúng chức năng của mình.

Một điểm đáng lưu ý khác là trong khi xác định có ba thứ quyền lực thì Mông-te-ski-ơ  không xác định rõ các quyền lực đó có thuộc về một thứ quyền lực thống nhất và duy nhất nào đó hay không? Lúc bấy giờ Mông-te-ski-ơ chỉ chú ý đến quyền lực của nhà vua mà không khẳng định quyền lực đó thuộc về nhân dân.

Về điểm này, J.Lốc triệt để hơn Mông-te-ski-ơ. Tư tưởng về quyền lực nhà nước là thống nhất trong sự phân công thực hiện quyền lực  nhà nước của J.Lốc thể hiện tập trung trong tác phẩm “Chuyên luận thứ hai về chính phủ” (1690).

Theo J.Lốc, chỉ có một thứ quyền lực thống nhất đó là quyền lực nhà nước, nhưng quyền lực thống nhất đó phải được phân công cho các cơ quan nhà nước khác nhau. J.Lốc cho rằng “về bản chất, quyền lực nhà nước thống nhất là đương nhiên dù trong chính thể quân chủ, quý tộc hay dân chủ. Còn sự phân công không hề mâu thuẫn với tính thống nhất của quyền lực, đó chỉ là cách thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước mà thôi”[32].

Điểm khác thứ hai trong quan điểm của J.Lốc là: Trong các quyền của quyền lực nhà nước thống nhất thì vị trí tối cao thuộc về quyền lập pháp.

Đây là điểm nổi bật trong quan niệm về phân quyền của J.Lốc, khác với Mông-te-ski-ơ. J.Lốc khẳng định: “Mặc dù trong một nhà nước hợp hiến, dựa trên nguyên tắc của chính nó và hành động phù hợp bản chất của nó, tức là hành động vì sự bảo vệ xã hội thì chỉ có duy nhất một loại quyền lực tối cao đó là quyền lập pháp, các quyền khác cần phải phụ thuộc quyền lập pháp”[33], “bởi lẽ quyền lập pháp là quyền được tín nhiệm bởi nhân dân và do đó nhân dân có quyền tối cao trong việc bãi bỏ hoặc thay thế quyền lập pháp”[34].

Để không xảy ra tình trạng sử dụng quyền lực một cách độc tài, J.Lốc giải thích thêm: “phải xây dựng những nguyên tắc về mối quan hệ và tương hỗ giữa các bộ phận của quyền lực nhà nước thống nhất. Hệ thống đó phải có tính thứ bậc, trong đó vị trí thứ nhất phải là quyền lập pháp, sau đó các quyền khác phải phục tùng lập pháp nhưng không phải một cách thụ động mà  phải có sự tác động tích cực trở lại đối với lập pháp”[35]. Bằng cách nói như vậy, J.Lốc đã đề cao nghị viện (là thiết chế dân chủ đại diện cho quyền lực của giai cấp tư sản) trong cơ chế phân quyền nhưng lại không công khai đòi hỏi phải xóa bỏ chính thể quân chủ. “Quan điểm về phân quyền với việc đề cao Nghị viện đã phản ánh thái độ của  J.Lốc trước kết quả của cách mạng tư sản Anh năm 1688 là cuộc cách mạng mà giai cấp tư sản không giành được thắng lợi hoàn toàn”[36]. Nói cách khác, J.Lốc “đã phải chấp nhận sự thỏa hiệp giữa một bên là giai cấp tư sản Anh vừa giành thắng lợi nhưng không triệt để với bên kia là tầng lớp quý tộc Anh tuy không còn vị trí độc quyền nhưng vẫn còn nhiều quyền lực trong bộ máy chính phủ”[37].

Như vậy, đối với J.Lốc, quan điểm về quyền lực nhà nước thống nhất và vấn đề phân công các chức năng cho lập pháp, hành pháp là hai vấn đề được ông xác định rõ ràng. Có lẽ về điểm này (tức tính thống nhất của quyền lực nhà nước trong sự phân công các chức năng của quyền lực nhà nước) J. Lốc thể hiện quan điểm rõ ràng và dứt khoát hơn Mông-te-ski-ơ.

1.2. Đối chiếu với tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 1992

1) Có các cơ quan khác nhau trong bộ máy nhà nước Việt Nam để thực hiện “ba thứ quyền lực”là  quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp.

Từ Hiến pháp Việt Nam dân chủ cộng hòa trước đây đến các bản Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam hiện nay, trong khi quy định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND) theo nguyên tắc tập quyền XHCN thì đều quy định các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng khác nhau gồm Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân (TAND), Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND), HĐND, Ủy ban nhân dân (UBND).

Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan này thực chất là thẩm quyền để thực hiện ba chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp của quyền lực nhà nước thống nhất, mặc dù mãi đến khi sửa đổi năm 2001, Hiến pháp 1992 mới ghi ba quyền này.

Trong bộ máy nhà nước Việt Nam, ba thứ quyền lực chính là ba chức năng, hay ba loại hoạt động của nhà nước nhằm thực hiện quyền lực nhà nước theo đường lối chính sách của Đảng, phù hợp ý chí của nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đáng tiếc là Hiến pháp 1992 không xác định rõ cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp là cơ quan nào mà đây lại là điều quan trọng nhất cho thấy sự phân công các quyền.

2) Về quyền lập pháp: Quốc hội Việt Nam cũng có các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của một cơ quan lập pháp như Mông-te-ski-ơ mô tả. Các nhiệm vụ, quyền hạn về lập pháp được Hiến pháp và luật quy định. Quốc hội do nhân dân trực tiếp bầu ra, Quốc hội cũng giám sát hành pháp nhưng không có cơ cấu hai viện như ý tưởng của Mông-te-ski-ơ.

3)  Về quyền hành pháp: Quyền hành pháp ở Việt Nam được giao cho Chính phủ, nhưng Chính phủ là một tập thể, đứng đầu là Thủ tướng. Vì Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể và theo nguyên tắc tập trung dân chủ nên không giống với ý niệm của Mông-te-ski-ơ.

Một điểm nữa là “con người hành pháp” ở Việt Nam lại là Đại biểu Quốc hội, tức đồng thời là “con người của lập pháp”, như thế là “nhập làm một” và “nhúng tay vào cả quyền này và quyền kia”, sẽ không khách quan và khó truy xét trách nhiệm.

Chủ tịch nước có tham gia vào quyền hành pháp nhưng không phải là người đứng đầu hành pháp nên không theo mô hình hành pháp một người như ý tưởng của Mông-te-ski-ơ.

4) Về quyền tư pháp: Tòa án Việt Nam được xác định là cơ quan xét xử các loại án, là cơ quan tư pháp, Chánh án TAND tối cao do Quốc hội bầu, thẩm phán do Chủ tịch nước bổ nhiệm, khi xét xử thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, quyền bào chữa được bảo đảm, thực hiện chế độ hội thẩm nhân dân… Như vậy có thể nói, những ý niệm của Mông-te-ski-ơ cũng đã thể hiện trong tổ chức và hoạt động tư pháp của TAND Việt Nam, nhất là khi thực hiện chức năng xét xử, Tòa án độc lập với Quốc hội và Chính phủ.

Tuy nhiên, khác với ý niệm của Mông-te-ski-ơ và tòa án tư sản, Tòa án Việt Nam phải báo cáo công tác trước Quốc hội; ngoài ra, không có Tòa án Hiến pháp hay giao cho Tòa án tối cao kiểm soát Quốc hội và Chính phủ như Toà án tối cao Mỹ, hay Tòa án Hiến pháp của các nước khác, Tòa án không có quyền phán xét tính hợp hiến của quyết định lập pháp hay quyết định hành pháp, Tòa án cũng không giải quyết tranh chấp giữa lập pháp và hành pháp, không xét xử các vụ vi hiến khi công dân yêu cầu…

5) Về Chủ tịch nước: Chủ tịch nước được xác định là người đứng đầu nhà nước, không nắm quyền hành pháp như Chủ tịch nước theo Hiến pháp 1946 nên quyền lực của Chủ tịch nước mang tính thủ tục, nghi lễ nhiều hơn.

6) Về VKSND: Chức năng kiểm sát là một chức năng độc lập, nhưng cũng không nằm ngoài nguyên tắc tập quyền XHCN.

7) Về tính độc lập giữa các quyền: Bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay cũng xây dựng trên cơ sở bảo đảm tính độc lập trong hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, TAND, VKSND cũng như HĐND và UBND ở địa phương.

Tính độc lập ở đây thể hiện qua chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng cơ quan phù hợp với vị trí, tính chất, vai trò của chúng[38]. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thì các cơ quan phải độc lập. Tính độc lập này là tất yếu của sự phân công lao động quyền lực, nhưng vì là tập quyền XHCN và tập trung dân chủ nên tất cả các cơ quan khác đều chịu sự giám sát và báo cáo công tác trước Quốc hội.

8) Về cân bằng và kiềm chế, đối trọng giữa các quyền: Trong bộ máy nhà nước Việt Nam, các cơ quan nhà nước độc lập với nhau trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn nhưng cần phải có sự phối hợp với những hình thức phù hợp với  nguyên tắc tập quyền XHCN và tập trung dân chủ. Phối hợp nhưng không phải là kiềm chế, đối trọng hay để cân bằng quyền lực.

Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, TAND tối cao không có quyền cân bằng và kiềm chế, đối trọng quyền lực với Quốc hội, Chủ tịch nước không có quyền phủ quyết dự luật của Quốc hội, không có quyền giải tán Quốc hội và Chính phủ. Chính phủ cũng không có quyền giải tán Quốc hội.

Ngược lại, Quốc hội là cơ quan bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao.

Tòa án không kiểm soát Quốc hội và Chính phủ. Tòa án không có quyền phán quyết về tính hợp hiến trong các đạo luật của Quốc hội, hoặc các quyết định  của Chủ tịch nước và Chính phủ, chỉ có quyền phán xét tính hợp pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính từ cấp Bộ trở xuống theo thủ tục tố tụng hành chính.

II. NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

1. Khác với J.Lốc trước đó và J. Rút-xô sau này, trong “Tinh thần pháp luật” Mông-te-ski-ơ không nói đến tính thống nhất và duy nhất của quyền lực nhà nước, vì lúc đó ông tập trung chủ yếu vào chính thể quân chủ của nước Anh nên khái niệm chủ quyền nhân dân, quyền lực thuộc về nhân dân không được ông lưu ý. Việc nghiên cứu phân quyền của ông vẫn dựa trên mô hình chính thể quân chủ nước Anh (Hiến pháp nước Anh).

2. Sự đối chiếu trên đây cho thấy bộ máy nhà nước Việt Nam đã có sự phân công giữa “ba thứ quyền lực” theo như cách gọi của Mông-te-ski-ơ, đó là lập pháp, hành pháp, tư pháp. Ba  thứ quyền lực này tuy không được Hiến pháp 1992 chỉ rõ do các cơ quan nào thực hiện, nhưng có thể hiểu là trao cho Quốc hội, Chính phủ và Tòa án. Quyền tư pháp là quyền có nhiều điểm tương đồng nhất với ý tưởng của Mông-te-ski-ơ.

3. Tuy nhiên, giữa nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay và quan điểm phân quyền của Mông-te-ski-ơ chủ yếu vẫn là những điểm khác biệt mang tính nguyên tắc, trong đó quan trọng nhất là không có sự cân bằng và kiềm chế, đối trọng giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp mà chỉ có sự giám sát của Quốc hội đối với các cơ quan nhà nước khác. Các cơ quan nhà nước đều do Quốc hội thành lập ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, do đó bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay hoàn toàn tổ chức theo nguyên tắc tập quyền XHCN[39].

4. Vì vậy, đối với Việt Nam hiện nay, vấn đề không phải là tiếp thu phân quyền, mà ngược lại, cần nhấn mạnh tập quyền XHCN, nhưng tập quyền với cách hiểu đúng đắn hơn, cụ thể là:

a) Quyền lực nhà nước chỉ thuộc về nhân dân, quyền lực nhà nước đó là thống nhất và duy nhất, không ai có quyền chiếm đoạt quyền lực đó.

b) Quyền lực nhà nước được nhân dân thực hiện trực tiếp thông qua trưng cầu dân ý và thông qua các cơ quan nhà nước (mọi cơ quan nhà nước chứ không chỉ thông qua cơ quan đại biểu).

c) Quốc hội Việt Nam hiện nay không toàn quyền (và Xô viết tối cao Liên Xô trước đây cũng không toàn quyền), mà chỉ là cơ quan nhà nước tối cao.

“Điều đương nhiên là, bất cứ cơ quan nhà nước nào cũng có những quyền hạn mang tính quyền lực nhà nước, và vì vậy đều thực hiện quyền lực nhà nước chứ không riêng gì Quốc hội và HĐND. Vấn đề chỉ là ở chỗ: cơ quan nào có quyền xác định phạm vi các quyền hạn đó. Vị trí pháp lý, vai trò của cơ quan nhà nước được Hiến pháp và luật quy định, từ đó chúng thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo Hiến pháp chứ không phải là một phần chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Quốc hội là cơ quan tối cao của nhà nước, nhưng không thể là toàn quyền và độc quyền. Quyền lực tối cao của Quốc hội không xuất phát từ tính thống nhất của quyền lực nhà nước mà vì đây là cơ quan được nhân dân trao cho trách nhiệm phản ánh ý chí của nhân dân vào luật và giám sát việc tuân thủ luật”. Do đó “Nên từ bỏ quan niệm nhân dân chỉ thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan đại biểu, mà bổ sung vào Hiến pháp tuyên bố: Quyền lực nhà nước là thống nhất và không phân chia, thuộc về nhân dân và được thực hiện trực tiếp và thông qua các cơ quan nhà nước”[40].

Như vậy Hiến pháp nên xác định Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan lập pháp của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

d) Cần chuyển Quốc hội sang hoạt động thường xuyên

 Để Quốc hội thực hiện tốt vai trò là cơ quan lập pháp thì cần đổi mới hoạt động của Quốc hội theo hướng “chuyển Quốc hội sang hoạt động thường xuyên”[41] như nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười đã nói cách đây hai mươi năm.

Quốc hội chuyển sang hoạt động thường xuyên không chỉ bằng cách bố trí đại biểu chuyên trách nhiều hơn, vì hoạt động của đại biểu chuyên trách chưa thật đúng nghĩa là hoạt động đại biểu vì hình thức hoạt động của Đại biểu Quốc hội chủ yếu là tại kỳ họp và tại các Ủy ban, trong đó tại kỳ họp là chủ yếu.

Quốc hội sẽ hoạt động thường xuyên một khi chúng ta quan niệm  đúng về hoạt động lập pháp, về luật và văn bản dưới luật.

Mặt khác, tập quyền XHCN đòi hỏi Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội, Quốc hội phải giám sát được hoạt động của Chính phủ, mà muốn giám sát tốt thì Quốc hội và các Ủy ban cũng phải dành thêm nhiều thời gian hơn nữa.

 đ )Về khả năng thành lập nghị viện hai viện.

Quốc hội Việt Nam có thể cơ cấu hai viện như nhiều nước khác trên thế giới, mà không trái với tính chất của thể chế chính trị hiện hành. Cơ cấu Thượng viện với “chức năng ngăn cản” sẽ góp phần quan trọng bảo đảm cho các đạo luật được xây dựng tốt hơn, và chức năng giám sát đối với Chính phủ có thể cũng sẽ tốt hơn vì chủ yếu giao cho Thượng viện, giám sát của Thượng viện là giám sát mang tính chính trị, còn Hạ viện sẽ chuyên tâm cho việc làm luật. Như vậy cũng không trái với tập trung dân chủ.

Cơ cấu thành viên của Thượng viện có thể sẽ gồm những nhà lãnh đạo có uy tín, từng giữ các chức vị chủ chốt của Đảng và Nhà nước ở trung ương hoặc địa phương, nhưng không quá 70 tuổi khi được bầu, có thể đã nghỉ hưu, được chọn từ các địa phương theo một  tỷ lệ nhất định, khoảng 2 người từ một tỉnh, thành phố  trực thuộc trung ương.

Hạ viện và Thượng viện làm việc riêng rẽ như Mông-te-ski-ơ quan niệm. Nhưng khác với nhìn nhận của Mông-te-ski-ơ, Hạ viện cần làm việc thường xuyên hơn, còn Thượng viện chỉ làm việc trong một giới hạn thời gian nhất định, và chỉ quyết định ít vấn đề nhưng là những vấn đề rất quan trọng, chẳng hạn như phê bình Chính phủ, quyết định các dự án,…

5. Quy định Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất

Chủ tịch nước, Chính phủ, TAND tối cao, VKSND tối cao cũng như mọi cơ quan nhà nước ở địa phương thực hiện nhiệm vụ của mình về bản chất là chấp hành Hiến pháp và pháp luật, thực hiện ý chí của nhân dân chứ không phải là chấp hành ý chí  riêng của Quốc hội. Bản thân Quốc hội cũng phải chấp hành Hiến pháp và luật, nhưng Chính phủ giữ vai trò chủ yếu trong thi hành pháp luật.

 Vì Nhà nước ta đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng nên Chính phủ ta khác với hành pháp tư sản là không quyết định chính sách chung về đối nội, đối ngoại, nhưng chức năng tổ chức thi hành pháp luật là rất rõ ràng (tức trong mối liên hệ với Hiến pháp và pháp luật) thể hiện mối quan hệ của Chính phủ với luật. Nếu Hiến pháp do nhân dân phúc quyết thông qua thì càng cho thấy Chính phủ chỉ chấp hành Hiến pháp chứ không phải là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Vì vậy, nên xác định dứt khoát quyền hành pháp thuộc Chính phủ, hoặc Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất chứ không phải là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Vì sao là hành pháp cao nhất? Là vì Việt Nam không phân quyền nên Chính phủ và UBND các cấp tạo nên hệ thống hành pháp thống nhất, theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Ở các nước có cơ quan hành pháp của chính quyền trung ương và cơ quan hành pháp của chính quyền địa phương nhưng không phải là hệ thống thống nhất vì theo nguyên tắc phân quyền (ví dụ Liên bang Nga).

6. Về chế định Chủ tịch nước

Hình thức chính thể của Việt Nam là chính thể nghị viện. Thẩm quyền của Chủ tịch nước không lớn, quyền lực thực tế của Quốc hội Việt Nam lại quá thấp so với vị trí  pháp lý và thẩm quyền hiến định cho nên trên thực tế quyền lực nhà nước tập trung vào Chính phủ. Chính phủ và hệ thống cơ quan hành chính của Việt Nam có nhiều điều kiện để tha hóa hơn các cơ quan khác.

Với ý nghĩa đó, cùng với việc tăng cường vai trò, vị trí của Quốc hội thì cần thiết kế một vị trí Chủ tịch nước mạnh. Không phải mạnh về tham gia lập pháp, hay tham gia quyết định chính sách, vấn đề đó đã có sự lãnh đạo của Đảng, mà mạnh về khả năng kiểm soát hành pháp. Cần quy định Chủ tịch nước có quyền chủ tọa các phiên họp của Chính phủ khi cần thiết, Chính phủ phải báo cáo thường xuyên với Chủ tịch nước. Một khi Chủ tịch nước thống lĩnh các lực lượng vũ trang và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh[42] thì hai bộ là Bộ Quốc phòng và Bộ Công an nên trực thuộc Chủ tịch nước.

 Điều này không có nghĩa là gây cản trở cho hành pháp, vấn đề chỉ là ở chỗ, hành pháp phải bị kiểm soát thực sự. Còn nếu thẩm quyền của Chính phủ có điểm nào chưa phù hợp thì phải điều chỉnh, hai vấn đề này là khác nhau.

7. HĐND các cấp nên gọi là cơ quan đại biểu của nhân dân ở địa phương, UBND là cơ quan hành pháp ở địa phương

Như vậy không gọi HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương như hiện nay, và dĩ nhiên không thể là cơ quan lập pháp như ở các tiểu bang hay các tỉnh (như ở các nước theo cơ chế phân quyền). HĐND cùng UBND hợp thành chính quyền địa phương các cấp, đều có trách nhiệm thi hành pháp luật ở địa phương. Tuy nhiên chỉ nên gọi UBND là cơ quan hành pháp ở địa phương. Cơ quan hành pháp địa phương vẫn trực thuộc cơ quan hành pháp trung ương và cơ quan đại biểu ở địa phương để phù hợp với nguyên tắc tập trung dân chủ.

8. Nên thành lập Tòa án hiến pháp không?

Nhu cầu về một cơ quan tài phán hiến pháp là có thật, mặc dù thiết lập một tòa án như thế có thể sẽ trái với nguyên tắc tập quyền XHCN. Vì vậy, cần phải được nghiên cứu kỹ hơn. Tuy nhiên, có thể nêu một số gợi ý sau đây để tổ chức và hoạt động của Tòa án hiến pháp vẫn tuân theo nguyên tắc tập quyền XHCN:

a) Về thẩm quyền tài phán:

Thứ nhất, Tòa án hiến pháp (hay Hội đồng bảo hiến) chỉ xem xét và quyết định về tính hợp hiến của các văn bản của Chính phủ, các Bộ, HĐND, UBND, TAND và VKSND, không phán quyết về các văn bản của Quốc hội, UBTVQH và Chủ tịch nước, lưu ý là xem xét tính hợp hiến chứ không phải hợp luật.

Thứ hai, Tòa án hiến pháp có quyền giải thích hiến pháp.

Thứ ba, Tòa án hiến pháp có quyền cấm các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoạt động trong một thời gian nhất định (không phải là tổ chức chính trị - xã hội) khi có hành vi vi hiến.

Thứ tư, Tòa án hiến pháp có quyền giải quyết các tranh chấp, khiếu nại về hành vi vi hiến của cơ quan công quyền, v.v.. nhưng không thể có thẩm quyền lớn như các nước dân chủ phi XHCN[43].

b) Về vai trò, vị trí, tính chất: Tòa án hiến pháp không phải là thiết chế của quyền lực chính trị mà là cơ quan tài phán, thực hiện chức năng tư pháp. Tòa án hiến pháp độc lập khi xét xử.

c) Về cách thực hoạt động: giải quyết các vụ việc công khai theo thủ tục tố tụng hiến pháp, bảo đảm các nguyên tắc bình đẳng, công khai, tranh tụng, quyết định theo đa số…

 d) Về Quyết định của Tòa án hiến pháp: Quyết định của Tòa án hiến pháp không phải là bản án mà là Quyết định. Nếu Quyết định không được thông qua bằng 100% phiếu thì phải công bố kèm theo ý kiến của thẩm phán thuộc phía thiểu số.

đ) Về hiệu lực của quyết định của Tòa án hiến pháp: Phán quyết của Tòa án hiến pháp về tính hợp hiến của của các cơ quan từ Chính phủ trở xuống (Chính phủ, Tòa án, Viện Kiểm sát, Chính quyền địa phương) có thể bị Chủ tịch nước yêu cầu xem xét lại nếu có căn cứ. Phán quyết lần thứ hai của Tòa án hiến pháp là quyết định có hiệu lực pháp luật. Cơ chế này chỉ là để kiểm tra, đề phòng trường hợp Tòa án hiến pháp có sai lầm, chứ không phải là cấp xét xử kiểu phúc thẩm.

e) Thẩm phán Tòa án hiến pháp:  Có thể gồm các thẩm phán chuyên nghiệp và các nhà luật học, có trình độ hiểu biết Hiến pháp và pháp luật cao; số lượng khoảng 15 thẩm phán. Thẩm phán không do Chủ tịch nước bổ nhiệm mà do UBTVQH cử và Quốc hội phê chuẩn để cũng phù hợp với nguyên tắc tập quyền XHCN.

Như vậy, mô hình Tòa án hiến pháp với thẩm quyền có giới hạn (tức không xem xét các Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh và Nghị quyết của UBTVQH, Quyết định của Chủ tịch nước) là phù hợp với nguyên tắc tập quyền XHCN. Đó là Tòa án hiến pháp kiểu mới - Tòa án Hiến pháp XHCN.

9. Về Viện Kiểm sát

Việc bỏ chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát có lẽ là một sự vội vàng. Viện kiểm sát của Việt Nam không thể trở thành cơ quan công tố đảm nhiệm chức năng điều tra của cơ quan điều tra như ở các nước. Mô hình Viện Kiểm sát của Liên Xô (mà Việt Nam làm theo) hiện nay đang được Liên bang Nga tiếp tục tăng cường. Điểm khác cơ bản của Viện Kiểm sát Nga là ở chỗ: Viện Kiểm sát là cơ quan điều tra chủ yếu chứ không phải cơ quan cảnh sát, trừ các tội xâm phạn an ninh quốc gia.

Như vậy Viện kiểm sát Nga thực sự vừa là cơ quan điều tra vừa là cơ quan công tố, đồng thời vẫn tiếp tục thực hiện chức năng kiểm sát chung và kiểm sát hoạt động tư pháp.

 Viện Kiểm sát Việt Nam không có vai trò lớn như vậy nhưng nay lại bỏ chức năng kiểm sát chung là một sự tiếp thu kinh nghiệm (từ ai đó) một cách nóng vội.

Vì vậy, nên xem xét lại, nếu không phục hồi toàn bộ chức năng kiểm sát chung thì cần phải tăng cường vai trò kiểm sát của Viện Kiểm sát trong một số lĩnh vực. Luật Xử lý vi phạm hành chính vừa được thông qua lẽ ra nên quy định sự tham gia bắt buộc của Viện Kiểm sát như kinh nghiệm của  Liên bang Nga, vì đây là lĩnh vực xâm phạm lớn và trực tiếp quyền và lợi ích của cá nhân, tổ chức (mức phạt đến cả tỷ đồng), có sự tham gia của Viện Kiểm sát là vô cùng cần thiết. Ở Liên bang Nga, Viện Kiểm sát không chỉ tham gia mà còn có quyền kháng nghị quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Như vậy, Hiến pháp nên quy định lại chức năng của Viện Kiểm sát theo hướng: nếu không khôi phục chức năng kiểm sát chung thì cũng nên có quy định mở, nghĩa là ngoài chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp thì Viện Kiểm sát còn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong những lĩnh vực được luật quy định. Nói cách khác, Quốc hội có thể giao cho Viện kiểm sát thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong những lĩnh vực xét thấy cần thiết[44]./.

* [1] Charles Louis Montesquieu (1689 - 1755), nhà văn, nhà triết học, xã hội học và sử học Pháp. Những tác phẩm chính: "Những bức thư Ba Tư" (1721), "Suy nghĩ về nguyên nhân thịnh suy của người La Mã" (1734), "Về tinh thần của luật pháp" (1748) (Wikipedia).

[2] S. Mông-te-ski-ơ, Tinh thần pháp luật, (Bản dịch của Hoàng Thanh Đạm), Nxb. Đà Nẵng, 2010, tr.100

[3] S. Mông-te-ski-ơ, Sđd, tr.101

[4] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.103.

[5] Quan điểm này của Mông-te-ski-ơ cơ bản giống với quan điểm của J. Lốc (1632-1704) là người sống trước Mông-te-ski-ơ (1689-1755) nửa thế kỷ. Trong tác phẩm “Về chính phủ dân sự” J. Lốc viết: “Vì lợi ích của xã hội mà quyền lực nhà nước phải được phân định và tách biệt cho các cơ quan khác nhau: Quyền làm luật (quyền lập pháp) phải thuộc về cơ quan đại biểu của nhân dân - Nghị viện. Thẩm quyền đưa pháp luật vào thi hành (quyền hành pháp) thuộc về nhà vua và chính phủ[5]. Về lập trường chính trị, Lốc vẫn coi trọng nhà vua, không yêu cầu lật đổ nhà vua, mà còn cho rằng quyền hành pháp trước hết cần trao cho nhà vua. Đây chính là cơ sở để cho rằng J. Lốc là người đã bào chữa cho sự thỏa hiệp giữa giai cấp tư sản Anh non trẻ với nền quân chủ còn đầy quyền lực của nước Anh lúc đó, và J.Lốc được coi là “người đại diện cho tư tưởng thỏa hiệp trong cuộc cách mạng tư sản Anh 1688”. Ngoài ra J.Lốc còn quan niệm “ngoài quyền lập pháp và quyền hành pháp còn có quyền liên minh (tức quyền thiết lập quan hệ bang giao với nước ngoài)” và J.Lốc “đưa quyền tư pháp vào quyền hành pháp”[5]. Như vậy, J.Lốc chỉ nói đến phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và quyền bang giao chứ chưa nói đến quyền tư pháp, do đó chưa có ý niệm về quyền tư pháp và việc tách biệt quyền này với các quyền lập pháp và hành pháp.  J.Lốc “không quan tâm nhiều đến hình thức chính thể (dân chủ hay quân chủ) mà quan trọng là “làm sao có được sự cân bằng quyền lực, bằng cách giao các bộ phận riêng biệt của quyền lực nhà nước cho những người khác nhau”.

[6] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.105.

[7] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.106.

[8] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.105.

[9] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.114.

[10] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.110.

[11] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.110.

[12] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.110.

[13] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.109.

[14] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.109.

[15] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.111.

[16] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.105.

[17] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.112.

[18]Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.104.

[19] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.105.

[20] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.105

[21] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.105

[22] Nhe-rơ-se-xian V.X, Lịch sử các học thuyết chính trị-pháp lý (Tiếng Nga), tr. 288.

[23] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.105.

[24] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.111.

[25] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.111.

[26] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.108.

[27] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.112.

[28] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.113.

[29] Tinh thần pháp luật, Sđd, tr.113.

[30] John Locke (1632–1704): nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh. Ông là nhà triết học theo trường phái chủ nghĩa kinh nghiệm Anh trong lĩnh vực nhận thức luận. Ông cũng phát triển lý thuyết về khế ước xã hội, vai trò của nó tới chức năng và nguồn gốc nhà nước. Ông là một nhà tư tưởng lớn của phong trào Khai sáng và có ảnh hưởng trực tiếp tới cuộc Cách mạng Mỹ và bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ (Wikipedia).

[31] Nhe-rơ-se-xian V.X, Sđd, tr.277.

[32] Nhe-rơ-se-xian V.X, Sđd, tr.274.

[33] Nhe-rơ-se-xian V.X, Sđd, tr.277.

[34] Dịch từ tiếng Nga theo Mar-tren-cô  M.N: Lý luận Nhà nước và Pháp luật (Tiếng Nga). Nxb “Iu-ri-di-tre-xkai-a Li-te-ra-tu-ra ». M. 1996, tr.200-201

[35] Nhe-rơ-se-xian V.X, Sđd. tr 274

[36] Nhe-rơ-se-xian V.X, Sđd. tr 277.

[37] Nhe-rơ-se-xian V.X,  Sđd. tr. 274

[38] Riêng Hiến pháp 1946 thì Nguyên thủ quốc gia đồng thời là người đứng đầu hành pháp, dưới nguyên thủ quốc gia là Chính phủ - nội các - tương tự như mô hình của Cộng hòa Pháp theo Hiến pháp 1958 và một số nước khác.

[39] PGS.TS.Vũ Thư viết: “Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước trong quy định tại Điều 2 của Hiến pháp vẫn là nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa”. Theo ông, điều này được thể hiện ở ba khía cạnh: 1) Xem xét chức năng của Quốc hội được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 ( sửa đổi) có thể thấy Quốc hội là cơ quan có quyền lớn nhất và có khả năng chi phối các quyền hành pháp và quyền tư pháp; 2) Điều 6 của Hiến pháp 1992 ghi rằng: “Quốc hội, HĐND và các cơ quan khác của Nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ” và 3) Tính độc lập của quyền hành pháp và quyền tư pháp khá là hạn chế nếu so với các nhà nước quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân quyền”[39].

[40] Nguyễn Cảnh Hợp: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam- Những vấn đề quá độ sang nghị viện; T/c Nhà nước và Pháp luật, số 6-1998, Mat-xcơ-va, 1998.Tr. 91-92. (Tiếng Nga).

[41] Đỗ Mười: Phát biểu tại Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương XII ( tháng 2/1992).

[42] Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 1992.

[43] Chẳng hạn như: Theo Hiến pháp Thái Lan, Tòa án hiến pháp có quyền giải tán đảng chính trị (như Đảng  Puea Thái có nguy cơ bị giải tán nếu quá trình  yêu cầu sửa đối hiến pháp là vi phạm luật), Tòa án hiến pháp Thái Lan trong tháng 6/2012 đã ra lệnh cho Quốc hội ngưng xem xét sửa đổi hiến pháp trước khi có kết luận tiến trình này là hợp pháp. Hoặc ngày 29/6/2012 Tòa án tối cao Mỹ đã phán quyết Luật Cải cách y tế do Tổng thống Obama đệ trình  và được Quốc hội thông qua là hợp hiến mặc dù bị các bang do Đảng cộng hòa kiểm soát phản đối, yêu cầu Tòa án tối cao Mỹ bãi bỏ; Hoặc Tòa án tối cao Ai-cập vừa bãi bỏ sắc lệnh khôi phục Quốc hội của Tổng thống M. Morsi vốn đã bị phe quân đội giải tán trước đó…

[44] Xem thêm: Nguyễn Cảnh Hợp, Pháp luật xử lý vi phạm hành chính của Liên bang Nga và một số kinh nghiệm đối với Việt Nam. Trong sách: Văn hóa pháp luật và những ứng dụng chuyên ngành. Chủ biên: GS.TS. Hoàng Kim Quế. Nxb. Đại học Quốc gia Hà nội. 2012. tr. 568.

PGS.TS Nguyễn Cảnh Hợp - Trưởng khoa Luật Hành chính - Nhà nước, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Nguồn : http://www.nclp.org.vn

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống