Cơ sở lý luận và thực tiễn hoàn thiện quy định pháp luật về các hình thức sở hữu ở nước ta hiện nay

29/06/2017

 ThS. Đỗ Thị Ngọc Lan[1]

1.  Một số vấn đề về các hình thức sở hữu

Dưới góc độ pháp luật, quyền sở hữu được coi là một trong những vật quyền chiếm vị trí trung tâm, quan trọng nhất, mang tính toàn diện, tuyệt đối nhất. Quyền sở hữu thể hiện sự lệ thuộc tuyệt đối của tài sản đối với chủ sở hữu. Mối quan hệ giữa chủ sở hữu vật với vật hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chính chủ sỡ hữu đó. Quyền sở hữu có các đặc điểm quan trọng như: mang tính tuyệt đối; thể hiện mối quan hệ trực tiếp giữa vật với chủ thể quyền, cho phép chủ sở hữu được xử sự với vật theo nội dung quyền sở hữu cho phép mà không cần sự tham gia của chủ thể khác; luôn gắn với một tài sản nhất định và có tính vô thời hạn. Nói một cách khái quát thì quyền sở hữu chính là quyền năng cụ thể của chủ sở hữu mà pháp luật quy định.

Quyền sở hữu gồm 3 quyền năng cụ thể là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt vật. Ngoài các quyền năng này, chủ sở hữu vật còn phải gánh vác một số nghĩa vụ đối với tài sản và chịu trách nhiệm về tài sản của mình trong các trường hợp vật đó gây thiệt hại cho người khác hoặc gây thiệt hại cho xã hội, chịu rủi ro đối với vật. Quyền sở hữu được Nhà nước bảo hộ bằng pháp luật.

Trong khoa học pháp lý và thực tiễn lập pháp của các nước có tồn tại nhiều cách phân loại hình thức sở hữu khác nhau. Dựa trên tiêu chí khối chủ thể, có các hình thức sở hữu công và sở hữu tư. Dựa trên tiêu chí số lượng chủ sở hữu, có hình thức sỡ hữu riêng và sở hữu chung. Dựa trên chế độ sở hữu, có các hình thức sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân.

Hiến pháp năm 1992 được đánh giá là bước ngoặt lớn trong việc cụ thể hóa đường lối đổi mới kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam với sự thừa nhận nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần dựa trên nhiều hình thức sở hữu: sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể là nền tảng. Hiến pháp 1992 cũng xác định quyền tự do kinh doanh cho công dân với tư cách là một trong những quyền năng kinh tế cơ bản nhất của con người. Đây là nền tảng pháp lý vững chắc để kinh tế tư nhân có cơ hội thể hiện mình trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, tại Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã xác định 4 thành phần kinh tế là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế nước ta, đó là: kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài, trong đó kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Hiến pháp năm 2013 hiện hành mặc dù không xác định cụ thể các hình thức sở hữu nhưng tiếp tục khẳng định nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu với vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.

2. Thực trạng các hình thức sở hữu ở nước ta hiện nay

2.1. Về hình thức sở hữu nhà nước

Nhà nước tham gia quan hệ quyền sở hữu với tư cách là chủ thể đặc biệt và là chủ thể duy nhất đối với các tư liệu sản xuất chủ yếu. Nhà nước đại diện cho nhân dân nắm và quản lí toàn bộ tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nước giao tài sản cho các doanh nghiệp nhà nước, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang quyền quản lí, sử dụng đúng mục đích theo quy định của pháp luật và thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lí, sử dụng tài sản đó. Các phương thức thực hiện quyền sở hữu của Nhà nước bao gồm: giao quyền sử dụng, khai thác tài sản; đầu tư vào các doanh nghiệp; ban hành các văn bản pháp luật.

Trong thời gian qua, việc thực hiện quyền sở hữu của Nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả; tỷ trọng tiêu hao vật chất lớn; chất lượng sản phẩm, hệ số sinh lời, hiệu quả khai thác vốn đầu tư của nhiều doanh nghiệp nhà nước rất thấp và không ổn định. Số các doanh nghiệp thua lỗ chiếm một tỷ trọng lớn dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước triền miên. Tư tưởng bao cấp trong đầu tư vẫn còn rất nặng nề; vấn đề nợ nần vòng vo, mất khả năng thanh toán còn diễn ra khá nghiêm trọng do tình trạng quản lý nhà nước về tài chính đối với doanh nghiệp chậm đổi mới; nạn tham nhũng, lãng phí diễn ra ở mức báo động.

Việc sử dụng tài sản nhà nước tại các cơ quan hành chính nhà nước trong những năm qua mặc dù đã có nhiều đổi mới trong quản lý, điều hành của Chính phủ và cơ quan hành chính các cấp, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại, bất cập.  Pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, chưa điều chỉnh bao quát hết các quan hệ về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước và hiệu lực pháp lý còn thấp. Các cơ quan quản lý nhà nước chưa thực sự theo dõi sát được thực trạng và biến động của tài sản nhà nước. Tình trạng sử dụng tài sản nhà nước sai mục đích, tiêu chuẩn, định mức, chế độ và lãng phí vẫn còn xảy ra. Hệ thống phân cấp quản lý tài sản nhà nước chưa thực sự hợp lý và chưa đảm bảo được sự thống nhất.

Chế độ sở hữu Nhà nước đối với đất đai cũng bộc lộ những hạn chế nhất định như: Người sử dụng không có động lực để sử dụng đất một cách tốt nhất, không muốn đầu tư dài hạn vào đất đang sử dụng, làm hạn chế hiệu quả sử dụng đất; Quyền định đoạt về đất đai thuộc các cơ quan nhà nước dễ dẫn tới sự can thiệp hành chính vào thị trường quyền sử dụng đất, tạo nguy cơ phát sinh tham nhũng, gây trở ngại lớn cho đầu tư phát triển; Sự khập khiễng khi tồn tại song song trên một mảnh đất hai loại tài sản (đất và quyền sử dụng đất) với hai chủ thể khác nhau (Nhà nước và người dân) với giá thị trường riêng biệt (giá quyền sử dụng đất); Mặc dù Nhà nước là chủ sở hữu đất nhưng Nhà nước hiện nay về thực chất chỉ còn giữ lại cho mình quyền giám sát mục đích sử dụng đất và quyền thực hiện quy hoạch sử dụng đất, cưỡng chế có đền bù.   

2.2. Về hình thức sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội

Mỗi tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là một chủ thể độc lập và có tài sản riêng đảm bảo cho hoạt động của tổ chức mình. Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội là những tổ chức mang tính giai cấp và xã hội, không phải là tổ chức kinh tế, do vậy những nguồn thu do hoạt động sản xuất, kinh doanh của tổ chức không phải là căn cứ cơ bản làm phát sinh quyền sở hữu tài sản của tổ chức. Căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội gồm: do ngân sách nhà nước cấp để hoạt động; nguồn thu từ đóng đảng phí, đoàn phí, hội phí; do được tặng, cho, tài trợ; thu từ các hoạt động gây quỹ; các khoản hỗ trợ khác…

2.3. Về hình thức sở hữu tập thể

Sở hữu tập thể là hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, vốn, các loại tài sản khác do cá nhân, hộ gia đình đóng góp để sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện mục đích chung của tập thể được quy định trong điều lệ. Ba chủ thể của hình thức này là: hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và tổ hợp tác.

Ở nước ta, các hình thức hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác phát triển mạnh trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp và vận tải. Theo số liệu của Tổng cục thống kê năm 2011, cả nước có 9.725 hợp tác xã và 136.097 tổ hợp tác trong nông nghiệp, 59 hợp tác xã lâm nghiệp, 493 hợp tác xã thủy sản, 60 hợp tác xã diêm nghiệp… Tuy nhiên, mô hình hợp tác xã qua thực tiễn cho thấy còn nhiều tồn tại, bất cập. Hợp tác xã chỉ là tổ chức kinh tế về hình thức, có đăng ký kinh doanh nhưng không có nguồn lực để hoạt động như một pháp nhân thực sự. Hợp tác xã không có điều kiện để thực hiện trách nhiệm tài sản khi xảy ra tổn thất do hoạt động hành nghề của xã viên gây ra. Cam kết của xã viên về việc tự chịu trách nhiệm (còn hợp tác xã hoàn toàn không) đã đi ngược lại nguyên tắc trách nhiệm của pháp nhân theo luật dân sự. Với năng lực tài chính khiêm tốn, không trực tiếp làm kinh tế, hợp tác xã không thể nào tạo lập được quỹ hay tài sản phục vụ lợi ích và các nhu cầu chung khác của cộng đồng xã viên. Ý nghĩa xã hội đặc trưng của sở hữu tập thể hầu như không phát huy thực sự.             

2.4. Về hình thức sở hữu tư nhân

Sở hữu tư nhân là sở hữu của cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bao gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân.

Trong những năm qua, sở hữu tư nhân ở nước ta có những bước phát triển mạnh mẽ, tạo nguồn đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngân sách, góp phần tạo lập việc làm cho xã hội và thúc đẩy việc hình thành các chủ thể kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng thị trường tạo sự cạnh tranh trong nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, sở hữu tư nhân còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Khu vực kinh tế tư bản tư nhân phát triển tốc độ cao nhưng thiếu đồng đều, chủ yếu phát triển theo bề rộng, điển hình là tăng thêm số lượng doanh nghiệp. Đa phần các doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, trang thiết bị lạc hậu, nhân lực hạn chế nên khả năng chiếm lĩnh thị trường và vượt qua những biến động, rủi ro, bất trắc trong sản xuất kinh doanh bị hạn chế; khả năng tiếp cận các nguồn vốn, tiếp cận thông tin còn hạn chế; việc thành lập doanh nghiệp chủ yếu dựa trên kinh nghiệm mà chưa tính toán đầy đủ nhu cầu thị trường và khả năng tiêu thụ; sự thiếu minh bạch về tài chính; tình trạng không chấp hành hoặc chấp hành không nghiêm luật pháp của Nhà nước còn diễn ra… Bên cạnh đó, sự không ổn định của chính sách kinh tế và sự quản lý còn yếu kém của cơ quan công quyền đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của sở hữu tư bản tư nhân. 

2.5. Về hình thức sở hữu chung

Điều 214 Bộ luật dân sự đưa ra quan niệm về sở hữu chung như sau: “Sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ sở hữu đối với tài sản. Sở hữu chung bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất. Tài sản thuộc hình thức sở hữu chung là tài sản chung”.

Việc thực hiện quyền sở hữu chung ở nước ta hiện nay còn nhiều tồn tại, bất cập, điển hình như: vướng mắc trong việc thực hiện quyền sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng (đối với thu nhập hợp pháp, tài sản tạo lập trước hôn nhân, tài sản đặc thù, các vật dụng cá nhân, xác định nguồn gốc của tài sản không đăng ký quyền sở hữu, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng, phân chia tài sản chung khi ly hôn, tài sản hùn vốn, cổ phần đầu tư trong các công ty…); vướng mắc trong thực hiện quyền sở hữu chung trong nhà chung cư (tranh chấp nơi để xe; tranh chấp do sử dụng không đúng mục đích, không đúng cam kết đối với phần sở hữu chung; tranh chấp về thẩm quyền quản lý, tranh chấp liên quan đến quỹ bảo trì, về phí dịch vụ và việc cải tạo nhà chung cư...).

3. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về các hình thức sở hữu ở nước ta hiện nay

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Đề tài đã đưa ra các quan điểm hoàn thiện quy định của pháp luật về các hình thức sở hữu như: thừa nhận nhiều hình thức sở hữu; bảo đảm sự thống nhất trong các văn bản luật về các hình thức sở hữu; bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các hình thức sở hữu; bảo đảm vai trò chủ đạo của sở hữu nhà nước đối với sự phát triển của nền kinh tế. Đồng thời, để hoàn thiện quy định của pháp luật về các hình thức sở hữu ở nước ta hiện nay, đề tài đã đưa ra một số giải pháp sau đây.

3.1. Đối với sở hữu nhà nước tại các doanh nghiệp

Cần tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực trọng yếu, những cơ sở sản xuất thương mại, dịch vụ quan trọng; giải quyết tốt mối quan hệ giữa quyền sở hữu và sử dụng tư liệu sản xuất của toàn dân bằng cách lựa chọn các hình thức kinh tế phù hợp; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại; liên kết, liên doanh với các thành phần kinh tế khác nhau nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả kinh tế - xã hội.

Thực hiện từng bước vững chắc việc cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước, trong đó cổ phần thuộc sở hữu nhà nước là cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt. Tiếp tục sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước phù hợp với yêu cầu sản xuất, kinh doanh trong điều kiện mới. Phương hướng chủ yếu hiện nay là thành lập một số tổng công ty, tập đoàn kinh doanh lớn có uy tín, có tầm vóc quốc gia và quốc tế, tạo thế và lực để phát triển, đủ sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt trong quan hệ với nước ngoài. Ngoài ra, để nâng cao tính hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước, xứng đáng là bộ khung trong hệ thống các doanh nghiệp của toàn bộ nền kinh tế, cần phải nâng cao tính hạch toán, tính chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, của giám đốc và tập thể người lao động.

Bên cạnh đó, bộ máy nhà nước cần thích ứng với vai trò mới theo hướng tập trung làm tốt các chức năng vĩ mô; tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ kinh tế; thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp; tách chức năng quản lý hành chính của Nhà nước khỏi chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp; tách hệ thống hành chính ra khỏi hệ thống cơ quan sự nghiệp.

3.2. Đối với sở hữu nhà nước tại các cơ quan quản lý hành chính

Cần ban hành quy chế quản lý, sử dụng tài sản nhà nước. Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng tài sản công và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Giám sát chặt chẽ quá trình mua sắm, thanh lý, ghi tăng, ghi giảm tài sản cố định. Đẩy nhanh tiến độ sắp xếp lại, xử lý nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước; hiện đại hóa công tác quản lý công sản qua phần mềm kế toán. Đối với quản lý tài chính về đất đai, cần rà soát số lượng đất được giao, đánh giá nguyên nhân thiếu hụt, áp giá đất theo khung giá đất chung và ghi tăng giá trị tài sản trên hệ thống tài khoản kế toán. Xác định rõ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan hành chính trong việc quản lý tài sản nhà nước. Quy định cụ thể về việc thanh tra, kiểm tra công tác đầu tư xây dựng mới, quản lý, sử dụng trụ sở làm việc và các tài sản nhà nước khác.

3.3. Đối với sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân

Tiếp tục khẳng định đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có thành phần kinh tế tư nhân, kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, bảo hộ quyền sở hữu tài sản hợp pháp, khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Cần có thêm nhiều chính sách giúp thành phần kinh tế tư nhân có khả năng tiếp cận được các nguồn vốn, tạo cơ chế bình đẳng cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực tài chính cũng như trong sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả việc tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp tư nhân mà không gây áp lực hành chính cản trở hoạt động bình thường của các doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra, cần đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức chung của xã hội về vai trò quan trọng của sở hữu tư nhân và thành phần kinh tế tư nhân.

3.4. Đối với sở hữu chung trong nhà chung cư    

Để hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề sở hữu chung trong nhà chung cư, thứ nhất, cần xây dựng văn bản quy định cụ thể về phần sở hữu chung trong nhà chung cư nhằm tránh những rủi ro đáng tiếc cho người dùng và tránh những tranh chấp phức tạp có thể xảy ra. Thứ hai, các chủ sở hữu nhà chung cư cần có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý phần thuộc sở hữu trong nhà chung cư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc giữa các đồng sở hữu chủ có thỏa thuận khác. Thứ ba, để tạo sự ổn định cho chủ sở hữu nhà chung cư, nên quy định theo hướng công nhận quyền sử dụng diện tích đất xây dựng nhà chung cư thuộc sở hữu chung của tất cả chủ sở hữu các căn hộ trong nhà chung cư ngay khi người mua nhà có quyền sở hữu đối với các căn hộ.

Với sự đặc biệt của loại nhà ở chung cư so với các loại nhà ở khác về cấu tạo và quyền sở hữu, kéo theo là sự khác biệt về tất cả các vấn đề quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, sử dụng, bảo hành, bảo trì, cải tạo, phá dỡ và đặc biệt là vấn đề quản lý và giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình sử dụng nhà chung cư, do đó rất cần thiết xây dựng Luật Chung cư để điều chỉnh các quan hệ xung quanh quản lý và sử dụng nhà chung cư.

Hiện nay, mối quan hệ giữa các cư dân trong nhà chung cư, chủ đầu tư, ban quản trị và các chủ thể khác có liên quan tại Việt Nam đang được điều chỉnh bởi các quy định của văn bản pháp luật như Bộ luật dân sự, Luật nhà ở và các văn bản hướng dẫn, hợp đồng ký kết giữa chủ đầu tư và cư dân, hợp đồng ký kết giữa ban quản trị và công ty quản lý, do đó cần ban hành hướng dẫn xây dựng Thỏa thuận giữa các bên của nhà chung cư.

(Bản tin Thông tin khoa học lập pháp, Số 01(27) năm 2017)

 


[1] Trung tâm TTKHLP, Viện NCLP.

 

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống