Pháp luật phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện

29/06/2017

 ThS. Nguyễn Thị Dung[1]

  1. Một số khái niệm cơ bản

Theo Từ điển Tiếng Việt thì thuật ngữ “phá sản” được hiểu là “lâm vào tình trạng tài sản không có gì, thường là do kinh doanh bị thua lỗ, thất bại[2]. Các văn bản pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa thế nào là phá sản, phá sản doanh nghiệp mà chỉ giải thích khi nào thì doanh nghiệp/ hợp tác xã được coi là “lâm vào tình trạng phá sản”[3]. Theo Luật phá sản năm 2014 thì phá sản được hiểu là “tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”[4]. Như vậy, phá sản dù chưa định nghĩa thống nhất nhưng về cơ bản được sử dụng để chỉ sự đổ vỡ trong hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp hoặc cá nhân.

Giống như pháp luật phá sản ở nhiều nước trên thế giới, pháp luật phá sản ở nước ta hiện nay điều chỉnh hai thủ tục chính là thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản và thủ tục phá sản. Pháp luật phá sản doanh nghiệp hiện hành bao gồm tất cả các quy định của pháp luật đang còn hiệu lực điều chỉnh việc phá sản, giải quyết phá sản doanh nghiệp. Bản chất của pháp luật phá sản hiện đại là pháp luật về thủ tục đòi nợ tập thể (liên quan đến nhiều người) và cứu vớt doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ. Điều đó có nghĩa là pháp luật phá sản không chỉ là pháp luật về thanh toán mà còn là pháp luật về quản trị doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính nhằm cứu vớt doanh nghiệp đó.

2. Thực trạng pháp luật phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay

Mốc đánh dấu quan trọng cho sự hình thành pháp luật phá sản ở Việt Nam là sự ra đời của Luật phá sản doanh nghiệp năm 1994, Luật phá sản năm 2004 và mới đây là Luật phá sản năm 2014. Trên cơ sở kế thừa nền tảng của Luật cũ, Luật phá sản 2014 có nhiều nội dung mới so với Luật phá sản 2004, cụ thể là:

Một là, thu hẹp phạm vi áp dụng: Nếu như Luật phá sản 2004 quy định hiệu lực của Luật phá sản áp dụng “đối với doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì Luật phá sản năm 2014 chỉ áp dụng đối với “doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quy định này mang tính thực tế và khả năng áp dụng cao hơn so với quy định cũ.

Hai là, xác định rõ doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán: Tiêu chí xác định doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” chứ không phải “không có khả năng thanh toán” [5].Thời điểm được xác định trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán mà không phải là “khi chủ nợ có yêu cầu” như quy định tại Luật phá sản 2004. Luật mới không yêu cầu việc xác định hay phải có căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán bằng bản cân đối tài chính. Căn cứ để Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản là có khoản nợ và đến thời điểm ra quyết định doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn không thanh toán. Tiêu chí mất khả năng thanh toán không phụ thuộc vào số lượng khoản nợ nhiều hay ít mà chỉ cần một khoản nợ. Có nghĩa là bất kỳ khoản nợ nào, dù nợ lương, nợ thuế, nợ bảo hiểm xã hội, khoản nợ phát sinh từ hợp đồng..., chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã.

Ba là, về thẩm quyền của Toà án: Khác với luật 2004, Luật phá sản năm 2014 quy định thẩm quyền của Tòa án theo cấp, theo lãnh thổ, theo hướng doanh nghiệp, hợp tác xã do cơ quan cấp nào cấp đăng ký kinh doanh thì do Tòa án cấp ấy có thẩm quyền giải quyết, trừ những vụ việc phá sản có tình tiết đặc biệt (có yếu tố nước ngoài, có địa điểm ở nhiều quận huyện khác nhau, hoặc tòa cấp tỉnh lấy lên giải quyết)[6]. Để bảo đảm tính khách quan, Luật phá sản năm 2014 cũng bổ sung quy định về trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thẩm phán trong quá trình giải quyết phá sản. Luật cũng bỏ quy định “Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó”. Vì theo quy định hiện hành, tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng và hoạt động trong khuôn khổ Luật doanh nghiệp. Tòa án cấp huyện đương nhiên có thẩm quyền giải quyết vụ việc phá sản của doanh nghiệp này, trừ khi nó có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài. 

          Bốn là, về quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản: Luật phá sản năm 2014 quy định cá nhân, doanh nghiệp được hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình giải quyết phá sản gồm: Quản tài viên và doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Việc xây dựng chế định chủ thể quản lý, thanh lý tài sản là cá nhân, pháp nhân là một bước thay đổi cơ bản trong Luật phá sản năm 2014.

Năm là, tuyên bố phá sản theo thủ tục rút gọn: Theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 5 Luật phá sản năm 2014, khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản thì người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải ghi rõ yêu cầu Tòa án giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản và các tài liệu kèm theo phải đúng quy định tại Điều 28 và có đầy đủ căn cứ chứng minh. Đối với trường hợp này, thủ tục phá sản được giải quyết nhanh chóng. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Tòa án thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản về việc Tòa án giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn, Tòa án xem xét, tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản hoặc tiếp tục giải quyết theo thủ tục thông thường và thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản biết. Bên cạnh đó, Luật cũng bổ sung quy định mới về việc xem xét đơn đề nghị, kiến nghị theo thủ tục đặc biệt.

Sáu là, quy định về tiền lãi đối với các khoản nợ: Luật phá sản năm 2014 đã bổ sung quy định về xác định tiền lãi đối với khoản nợ. Theo đó, kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ vẫn được tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi. Trong trường hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của Điều 86, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 95 thì việc tạm dừng trả lãi chấm dứt, các bên tiếp tục thực hiện trả lãi theo thỏa thuận; đối với các khoản nợ mới phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì tiền lãi của các khoản nợ đó được xác định theo thỏa thuận nhưng không trái với quy định của pháp luật; kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ không được tiếp tục tính lãi.

Có thể nói, Luật phá sản 2014 đã có bước phát triển và đạt được những kết quả quan trọng, góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế về thủ tục giải quyết các vụ việc phá sản theo quy định của Luật phá sản 2004, tạo hành lang pháp lý để Tòa án giải quyết nhanh việc phá sản của các doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành thời gian qua cho thấy, bên cạnh những mặt tích cực thì Luật phá sản 2014 cũng bộc lộ một số hạn chế, bất cập nhất định, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến việc thống nhất giữa các luật. Cụ thể như sau:

Thứ nhất, về thời hạn ra quyết định thi hành án: Luật phá sản 2014 và Luật thi hành án dân sự đều quy định thẩm quyền tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án là của cơ quan thi hành án dân sự. Tại khoản 2 Điều 36 Luật thi hành án dân sự quy định thời hạn ra quyết định thi hành án đối với quyết định tuyên bố phá sản là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 120 Luật phá sản 2014 quy định: “Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chủ động ra quyết định thi hành”. Như vậy, thời hạn để cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với quyết định tuyên bố phá sản của Luật thi hành án dân sự và Luật phá sản 2014 là không thống nhất với nhau.

Thứ hai, Luật thi hành án dân sự quy định tại khoản 2 Điều 3 thì người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành và người được thi hành án được hưởng các quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 7. Theo đó, những “chủ nợ” trong danh sách chủ nợ tại quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án là những người được thi hành án. Vậy những “chủ nợ” có được hưởng các quyền của người được thi hành án hay không và Chấp hành viên có phải thực hiện việc thông báo các quyết định về thi hành án và các văn bản khác liên quan đến việc thi hành án cho các chủ nợ hay không chưa được làm rõ.

Thứ ba, về thẩm quyền của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong việc định giá, tại khoản 1 Điều 122 Luật phá sản 2014 quy định: “Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải tổ chức định giá tài sản theo quy định của pháp luật”. Theo đó thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản hoàn toàn chủ động trong việc định giá tài sản mà không phụ thuộc vào việc cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án cũng như việc Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc thanh lý tài sản.

Thứ tư, về các trường hợp định giá lại, theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật phá sản năm 2014 thì “việc định giá lại tài sản được thực hiện khi có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 122 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản”; Khoản 2 Điều 17 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16.02.2015 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật phá sản về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản nêu rõ nếu phát hiện Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về phá sản, pháp luật về định giá tài sản dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản, Chấp hành viên yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc định giá lại tài sản, trừ trường hợp Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đó bị thay đổi theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 18 của Nghị định này. Trong khi đó, theo Điều 99 Luật thi hành án dân sự thì việc định giá lại tài sản kê biên được thực hiện trong các trường hợp sau đây: “a) Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản; b) Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản”. Như vậy, Luật phá sản 2014 đã thu hẹp các trường hợp định giá lại so với Luật thi hành án dân sự. Việc những chủ nợ (người được thi hành án) không có quyền yêu cầu việc định giá lại có thể sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.

Thứ năm, về bán đấu giá tài sản, tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 17[7], Chấp hành viên quyết định việc thanh lý tài sản”. Tuy nhiên, Luật phá sản 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đều không chỉ ra là khi thực hiện quyết định việc thanh lý tài sản thì Chấp hành viên làm thủ tục gì (ra quyết định giảm giá hay quyết định việc tiếp tục bán tài sản …), dẫn đến khó khăn trong việc có tiếp tục bán đấu giá tài sản.

Thứ sáu, về trình tự thủ tục khi Chấp hành viên thực hiện việc thanh lý tài sản, khoản 4 Điều 121 Luật phá sản 2014 quy định: sau 02 năm kể từ ngày nhận được văn bản của Chấp hành viên yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc thanh lý tài sản mà tài sản chưa được thanh lý thì tài sản được giao trở lại cho cơ quan thi hành án dân sự xử lý, thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật. Việc quy định chung chung như vậy gây khó khăn cho cơ quan thi hành án dân sự trong việc tổ chức thi hành. Chấp hành viên cần áp dụng các quy định của pháp luật về phá sản hay pháp luật về thi hành án để tiếp tục tổ chức việc thanh lý tài sản? Trong trường hợp Chấp hành viên khi thực hiện việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì có phải thực hiện việc ra quyết định kê biên theo quy định của Luật thi hành án dân sự hay chỉ tiến hành định giá lại tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật phá sản[8].

Thứ bảy, về chi phí thực hiện phá sản, Điều 21 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bao gồm thù lao Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và chi phí khác. Như vậy, Nghị định trên mới chỉ quy định chi phí thực hiện phá sản trong trường hợp Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện, còn trong trường hợp Chấp hành viên thực hiện cưỡng chế để thu hồi tài sản, giao tài sản cho người mua được tài sản[9] và thực hiện việc thanh lý tài sản[10] thì chưa quy định rõ ai là người phải chi trả những chi phí trên. Mặt khác, về chi phí cưỡng chế, Điều 73 Luật thi hành án dân sự đã quy định rõ trường hợp nào người phải thi hành án chịu, trường hợp nào người được thi hành án chịu và trường hợp nào thì ngân sách chịu. Tuy nhiên, đối với trường hợp thi hành quyết định tuyên bố phá sản thì không có người phải thi hành án, do đó, các chi phí khi Chấp hành viên thực hiện các công việc trên có được được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán hay không?

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật phá sản ở Việt Nam hiện nay

Để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về phá sản trong bối cảnh mới hiện nay, cần thực hiện các giải pháp sau:

Một là, để giúp cho việc thi hành các quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án được thuận lợi nhanh chóng, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ thì Tòa án nhân dân tối cao cần phối hợp với Bộ Tư pháp sớm ban hành Thông tư liên tịch để hướng dẫn các quy định liên quan đến thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản.

Hai là, cần cho phép sử dụng án lệ trong giải quyết phá sản. Việc cho phép áp dụng án lệ đồng nghĩa với việc thừa nhận sự phát triển của pháp luật bởi thẩm phán và đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, trong đó có yêu cầu bảo đảm sự công bằng, bình đẳng cho doanh nghiệp, hợp tác xã trước pháp luật và bảo đảm “sự linh hoạt, mềm dẻo” của pháp luật trước những thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội.

Ba là, về tài sản phá sản và tài sản được miễn trừ khỏi tài sản phá sản, pháp luật phá sản hiện hành đã liệt kê danh mục tài sản phá sản. Tuy nhiên, quy định trên đã bỏ sót các loại tài sản, quyền tài sản thu được từ các giao dịch vô hiệu, tài sản mới có thể phát sinh trong quá trình kinh doanh sau khi có quyết định mở thủ tục tuyên bố phá sản... Tất cả các tài sản trên cần được kê biên để thanh toán cho các chủ nợ. Vì vậy, cần bổ sung các tài sản này vào danh mục tài sản phá sản theo quy định của Luật phá sản năm 2014.  Điều này là cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ nợ. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta thì Luật phá sản cần cân nhắc quan điểm nhân đạo này theo hướng quy định việc miễn trừ này đối với trường hợp doanh nghiệp tư nhân hoặc thành viên hợp danh của công ty hợp danh lâm vào tình trạng phá sản[11].

Bốn là, việc giải quyết các vụ việc phá sản có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều khía cạnh pháp lý khác nhau, nhiều chủ thể khác nhau, do đó để hiểu và áp dụng đúng, thống nhất pháp luật phá sản thì cần nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật phá sản như: các Thẩm phán, Quản tài viên... Tòa án nhân dân tối cao cần định kỳ tổ chức các hội thảo chuyên đề, khóa đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghiệp vụ của Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản; cần có kế hoạch đào tạo Thẩm phán chuyên trách về án kinh tế nói chung và giải quyết các vụ việc phá sản nói riêng. Cần xây dựng chương trình đạo tạo và cấp chứng chỉ Quản tài viên. Ngoài ra, cần tích cực tuyên truyền phổ biến pháp luật phá sản rộng rãi đến người dân và doanh nghiệp, hợp tác xã trong cả nước.

(Bản tin thông tin khoa học lập pháp, Số 01(27) năm 2017)

[1] Trưởng phòng, Trung tâm NCKH, Viện NCLP.

[2] Trung tâm Từ điển học, Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2010, trang 980.

[3] Điều 3 Luật phá sản năm 2004.

[4] Khoản 2 Điều 4 Luật phá sản năm 2014.

[5] Khoản 1, Điều 4 Luật phá sản 2014.

[6] Điều 8 Luật phá sản năm 2014.

[7] Điểm d khoản 1 Điều 17: “Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản báo cáo Chấp hành viên trong các trường hợp bán đấu giá tài sản không thành”.

[8] Xem thêm: Tác giả Văn Thị Hồng Tâm - Những bất cập trong thi hành Luật phá sản 2014 nhìn từ góc độ thi hành án. Nguồn http://thads.moj.gov.vn.

[9] Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 120 Luật phá sản.

[10] Theo quy định khoản 4 Điều 121 Luật phá sản.

[11] Pháp luật của một số nước trên thế giới cũng có quy định về vấn đề này (Ví dụ Luật phá sản của CHLB Đức) 

 

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống