CƠ QUAN THUỘC ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI - TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐANG ĐẶT RA 06/12/2016

Để triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014 đã có những quy định mới, lần đầu tiên luật hóa một cách rõ nét địa vị pháp lý của loại hình cơ quan thuộc UBTVQH tại Chương VI. Bài viết này cung cấp những thông tin cơ bản nhằm giúp cho các ĐBQH và các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về vai trò, địa vị pháp lý cũng như những vấn đề đang đặt ra cho việc đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan này trong cái nhìn tổng quan về hoạt động của Quốc hội.

NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ MỘT SỐ KỸ NĂNG HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI 06/12/2016

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã dành 7 điều (từ Điều 79 đến Điều 85) để quy định về ĐBQH và quyền hạn, nhiệm vụ của ĐBQH. Luật tổ chức Quốc hội (được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20.11.2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01.01.2016) đã cụ thể hóa Hiến pháp, dành toàn bộ chương II (từ Điều 21 đến Điều 43) để quy định về ĐBQH và nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH. Trong đó nhiệm vụ, quyền hạn của ĐBQH được quy định tổng quát nhất là “...chịu trách nhiệm trước cử tri và trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình” (khoản 2 Điều 21). Nhiệm vụ, quyền hạn đó được thể hiện tập trung chủ yếu ở các điều 24, 26, 27, 28, 29, 30, 32, 33 và 35. Sau đây là một số nội dung chủ yếu.

QUY TRÌNH LẬP PHÁP CỦA QUỐC HỘI – QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 06/12/2016

Từ khi Nhà nước ta thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đến nay, hoạt động lập pháp của Quốc hội ngày càng được tăng cường và đẩy mạnh. Trong mỗi nhiệm kỳ Quốc hội khoá II, III, IV, V, Quốc hội chỉ ban hành từ 1 đến 6 luật, thì từ năm 1986 đến nay số lượng luật được Quốc hội ban hành tăng lên rõ rệt. Nhiệm kỳ Quốc hội khoá VIII đã ban hành Hiến pháp 1992 và 31 luật, bộ luật; Quốc hội khoá IX ban hành 41 luật, bộ luật; Quốc hội khoá X ban hành 35 luật, bộ luật; Quốc hội khoá XI ban hành 84 luật, bộ luật; Quốc hội khoá XII ban hành được 67 luật, bộ luật; Quốc hội khoá XIII đã ban hành Hiến pháp 2013 và 107 luật, bộ luật. Ngoài ra, trong mỗi nhiệm kỳ, UBTVQH còn ban hành nhiều pháp lệnh. Có được điều này là do tổ chức và hoạt động của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội gần đây đã đ¬ược đổi mới và tăng cường; đặc biệt là quy trình lập pháp luôn được cải tiến nhằm phát huy tối đa sức lực, trí tuệ của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các ĐBQH, Chính phủ, các bộ ngành và các cơ quan, tổ chức hữu quan khác trong công tác xây dựng pháp luật.

VỊ TRÍ, VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA QUỐC HỘI THEO HIẾN PHÁP NĂM 2013 22/11/2016

Trong xã hội dân chủ, quyền lực tối cao thuộc về Nhân dân. Do lợi ích thực tế và các yêu cầu về chuyên môn nên Nhân dân chủ yếu thực hiện quyền lực đó thông qua dân chủ đại diện. Nguyên tắc này được thể hiện rất rõ ràng trong Hiến pháp năm 2013. Theo đó, Hiến pháp quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”( ); “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”( ). Xuất phát từ nguyên tắc nói trên, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có những quy định cụ thể về Quốc hội trong tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta. Bài viết này góp phần làm rõ hơn vị trí, vai trò và chức năng của Quốc hội theo các quy định của Hiến pháp năm 2013.

NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG THEO HIẾN PHÁP NĂM 2013 VÀ LUẬT TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG NĂM 2015 07/11/2016

Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong tổ chức chính quyền địa phương nước ta trong giai đoạn mới được Đảng ta xác định là: bên cạnh việc bảo đảm tính thống nhất, thông suốt của nền hành chính quốc gia trong một Nhà nước đơn nhất với vai trò lãnh đạo và chịu trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ đối với hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, bảo đảm quản lý thống nhất của trung ương, thì cần phải đổi mới căn bản mô hình tổ chức chính quyền địa phương, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của các cấp chính quyền địa phương trong việc quyết định các vấn đề của địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong tình hình mới. Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa quan điểm này trong Chương IX “Chính quyền địa phương”. Trên cơ sở đó, ngày 19.6.2015, Quốc hội ban hành Luật tổ chức chính quyền địa phương.

NGUYÊN TẮC HIẾN ĐỊNH: “QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC LÀ THỐNG NHẤT, CÓ SỰ PHÂN CÔNG, PHỐI HỢP, KIỂM SOÁT GIỮA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUYỀN LẬP PHÁP, HÀNH PHÁP VÀ TƯ PHÁP” TRONG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TA 12/10/2016

Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung một nguyên tắc mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta. Đó là “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Đây vừa là quan điểm, vừa là nguyên tắc chỉ đạo công cuộc tiếp tục cải cách và hoàn thiện bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới cả về kinh tế lẫn chính trị. Sau đây là nội dung của nguyên tắc này thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 và một số suy nghĩ về việc vận dụng nguyên tắc này trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta.

Thực trạng và giải pháp đổi mới chính sách tài khóa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững 19/01/2014

Nhằm góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả tác động của ngân sách nhà nước (NSNN) đối với sự phát triển bền vững ở Việt Nam, nhất là phát triển kinh tế, trong năm 2012-2013 nhóm nghiên cứu do TSKH. Trịnh Huy Quách chủ trì đã triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Thực trạng và giải pháp đổi mới chính sách tài khóa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững” trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu khoa học của Viện Nghiên cứu lập pháp. Mục tiêu của đề tài này là nhằm xây dựng cơ sở phương pháp luận; nghiên cứu lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế bền vững; chính sách tài khóa trên góc độ đáp ứng các yêu cầu thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững; đề xuất hệ thống quan điểm, phương hướng và các giải pháp khả thi nhằm đổi mới chính sách tài khóa để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam. Bài viết này giới thiệu khái quát những kết quả nghiên cứu chủ yếu của đề tài.

Bài học thực tiễn từ việc Quốc hội quyết định về ngân sách nhà nước giai đoạn 2005-2009 19/01/2014

Năm 2011, đề tài cấp bộ “Cơ sở lý luận và bài học thực tiễn giai đoạn 2005-2009 của việc Quốc hội quyết định về ngân sách nhà nước” do TSKH. Trịnh Huy Quách, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội làm Chủ nhiệm đề tài đã được Hội đồng khoa học cơ quan nghiệm thu, đánh giá đạt kết quả xuất sắc. Đề tài đã góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để đổi mới ngân sách nhà nước (NSNN), rút ra những bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó kiến nghị những nội dung cụ thể liên quan đến công tác ra quyết định của Quốc hội về NSNN.

Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực tài chính, ngân sách 19/01/2014

Triển khai nhiệm vụ nghiên cứu năm 2009, Viện Nghiên cứu lập pháp đã tổ chức nghiên cứu đề tài cấp cơ sở “Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội trong lĩnh vực tài chính, ngân sách”. Kết quả nghiên cứu đề tài đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận; phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội đối với lĩnh vực tài chính, ngân sách.

Phân cấp ngân sách ở Việt nam: Thực trạng và định hướng đổi mới 18/01/2014

Phân cấp ngân sách là nội dung quan trọng trong phân cấp quản lý của nhà nước và đang trở thành chủ đề được quan tâm hiện nay trong cải cách khu vực công ở nhiều nước trên thế giới. Kể từ khi có Luật NSNN (2002), phân cấp ngân sách ở Việt Nam đã được đẩy mạnh trên nhiều phương diện. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, thực hiện phân cấp theo Luật NSNN (2002) cũng đã bộc lộ một số bất cập. Bài viết này tóm tắt, giới thiệu một số kết quả chính từ nghiên cứu “Thực trạng phân cấp quản lý NSNN ở Việt Nam - Một số đề xuất và kiến nghị” do Ủy ban Tài chính, Ngân sách chủ trì thực hiện trong khuôn khổ Dự án do UNDP hỗ trợ kỹ thuật.

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống