Nghiệm thu chính thức đề tài cấp cơ sở: “Quy định cụ thể nguyên tắc cấm phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm theo Công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam”

20/10/2018

Ngày 20/10/2018, Viện Nghiên cứu lập pháp đã tổ chức họp Hội đồng nghiệm thu chính thức Đề tài cấp cơ sở: “Quy định cụ thể nguyên tắc cấm phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm theo Công ước của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam" do ThS. Phan Văn Ngọc, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin khoa học lập pháp làm Chủ nhiệm. Hội đồng do TS. Lê Hải Đường, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Nghiên cứu lập pháp làm Chủ tịch đã đánh giá kết quả nghiên cứu của đề tài đạt loại khá.

Tại chương 1, đề tài tập trung phân tích những vấn đề lý luận về phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm. Trong đó, đề tài đã làm rõ khái niệm phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm; các trường hợp loại trừ không bị xem là phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm và những hình thức và nội dung phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm theo Công ước số 111 về phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO); vai trò của Tổ chức Lao động quốc tế; nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc thực thi Công ước về phân biệt đối xử giữa nghề nghiệp và việc làm.

Chương 2 của đề tài đi sâu phân tích thực trạng cụ thể hóa nguyên tắc cấm phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm trong pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực hiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Việt Nam tham gia Công ước số 111 vào tháng 10 năm 1997 và đã có nhiều nỗ lực trong việc thực hiện thông qua việc rà soát hệ thống pháp luật, xây dựng các quy định pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy định của Công ước và tổ chức thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên, các quy định hiện hành về cấm phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm ở nước ta chưa bao quát hết các đối tượng, có những nội dung chưa phù hợp với tinh thần của Công ước; nhiều quy định thiếu tính cụ thể, mang tính tuyên truyền, không có tính khả thi; cơ chế giám sát thực hiện quy định pháp luật về vấn đề này chưa mang lại hiệu quả cao. Chính vì vậy, các quy định pháp luật về loại trừ phân biệt đối xử trong lao động và việc làm chưa thực sự phát huy hiệu lực, hiệu quả. Tình trạng phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực. Đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức phân biệt đối xử mới như: phân biệt về dân tộc, quê quán, xu hướng tính dục… nhưng chưa được quy định trong các văn bản pháp luật nên chưa có cơ chế phát hiện và điều chỉnh hiệu quả. Điều này ảnh hưởng đến sự bình đẳng về lao động, hạn chế trong việc huy động nguồn nhân lực vào phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, cũng như sự hội nhập quốc tế. 

Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Chương 3 của đề tài đã đề ra các giải pháp nhằm cụ thể hóa và nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc cấm phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm ở nước ta. Trong đó, đề tài đưa ra các giải pháp chung về hoàn thiện pháp luật cấm phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm, cụ thể: cần nghiên cứu ban hành Luật về cấm phân biệt đối xử; rà soát các quy định cấm phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm để sửa đổi, bổ sung các quy định theo đúng tinh thần của Công ước số 111; bổ sung các hình thức (cơ sở) phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm phù hợp với quy định của Công ước 111; sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về điều kiện hạn chế, loại trừ tình trạng phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm; sửa đổi quy định về chế tài xử lý hành vi phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm bảo đảm tính răn đe nghiêm khắc...

Đề tài cũng đưa ra các kiến nghị, đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật cấm phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm. Cần rà soát danh mục quy định về các ngành nghề không được sử dụng hoặc hạn chế sử dụng người lao động nữ, bảo đảm quyền làm việc của người lao động, tránh phân biệt đối xử về việc làm. Sửa đổi, bổ sung một số quy định như: nâng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ; quy định cụ thể về đào tạo nghề dự phòng cho người lao động, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi của người lao động và xử lý vi phạm kỷ luật lao động; quy định hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc với tính chất là hành vi phân biệt đối xử về điều kiện, môi trường làm việc đối với người lao động; hoàn thiện quy định cấm phân biệt đối xử về lương và thu nhập của người lao động; tiếp tục nghiên cứu để cụ thể hóa quy định liên quan đến tổ chức và hoạt động của công đoàn.

Bên cạnh đó, để nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cấm phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm, đề tài cho rằng: cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật cấm phân biệt đối xử về nghề nghiệp và việc làm nhằm nâng cao nhận thức của người lao động, người sử dụng lao động và các đối tượng khác có liên quan; nâng cao năng lực của cơ quan thanh tra lao động, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật về phân biệt đối xử trong nghề nghiệp, việc làm; bố trí nguồn ngân sách, tổ chức lại hệ thống các cơ sở dạy nghề, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, khắc phục tình trạng lao động không có tay nghề; nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi của người lao động nói chung, của các đối tượng lao động yếu thế nói riêng.

Trung tâm Thông tin khoa học lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?





Quốc hội kỳ 3, khóa XIII