Công nhận và bảo hộ tài sản mới ở nước ta hiện nay - Cơ sở lý luận và thực tiễn

29/06/2017

 

TS. Trần Thị Quốc Khánh[1]

 

          1. Thực trạng pháp luật, thực hiện pháp luật về công nhận tài sản mới ở Việt Nam

Nhiều chuyên gia cho rằng, tài sản mới là những tài sản phát sinh trong quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự mà pháp luật kinh tế, pháp luật dân sự trước đây chưa đề cập hoặc đề cập chưa đầy đủ. Sự xuất hiện tồn tại và phát triển của các tài sản mới này là tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, gắn với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, cho đến nay, hệ thống pháp luật Việt Nam chưa quy định đầy đủ, rõ ràng về công nhận, bảo hộ đối với một số loại tài sản.

1.1. Đối với tài sản trí tuệ

Ở Việt Nam, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên (năm 1946), Nhà nước đã ghi nhận những quyền cơ bản của công dân liên quan đến quyền tác giả, quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản. Nhà nước cam kết bảo vệ quyền lợi của trí thức, tôn trọng “quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” (Điều thứ 12). Những nguyên tắc hiến định tiến bộ đó được kế thừa, xuyên suốt trong các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp 2013 hiện hành[2]. Năm 1995, Bộ luật dân sự đầu tiên được ban hành, các quy định về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ đánh dấu một bước tiến quan trọng về hoạt động lập pháp trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, một số quy định có liên quan đến sở hữu trí tuệ cũng đã được quy định trong các đạo luật chuyên ngành như Luật báo chí, Luật xuất bản, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật hình sự, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Luật hải quan, Luật cạnh tranh... Năm 2005, Bộ luật dân sự mới đã được ban hành, thay thế cho Bộ luật Dân sự 1995, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vẫn được quy định nhưng chỉ bao gồm các quy định mang tính nguyên tắc, còn các quy định cụ thể chủ yếu được điều chỉnh trong Luật sở hữu trí tuệ năm 2005. Đến năm 2009 và năm 2013, Luật sở hữu trí tuệ tiếp tục được sửa đổi, bổ sung, theo đó Luật quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó”; “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng[3]...

Tuy nhiên, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã bộc lộ nhiều thách thức. Trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức hiện nay, khi tài sản trí tuệ đang trở thành một trong những yếu tố cạnh tranh quan trọng nhất và là động lực của sự phát triển (thế giới đang hướng đến phát triển “trí tuệ nhân tạo”) thì nguồn lực tài sản trí tuệ của nước ta còn rất nhỏ bé và hầu như không đáng kể. Mặt khác vấn đề tăng cường hiệu quả bảo hộ quyền sở hữu tài sản trí tuệ là đòi hỏi bắt buộc đồng thời là thách thức đối với các nước đang phát triển như Việt Nam.

1.2. Đối với tài sản cổ phiếu, trái phiếu

Trong nền kinh tế thị trường, tài sản cổ phiếu, trái phiếu thực sự là một loại hàng hoá, được trao đổi, mua bán trên thị trường chứng khoán. Trước năm 2015, Nhà nước ban hành 3 đạo luật quy định các nội dung liên quan đến cổ phiếu, trái phiếu, thị trường chứng khoán và các vấn đề liên quan là Bộ luật dân sự năm 2005, Luật doanh nghiệp năm 2005 và Luật chứng khoán 2006. Ngoài ra, đối với một số nội dung liên quan đến công ty cổ phần và phát hành, giao dịch, quản lý, sở hữu cổ phiếu và trái phiếu cũng được quy định tại một số luật khác (Luật Đầu tư, Luật Ngân hàng nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng... ). Việc ban hành các luật và các văn bản hướng dẫn thi hành các luật đã tạo ra hành lang pháp lý khá đồng bộ để cơ quan hành chính thực hiện chức năng quản lý, kiểm tra, thanh tra hoạt động liên quan tới chứng khoán… Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn chưa quy định cụ thể và chưa cho phép thực hiện giao dịch chứng khoán phái sinh, nhưng trên thực tế vẫn được giao dịch trên thị trường phi chính thức đã dẫn đến nhiều rủi ro và tranh chấp về sở hữu; việc áp dụng các cam kết, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên còn chậm được thực hiện; thiếu sự thống nhất giữa các cơ quan nhà nước  trong quá trình áp dụng; việc thực hiện pháp luật, công nhận và bảo hộ cổ phiếu, trái phiếu ở nước ta gặp những thách thức nhất định; đối với cổ phiếu thuộc sở hữu nhà nước (phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp cổ phần), việc thực hiện quyền sở hữu nhà nước lại thông qua cơ chế người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp nên vấn đề mâu thuẫn lợi ích giữa chủ sở hữu và người đại diện - đồng thời là người sử dụng tài sản đang cần sớm nghiên cứu giải quyết….

1.3. Đối với tài sản tài nguyên nước

Từ Hiến pháp năm 1992 và Luật tài nguyên nước năm 1998 đến Luật tài nguyên nước năm 2012 và Hiến pháp 2013 đều công nhận tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân, còn Bộ luật dân sự năm 2005 thì coi nước là tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước. Theo đó, tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho các mục đích sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệm, công nghiệp, khai khoáng, phát điện, giao thông thuỷ... mà không được đem quyền sử dụng để chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, góp vốn... như đối với đất đai. Công tác quản lý nhà nước mới chỉ gồm cấp phép, thanh tra, kiểm tra, điều tra cơ bản nhưng việc triển khai vẫn đang rất hạn chế. Riêng đối với công tác lập quy hoạch tài nguyên nước thì đang được cấp trung ương tiến hành ở một số lưu vực sông lớn, do vậy việc triển khai quy hoạch chưa thực hiện được. Nhiều chuyên gia cho rằng, Luật tài nguyên nước và các văn bản dưới luật chưa quy định việc chuyển nhượng quyền sử dụng nước là vấn đề cần được nghiên cứu sửa đổi. Quyền khai thác, sử dụng nước phải được thể chế hoá như một loại tài sản thuộc sở hữu của một tổ chức, cá nhân để tài nguyên nước có thể được sử dụng một cách tiết kiệm, hiệu quả, công bằng.

1.4. Đối với tài sản tài nguyên khoáng sản

Trước năm 2015, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tài nguyên khoáng sản bao gồm: Hiến pháp năm 2013; Bộ luật dân sự năm 2005; Luật khoáng sản năm 1996 đã được sửa đổi bổ sung năm 2005; Luật dầu khí năm 1993 đã sửa đổi, bổ sung năm 2000; Luật đất đai năm 2013; Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; các nghị định hướng dẫn thi hành …Các văn bản được ban hành về cơ bản đã khá đầy đủ. Tuy nhiên, vấn đề sở hữu về tài nguyên khoáng sản còn có nhiều bất cập trong quá trình thực hiện. Đó là hoạt động chuyển nhượng, cầm cố loại giấy phép khai thác mỏ (thực chất là chuyển quyền sở hữu) đang diễn ra khá phổ biến, nhưng lại chưa được định giá và không đưa giá trị mỏ khoáng sản mà doanh nghiệp đó được khai thác, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước. Ngoài ra, khi cấp phép khai thác khoáng sản cho các tổ chức, cá nhân, Nhà nước chỉ thu thuế tài nguyên mà chưa tính đến chi phí thăm dò để đánh giá trữ lượng, chất lượng khoáng sản là chưa tương xứng với giá trị kinh tế của loại tài sản này...

1.5. Đối với tài sản khoảng không vũ trụ

Việt Nam đang từng bước ứng dụng các thành tựu của công nghệ vũ trụ vào các lĩnh vực khí tượng - thủy văn, thông tin liên lạc, viễn thám, định vị nhờ vệ tinh đạt được một số thành tựu nhất định. Vì vậy, vấn đề được đặt ra là Nhà nước phải xây dựng hệ thống pháp luật về khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ vì mục đích hòa bình nói chung, nhằm mục đích thương mại nói riêng. Trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm quốc tế, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về công nhận và bảo hộ tài sản khoảng không vũ trụ, trong đó có Luật vũ trụ và một số đạo luật chuyên biệt về vấn đề khai thác khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại như: Luật khai thác, sử dụng khoảng không vũ trụ nhằm mục đích thương mại, Luật quản lý và sử dụng vệ tinh, Luật viễn thám...

1.6. Đối với tài sản “ảo”

Tài sản ảo là lĩnh vực mới trong quan hệ tài sản ở nước ta. Đến thời điểm này, tài sản ảo vẫn chưa được đạo luật nào công nhận vào bảo hộ chính thức. Hiện nay, mới chỉ có Nghị định 72/2013/NĐ-CP của Chính phủ, Thông tư số 24/2014/TT-BTTTT của Bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông quy định về một số hoạt động liên quan đến trò chơi trực tuyến (game online) quy định: “Vật phẩm ảo, đơn vị ảo, điểm thưởng không phải là tài sản, không có giá trị quy đổi ngược lại thành tiền, thẻ thanh toán, phiếu thưởng hoặc các hiện vật có giá trị giao dịch bên ngoài trò chơi điện tử. Không mua, bán vật phẩm ảo, đơn vị ảo, điểm thưởng giữa những người chơi với nhau[4].

Cùng với, game online, tiền ảo (Bitcoin) đang là vấn đề có tính thời sự trên thế giới. Ra đời năm 2009, Bitcoin được xem là đơn vị tiền ảo phát sinh từ hệ thống điện tử không qua ngân hàng, được tạo ra từ các thuật toán, với tổng số không vượt quá 21 triệu đơn vị. Người ta có thể kiếm được Bitcoin từ việc “đào” (mining) và bán lại cho những nhà đầu tư hoặc người có nhu cầu mua sắm trực tuyến mà không cần thông qua kênh trung gian là ngân hàng. Sau khi đồng tiền này bất ngờ tăng giá vượt 1.000 USD/đơn vị, các định chế tài chính lo ngại đây sẽ là dấu chấm hết cho hoạt động ngân hàng, đồng thời mở ra kênh giao dịch phi pháp online toàn cầu. Tuy nhiên, Việt Nam hiện vẫn chưa có văn bản pháp lý quy định cụ thể về khuôn khổ pháp lý cho “tiền ảo”. Riêng loại hình “ví điện tử”[5] thì Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014 về hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán, quy định: “Dịch vụ Ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính...), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử theo tỷ lệ 1:1 và được sử dụng làm phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt” (khoản 6, Điều 3).

2. Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật công nhận và bảo hộ tài sản mới ở Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận, phân tích thực tiễn, đề tài khoa học “Công nhận và bảo hộ tài sản mới ở nước ta hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã đưa ra các quan điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về công nhận và bảo hộ tài sản mới.

 2.1. Đối với tài sản trí tuệ

Căn cứ Hiến pháp năm 2013, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ ở nước ta, trong đó, cần nghiên cứu bổ sung quy định cụ thể sau: “Công dân có quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, sáng tác, phê bình văn học, nghệ thuật và tham gia các hoạt động văn hoá khác. Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, khuyến khích và thúc đẩy các hoạt động tạo lập, khai thác, phát triển và bảo vệ tài sản trí tuệ”. Bên cạnh đó, cần quan tâm công tác nghiên cứu lý luận, khoa học về sở hữu tài sản trí tuệ, phục vụ hoạch định chính sách, pháp luật về sở hữu tài sản trí tuệ; rà soát, bổ sung, sửa đổi quy định về sở hữu tài sản trí tuệ trong Luật sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn thi hành nhằm bảo đảm tính khả thi, tính thống nhất, đồng bộ, không chồng chéo, đáp ứng yêu cầu của các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà nước ta là thành viên; đề xuất xây dựng khung chính sách, pháp luật về sở hữu trí tuệ, bổ sung đề xuất xây dựng Luật sáng chế, Luật nhãn hiệu, Luật về quyền tác giả và quyền liên quan; đồng thời tăng cường các giải pháp về thực thi quyền sở hữu trí tuệ (như: Nâng mức xử lý vi phạm hành chính, hình sự về sở hữu trí tuệ; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát liên ngành trong phòng, chống vi phạm quyền sở hữu trí tuệ; đẩy mạnh đào tạo theo chuẩn quốc tế nguồn nhân lực về sở hữu trí tuệ…).

2.2. Đối với tài sản cổ phiếu, trái phiếu

Cẩn sớm nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật chứng khoán theo hướng bổ sung các quy định về hạn chế hoặc quản lý quyền tự do chuyển nhượng của cổ đông sáng lập, người đại diện chủ sở hữu nhà nước, người có quyền và lợi ích liên quan, cổ đông lớn, cổ đông nội bộ; tỷ lệ khống chế số lượng cổ phiếu được nắm giữ đối với cá nhân, tổ chức, đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu, nhà đầu tư; nghiên cứu đề xuất cơ chế bảo vệ quyền sở hữu (như xây dựng Luật bảo vệ nhà đầu tư, Luật tín thác..). Trước mắt cần có chế tài đủ mạnh đối với hành vi vi phạm quyền sở hữu chứng khoán của nhà đầu tư (như đưa một số tội danh trong lĩnh vực chứng khoán vào Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi,...); bổ sung các quy định nhằm bảo vệ cổ đông thiểu số (các quyền khiếu nại, khiếu kiện…) và buộc cổ đông thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình (như đóng góp ý kiến, tham dự hoặc ủy quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông…). Đặc biệt, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về giao dịch bảo đảm và thế chấp tài sản.

2.3. Đối với tài sản tài nguyên nước

Cần tăng cường thể chế và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý tài nguyên nước các cấp; rà soát loại bỏ sự chồng chéo trong  tổ chức quản lý tài nguyên nước giữa các bộ, ngành, các cấp; xây dựng các tổ chức lưu vực sông theo pháp luật hiện hành; tăng cường nguồn lực (nhân và vật lực) cho hệ thống quản lý tài nguyên nước ở trung ương và địa phương; xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước theo lưu vực sông nhằm giúp công tác quản lý tổng hợp tài nguyên nước hiệu quả; nâng cao nhận thức các bên liên quan (gồm: Chính quyền, nhà đầu tư và cộng đồng…) trong bảo vệ, phát triển tài nguyên nước; tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý tài nguyên nước nhằm phát triển bền vững tại các diễn đàn hợp tác khu vực (ASIAN, LMC, LMCT, WWF, SEA WWF …). Hệ thống pháp luật về sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu tài nguyên nước cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng: (1) Xây dựng các quy định về tài chính, các công cụ kinh tế trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước; (2) Xây dựng các quy định về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước; (3) Xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt hại trong các trường hợp có vi phạm đến quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước của tổ chức, cá nhân; (4) Bổ sung các quy định nhằm cụ thế hóa chính sách quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trước mắt và lâu dài.

2.4. Đối với tài sản tài nguyên khoáng sản

Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về khoáng sản, trong đó cần tập trung vào các hướng: (1) Cụ thể hóa hơn vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu tài nguyên khoáng sản thông qua hoạt động lập, phê duyệt chiến lược, quy hoạch khoáng sản nhằm khai thác sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên khoáng sản, có tính tới lợi ích trước mắt và lâu dài; gắn khai thác khoáng sản với phát triển bền vững, đảm bảo hài hoà lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và địa phương; (2) Nghiên cứu bổ sung các cơ chế quản lý đảm bảo lợi ích của chủ sở hữu khi chuyển hình thức sở hữu toàn dân sang các hình thức sở hữu khác; (3) Thực hiện chủ trương  xã hội hoá nguồn vốn đầu tư cho hoạt động điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản và thị trường hoá hoạt động khoáng sản thông qua hoạt động đấu thầu thăm dò mỏ; định giá mỏ đấu giá quyền khai thác mỏ v.v… Bên cạnh đó, Chính phủ cần chỉ đạo xây dựng chiến lược khoáng sản, nâng cao tính khả thi của Quy hoạch khoáng sản; đổi mới cơ chế bảo vệ tài nguyên khoáng sản, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động khoáng sản; tiếp tục nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước, nhất là chất lượng thẩm định hồ sơ giấy phép hoạt động khoáng sản, thực hiện các biện pháp giảm sản lượng khai thác một số loại khoáng sản.

2.5.  Đối với tài sản khoảng không vũ trụ

Tập trung xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ , bao gồm: Nghiên cứu luật quốc tế và các quy định sử dụng khoảng không vũ trụ để đảm  bảo  chủ  quyền  quốc  gia;  xây  dựng  và  hoàn  thiện  các  văn  bản pháp  luật (trước mắt đề xuất xây dựng Luật hoạt động vũ trụ…) liên quan đến việc nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ; về lưu trữ, quản lý, khai thác và sử dụng ảnh vệ tinh và các thông tin dẫn suất như bản đồ, cơ sở dữ liệu; xây dựng và ban hành quy định về bảo mật liên quan đến chương trình nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vũ trụ Việt Nam; xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn định dạng và định chuẩn trong việc ứng dụng và phát triển công nghệ vũ trụ, bảo đảm sự tương thích trong nước và ra quốc tế. Bên cạnh đó, cần tiếp tục đổi mới hoạt động của thiết chế quản lý nhà nước về hoạt động vũ trụ trên cơ sở vận dụng những kinh nghiệm hay của quốc tế phù hợp với đặc thù Việt Nam; các vấn đề cấp phép, giám sát hoạt động vũ trụ, đăng ký vật thể vũ trụ, bồi thường thiệt hại và các vấn đề khác có liên quan…

2.6.  Đối với tài sản “ảo

Với loại tài sản này, có thể đề xuất kiến nghị với Chính phủ, UBTVQH xem xét sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự năm 2015 các quy định về tài sản “ảo” như:

- Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả tài sản ảo và quyền sở hữu trí tuệ;

- Tài sản ảo là những tài nguyên máy tính được xác định giá trị bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự. Tài sản ảo bao gồm: tên miền, địa chỉ thư điện tử (e-mail), các đối tượng ảo được tạo ra trong trò chơi trực tuyến, kể cả tiền ảo (bitcoin) [6];

- Quan hệ tài sản đối với tài sản ảo chỉ được phát sinh khi người sử dụng dịch vụ đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với người cung cấp dịch vụ trò chơi trực tuyến theo hợp đồng dịch vụ;

 (Bản tin Thông tin khoa học lập pháp, Số 01(27) năm 2017)



[1] Ủy viên Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội

[2] Hiến pháp năm 2013 quy định:: “ Nhà nước ưu tiên đầu tư và khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học và công nghệ; bảo đảm quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ; bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ” (Khoản 2, Điều 62); “Nhà nước tạo điều kiện để mọi người tham gia và được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ” (Khoản 3, Điều 62).

[3] Các điều từ Điều 1 đến Điều 3 Luật sở hữu trí  tuệ năm 2013.

[4] khoản 4, 5 Điều 7, Thông tư 24/2014/TT-BTTTT

[5] Xem Thông tư 39/2014/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước

[6] Mặc dù hiện nay, bitcoin chưa được thừa nhận và lưu hành ở Việt Nam, nhưng trong tương lai loại tài sản này sẽ được thừa nhận.

 

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống