Về thẩm quyền khởi tố hình sự của hội đồng xét xử

17/01/2013

Giải quyết một vụ án hình sự (VAHS) là một quá trình đòi hỏi các yêu cầu khắt khe về thủ tố tụng. Quá trình này có sự tham gia của nhiều cơ quan và người tiến hành tố tụng khác nhau, nên thẩm quyền của các chủ thể này cũng khác nhau từ lúc khởi tố vụ án cho đến giai đoạn xét xử vụ án. Quá trình này được tiến hành thông qua các giai đoạn tố tụng như sau: giai đoạn khởi tố VAHS, giai đoạn điều tra VAHS, giai đoạn truy tố và giai đoạn xét xử VAHS. Có thể nói, giai đoạn đầu tiên cũng là giai đoạn rất quan trọng của vụ án chính là giai đoạn khởi tố VAHS, “với tính chất là một giai đoạn độc lập và đầu tiên của tố tụng hình sự (TTHS), giai đoạn khởi tố VAHS có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để xác định các tiền đề pháp luật về nội dung (vật chất) và về pháp luật về hình thức (tố tụng) của việc điều tra VAHS”[1], người nào bị khởi tố VAHS - người đó được gọi là bị can, giai đoạn này nhằm làm cơ sở cho việc xác định một người nào đó có hành vi phạm tội (hành vi nguy hiểm cho xã hội) hay không.

1. Thẩm quyền khởi tố vụ án của Tòa án

Theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 về trách nhiệm khởi tố và xử lý VAHS “Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện Kiểm sát (VKS), Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội. Không được khởi tố vụ án ngoài những căn cứ và trình tự do Bộ luật này quy định”. Tiếp theo là khoản 1 Điều 104 của BLTTHS về quyết định khởi tố VAHS: “… Hội đồng xét xử (HĐXX) ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu VKS khởi tố VAHS nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra”.

Như vậy, theo quy định của BLTTHS 2003, chủ thể có thẩm quyền khởi tố VAHS khá rộng như VKS, CQĐT… trong đó, có Tòa án - thông qua HĐXX bằng hoạt động xét xử tại phiên tòa. Với ý nghĩa nhằm đấu tranh phòng chống, kịp thời phát hiện tội phạm, việc quy định như vậy là đảm bảo tránh việc bỏ sót tội phạm trong quá trình giải quyết vụ án mà CQĐT, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) cấp có thẩm quyền không phát hiện được tội phạm cho đến khi xét xử tại phiên tòa, thông qua việc xét hỏi, tranh tụng… thì HĐXX mới phát hiện được “tội phạm mới” hoặc “người phạm tội mới” và có thẩm quyền khởi tố vụ án. 

2. Những bất cập về thẩm quyền khởi tố vụ án của Tòa án

Theo quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001) thì thẩm quyền của VKSND được quy định cụ thể: “VKSND tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp…”, bên cạnh đó, tại Điều 134 Hiến pháp năm 1992 cũng có quy định về quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án nhân dân (TAND): “TAND tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam...” Những quy định trên của Hiến pháp năm 1992 được cụ thể hóa ở Luật Tổ chức TAND và Luật Tổ chức VKSND.

Thẩm quyền của VKSND bao gồm thực hành quyền công tố và kiểm sát. Quyền khởi tố VAHS cũng là một nội dung của thực hành quyền công cố được liệt kê một cách rõ ràng tại Luật Tổ chức VKSND 2002, cụ thể tại khoản 1 Điều 13 quy định về giai đoạn khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, VKSND có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: “…Khởi tố VAHS, khởi tố bị can; yêu cầu CQĐT khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố VAHS, khởi tố bị can…”.

Như vậy, quyền hạn và chức năng của VKSND tách biệt hoàn toàn với Điều 134 của Hiến pháp năm 1992 về quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án. Có thể nói, với nhiệm vụ duy nhất được ghi nhận của TAND trong Hiến pháp là nhân danh Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong quá trình xét xử thì các chức năng khác như: khởi tố, điều tra, truy tố không phải chức năng của Tòa án. Các chức năng này được giao cho các cơ quan như VKSND, các CQĐT, v.v.. Việc quy định như vậy là đảm bảo cho Tòa án có điều kiện tốt nhất để thi hành nhiệm vụ của mình, tập trung xét xử dựa trên những chứng cứ hợp pháp, thông qua xét xử tại phiên tòa để quyết định rằng ai là người có tội hay không có tội và ai là người phải chịu hình phạt hay không phải chịu hình phạt… được quy định trong Bộ luật Hình sự. Quy định trên cũng nhằm đảm bảo nguyên tắc “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”[2]. Đây là nguyên tắc cốt lõi của nền tư pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới.

Ta có sơ đồ tóm tắt như sau:

 

Với quy định trên của Hiến pháp năm 1992 thì thẩm quyền của TAND và VKSND được phân biệt rạch ròi. Tuy nhiên theo quy định Điều 104 của BLTTHS về thẩm quyền của HĐXX (Tòa án) trong giai đoạn xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có tội phạm mới cần điều tra, thì HĐXX có hai sự lựa chọn: Quyết định khởi tố VAHS hoặc đề nghị VKS khởi tố VAHS.

Vấn đề đặt ra là, liệu có khách quan hay không nếu việc khởi tố vụ án trong trường hợp này có tác động thế nào đến quyền của bị can (có thể sau này là bị cáo) khi chủ thể khởi tố vụ án cũng chính là chủ thể[3] có thẩm quyền xét xử vụ án chính vụ án đó (nếu việc khởi tố vụ án của HĐXX là có căn cứ). Yếu tố khách quan trong một VAHS là vô cùng quan trọng. Khách quan ở đây có nghĩa là một chủ thể đứng bên ngoài vụ việc, xem xét rằng lời buộc tội, gỡ tội của các bên liên quan dựa trên những chứng cứ hợp pháp thì ai đúng, ai sai, ai là người vô tội cần được trả tự do v.v.. Yếu tố khách quan đó cần được đảm bảo trong mọi hệ thống pháp luật. Thẩm phán - trong quá trình giải quyết vụ án, thực hành quyền xét xử dựa trên những đối đáp, lập luận có căn cứ pháp lý, tranh luận, chứng cứ hợp pháp... để kết luận. Giai đoạn xét xử vừa mang tính chất phòng ngừa, răn đe, giáo dục chung cho toàn xã hội, thể hiện sự độc lập, sự vô tư, khách quan của HĐXX. Tuy nhiên, với quy định tại Điều 104 và Điều 13 của BLTTHS, trong trường hợp này, HĐXX thay mặt cho Tòa án tham gia vào hai giai đoạn[4] là giai đoạn khởi tố vụ án và giai đoạn xét xử, như vậy, yếu tố khách quan của Tòa án không được đảm bảo.

Về mặt lý luận, xét riêng về trách nhiệm và quyền hạn của TAND và VKSND, có thể thấy “thực hành quyền công tố”[5] (bao gồm quyền khởi tố vụ án) là chức năng của VKSND được quy định trong Hiến pháp. Hiến pháp không quy định cho Tòa án có quyền “thực hành quyền công tố”. Như vậy, việc quy định cho Tòa án cũng có thẩm quyền khởi tố vụ án tại Điều 104 và Điều 13 BLTTHS là không phù hợp với Hiến pháp trong việc phân định thẩm quyền giữa TAND và VKSND cũng như quy định tại Khoản 1 Điều 3 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 về “bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật”. Hiến pháp 1992 quy định, chỉ có VKS mới là chủ thể thực hành quyền quyền công tố, còn chức năng của Tòa án chỉ duy nhất là xét xử, nhưng BLTTHS lại quy định rằng, Tòa án cũng có quyền khởi tố vụ án thông qua việc khởi tố vụ án của HĐXX là không phù hợp với Hiến pháp.

Về mặt thực tiễn, việc quy định tại điều 104 và Điều 13 của BLTTHS gặp phải những vướng mắc sau đây:

Thứ nhất, HĐXX không phải là CQĐT và cũng không có thẩm quyền điều tra nên trên thực tế, thẩm quyền khởi tố vụ án của Tòa án mà cụ thể là HĐXX không khả thi, vì việc quan trọng trước giai đoạn khởi tố chính là giai đoạn điều tra ban đầu[6]. Ở giai đoạn này, các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền điều tra căn cứ vào tin tố giác tội phạm, việc phạm tội quả tang... để xác minh nguồn tin cũng như các dựa vào các công việc chuyên môn, nghiệp vụ đấu tranh khác để thu thập chứng cứ... làm căn cứ để khởi tố vụ án, trong khi đó, Tòa án không có chức năng và những công cụ này. Ngoài ra, nếu chỉ dựa vào việc xét xử tại phiên tòa qua phần xét hỏi, phần tranh tụng thì chưa đủ căn cứ để khẳng định chắc chắn là có "tội phạm mới" hoặc “người phạm tội mới” mới được phát hiện. Tòa án (cụ thể là HĐXX) không có quyền và điều kiện để điều tra, xác minh thêm những vấn đề tình nghi - ngoại trừ việc xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa.

Thứ hai, để có đủ căn cứ khi ra quyết định khởi tố vụ án, thời gian để điều tra, xác minh tội phạm là khá dài so với việc xét xử tại phiên tòa[7]. Trong giai đoạn điều tra, CQĐT có thể triển khai các hoạt động nghiệp vụ mà Tòa án không thể có để xác định tội phạm. Ngoài ra, khi xét xử có nhiều trường hợp tại phiên tòa bị cáo khai lung tung, nhằm làm khó cho hoạt động xét xử của HĐXX, nhằm đổ tội cho người khác hay có hành vi khai không trung thực để nhận tội thay người khác, v.v..

Thứ ba, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm (tin tố giác, tin báo về tội phạm, kiểm tra, xác minh nguồn tin…) CQĐT có thời hạn từ 20 ngày đến hai tháng (sự việc có tình tiết phức tạp) để chuẩn bị và triển khai nghiệp vụ, nhưng luật không quy định HĐXX có bao nhiêu thời gian chuẩn bị, xác minh những vấn đề cần thiết để chứng minh cho nhận định của mình, mà luật chỉ quy định đơn giản “HĐXX ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu VKS khởi tố VAHS nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra”. Như vậy, rõ ràng là tính chủ động của HĐXX không được đảm bảo.

Với những luận cứ nêu trên, có thể nói, quy định này của BLTTHS là không khả thi vì HĐXX không có giai đoạn điều tra ban đầu một cách kỹ càng, mà chỉ thông qua xét hỏi với thời lượng ít ỏi và căn cứ vào các câu trả lời, tranh tụng thì chưa đủ căn cứ chứng minh đúng/sai.

3. Hướng đề xuất

Quy định tại Điều 104 và Điều 13 của BLTTHS về thẩm quyền khởi tố vụ án của HĐXX (Tòa án) xét về mặt lý luận và thực tiễn đều là không phù hợp với quy định của Hiến pháp 1992 và không khả thi trên thực tế. Chúng tôi đề xuất: Đối với quy định tại khoản 1 Điều 104 của BLTTHS về quyết định khởi tố VAHS, cần sửa đổi cho phù hợp như sau: “...HĐXX yêu cầu VKS khởi tố VAHS nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra, nếu VKS ra quyết định không khởi tố VAHS thì HĐXX có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án đó theo quy định tại chương XXXV của Bộ luật này khi có căn cứ cho rằng Quyết định không khởi tố vụ án của VKS là trái pháp luật”. Ngoài ra, tại Điều 13 của BLTTHS về trách nhiệm khởi tố và xử lý VAHS cũng cần sửa đổi theo hướng không quy định thẩm quyền khởi tố vụ án của Tòa án như phân tích nêu trên./.


[1] GS,TSKH. Lê Cảm, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng, Tạp chí in, số 02/2004 

[2] Điều 130 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001).

[3]Có thể là không cùng một HĐXX nhưng dù thẩm phán nào được phân công xét xử vụ án đó thì chủ thể vẫn là “Tòa án” nên sẽ không khách quan.

[4]Tuy nhiên theo quy định tại Điều 134 của Hiến pháp thì Tòa án chỉ tham gia vào một giai đoạn duy nhất là xét xử mà thôi.

[5] Theo quy định tại Điều 13 Luật Tổ chức VKSND 2002

[6] Giai đoạn này không được chính thức ghi nhận trong pháp luật về TTHS, nhưng trên thực tế được dùng để chỉ giai đoạn điều tra sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm…CQĐT triển khai các biện pháp nghiệp vụ để xác minh nguồn tin.

[7]Theo quy định tại khoản 2 Điều 103 về nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố “Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, CQĐT trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố VAHS. Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng”.

Nguyễn Văn Vinh

TAND tỉnh Sóc Trăng

Nguồn tin: http://www.nclp.org.vn

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Hoạt động của Quốc hội - mang đầy hơi thở của cuộc sống