Viện Nghiên cứu lập pháp - 5 năm hình thành và phát triển

11/09/2013
Viện Nghiên cứu lập pháp được Ủy ban thường vụ Quốc hội thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 8/2008. Là cơ quan nghiên cứu mới được thành lập, trước nhiều khó khăn của giai đoạn đầu tiên, trong 5 năm qua, Viện Nghiên cứu lập pháp đã không ngừng phấn đấu, đạt được những kết quả tích cực, góp phần thiết thực vào tiến trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội nước ta.

Hội nghị sơ kết 5 năm hoạt động diễn ra vào ngày 14.8.2013 vừa qua là dịp để đánh giá quá trình hình thành và phát triển của Viện, trao đổi, thảo luận đề ra phương hướng, giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động để “phát triển Viện Nghiên cứu lập pháp trở thành cơ quan nghiên cứu, thông tin khoa học tin cậy của Quốc hội và Nhà nước ta” như phát biểu chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, Ủy viên bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội.

Triển khai chủ trương đề ra trong Nghị quyết 48- NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 29.4.2018, Ủy ban thường  vụ  Quốc  hội  đã  ban  hành  Nghị  quyết  số 614/2008/UBTVQH12 thành lập Viện Nghiên cứu lập pháp có chức năng nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Quốc hội; tổ chức thông tin khoa học để hỗ trợ việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Đây được xem là một trong những giải pháp để góp phần “nâng cao trình độ và năng lực làm luật của Quốc hội” nhằm thực hiện có hiệu quả Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Những kết quả đạt được trong 5 năm qua đã khẳng định tính đúng đắn và phù hợp của chủ trương thành lập Viện Nghiên cứu lập pháp.

Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Viện được tăng cường, cơ cấu tổ chức bộ máy được kiện toàn một bước. Từ 8 cán bộ, công chức khi mới thành lập, đến nay tổng số biên chế cán bộ, công chức, viên chức của Viện gồm 46 người, trong đó, có 01 Phó Giáo sư, 06 tiến sĩ; 17 thạc sĩ. Đa phần cán bộ, chuyên viên có tuổi đời tương đối trẻ, giàu nhiệt huyết cống hiến, được đào tạo cơ bản, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lập trường, tư tưởng vững vàng, có ý thức tích cực học tập, nâng cao trình độ và khả năng nghiên cứu. Bộ máy tổ chức của Viện bao gồm Trung tâm Nghiên cứu khoa học, Trung tâm Thông tin khoa học và Phòng Tổng hợp, có chức năng, nhiệm vụ được phân định rõ ràng, mang tính chuyên môn sâu. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ luôn được quan tâm nhằm tăng cường năng lực quản lý và hoạt động của các đơn vị. Bên cạnh đó, Chi ủy, Công đoàn, Đoàn thanh niên của Viện từng bước được củng cố, phát huy vai trò, trách nhiệm của mình cùng với tập thể Lãnh đạo Viện xây dựng bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện Nghiên cứu lập pháp.

Hoạt động nghiên cứu khoa học đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Trong 5 năm qua, Viện đã trực tiếp tổ chức và triển khai nghiên cứu 2 đề tài độc lập cấp nhà nước, 2 đề tài nhánh của đề tài cấp nhà nước; 16 đề tài cấp bộ; 54 đề tài cấp cơ sở; 6 cuộc điều tra xã hội học; là đầu mối sơ kết thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW trong các cơ quan của Quốc hội, Báo cáo tổng kết thi hành Hiến pháp 1992 và một số đề án của Đảng đoàn Quốc hội, UBTVQH... Bên cạnh đó, các đơn vị của Viện cũng đã thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về những vấn đề chủ yếu trong các Dự án Luật viên chức, Luật biển, Luật quảng cáo, Luật Kiểm toán độc lập; Dự án Pháp lệnh Thẩm phán và Pháp lệnh Kiểm sát viên; nghiên cứu về thực trạng pháp luật đầu tư xây dựng cơ bản… do Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội yêu cầu. Đặc biệt, trong thời gian vừa qua, Viện đã tích cực triển khai nghiên cứu và có những đóng góp quan trọng phục vụ trực tiếp cho việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Nhìn chung, hoạt động nghiên cứu bám sát chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, các cơ quan Quốc hội, đại biểu Quốc hội, chương trình hoạt động của Quốc hội trong nhiệm kỳ và từng năm. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được áp dụng vào thực tiễn và phát huy hiệu quả, phục vụ cho Quốc hội, các cơ quan Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Công tác quản lý khoa học hiệu quả, đúng quy định, có nhiều đóng góp quan trọng đưa công tác nghiên cứu khoa học trong khối cơ quan Quốc hội dần đi vào nề nếp, chất lượng. Viện đã tham mưu để Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết thành lập Hội đồng khoa học; xây dựng định hướng nghiên cứu, phê duyệt các nhiệm vụ khoa học từng năm... Tổ chức quản lý có hiệu quả 02 đề tài cấp nhà nước, 10 đề tài nhánh của đề tài độc lập cấp nhà nước, 62 đề tài cấp bộ và 78 đề tài cấp cơ sở do Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các cơ quan của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Văn phòng Quốc hội chủ trì triển khai. Hoạt động thông tin khoa học được thực hiện thường xuyên, bảo đảm yêu cầu về chất lượng và thời gian, hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động của Quốc hội và các vị đại biểu Quốc hội. Viện đã tổ chức biên soạn 36 chuyên đề thông tin; trả lời 15.616 phiếu trong tổng số 15.794 phiếu, gồm 38.522 câu hỏi, yêu cầu cung cấp thông tin của đại biểu Quốc hội, đạt tỷ lệ 98.87%; cung cấp 6.912 yêu cầu về tài liệu tham khảo, 6.297 yêu cầu thông tin chuyên đề, sách chuyên  khảo,  tư  liệu  hình  ảnh… Thư  viện  và  hệ thống cơ sở dữ liệu lập pháp được nâng cấp nhằm cập nhật, phổ biến kịp thời các kết quả nghiên cứu ở trong và ngoài nước. Đầu tư xây dựng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng thông tin. Đa dạng hóa các hình thức thông tin - truyền thông khoa học thông qua việc xây dựng, phát hành Bản tin Thông tin khoa học lập pháp; Cổng thông tin điện tử; xuất bản nhiều ấn phẩm sách, chuyên đề tham khảo…

Hoạt động đối ngoại và hợp tác không ngừng được củng cố và mở rộng. Qua 5 năm hoạt động, Viện Nghiên cứu lập pháp đã tập hợp được đội ngũ cộng tác viên đông đảo gần 300 nhà khoa học, nhà quản lý và những người hoạt động thực tiễn có uy tín, trình độ và kinh nghiệm nghiên cứu. Thiết lập được mạng lưới hợp tác, phối hợp nghiên cứu với rất nhiều trường đại học, trung tâm thông tin, viện nghiên cứu ở trong nước và quốc tế, nhất là viện nghiên cứu của Nghị viện các nước trên thế giới. Viện Nghiên cứu lập pháp cũng đang duy trì và phát triển mối quan hệ tốt với Đại sứ quán Hoa Kỳ, Vương Quốc Anh, Xing-ga-po, Cộng hòa Pháp, Thụy Sỹ, Ai-len... Tổ chức triển khai nhiều hoạt động trong khuôn khổ hợp tác với các tổ chức quốc tế như: Tổ chức phát triển Liên hiệp quốc (UNDP), Cơ quan viện trợ phát triển Hoa Kỳ (USAID), Viện FES và Quỹ Rosa Luxemburg (Cộng hòa Liên bang Đức), EDF (Quỹ bảo vệ môi trường của Mỹ), Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), Ngân hàng thế giới (World Bank), Ngân hàng Châu Á (ADB), Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)… Mối quan hệ hợp tác tốt đẹp đã đem lại cho Viện nguồn nhân lực, đội ngũ chuyên gia nghiên cứu có kinh nghiệm; bổ sung được nguồn hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động nghiên cứu, cung cấp thông tin trong điều kiện Viện mới được thành lập, nguồn vốn từ ngân sách còn hạn chế.

Công tác chỉ đạo, điều hành và mối quan hệ công tác đã được định hình ổn định, hiệu quả. Để thực hiện tốt công tác chỉ đạo, điều hành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp đã ban hành Quy chế hoạt động của Viện làm cơ sở cho việc phân công nhiệm vụ, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức trong Viện chủ động thực hiện các nhiệm vụ theo vị trí công tác. Lãnh đạo Viện đã thường xuyên quan tâm, theo dõi, nắm bắt tâm tư, chia sẻ, động viên tinh thần cán bộ, chuyên viên cả trong công việc và trong cuộc sống. Viện Nghiên cứu lập pháp đã có nhiều nỗ lực trong việc thiết lập, duy trì mối quan hệ công tác với các cơ quan Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước nhằm phát huy lợi thế, gắn kết hoạt động của Viện với các cơ quan, tổ chức hữu quan để phục vụ kịp thời hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội.

Có  thể  thấy,  trải  qua  5  năm  hoạt  động,  Viện Nghiên cứu lập pháp đã triển khai tương đối hiệu quả chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Nghị quyết 614/2008/UBTVQH12. Điều này khẳng định việc Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Viện Nghiên cứu lập pháp và giao cho Viện Nghiên cứu lập pháp thực hiện chức năng nghiên cứu và thông tin hỗ trợ cho các hoạt động của Quốc hội là hoàn toàn đúng đắn. Các nhiệm vụ mà Viện đang thực hiện là phù hợp, bao quát được tương đối đầy đủ các công việc liên quan đến chức năng nghiên cứu, tổ chức nghiên cứu, tổ chức dịch vụ thông tin hỗ trợ cho hoạt động của Quốc hội trong và ngoài kỳ họp.

Kết quả hoạt động của Viện Nghiên cứu lập pháp trong 5 năm qua là rất đáng trân trọng, góp phần thiết thực vào quá trình đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội. Có được những kết quả này là nhờ sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội; sự phối hợp chặt chẽ của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Ban của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Văn phòng Quốc hội và các cơ quan, tổ chức hữu quan; sự nỗ lực, cố gắng của tập thể lãnh đạo, chuyên viên, nghiên cứu viên của Viện Nghiên cứu lập pháp.

Trên cơ sở những kết quả đạt được, để tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, xây dựng Viện trở thành một trong những cơ quan nghiên cứu, thông tin uy tín về hoạt động lập pháp ở nước ta, trong giai đoạn tiếp theo, Viện Nghiên cứu lập pháp sẽ tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp sau:

- Thứ nhất, tiếp tục củng cố bộ máy tổ chức: Tiếp nhận Tạp chí Nghiên cứu lập pháp về trực thuộc Viện để tạo diễn đàn nghiên cứu, trao đổi, đăng tải và phổ biến các kết quả nghiên cứu. Nâng cấp Phòng Tổng hợp thành Văn phòng Viện là đơn vị cấp vụ tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi, đối ngoại, phối hợp công tác.

- Thứ hai, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên viên, nghiên cứu viên và mạng lưới cộng tác viên. Đẩy mạnh công tác quy hoạch, đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ. Khuyến khích các chuyên viên, nghiên cứu viên tham gia các chương trình đào tạo sau đại học ở trong nước và ngoài nước. Có cơ chế tuyển dụng những người có trình độ, năng lực và kinh nghiệm nghiên cứu về công tác tại Viện. Mở rộng mạng lưới cộng tác viên, thu hút và tập hợp các nhà nghiên cứu, các chuyên gia giỏi, những người hoạt động thực tiễn có kinh nghiệm cộng tác triển khai các hoạt động nghiên cứu.

- Thứ ba, nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học. Tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu phù hợp với chương trình lập pháp của Quốc hội từ nay đến hết nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII. Đặc biệt chú trọng các chuyên đề, đề tài nghiên cứu về tổ chức bộ máy nhà nước, phục vụ việc sửa đổi các luật về tổ chức bộ máy nhà nước sau khi Hiến pháp 1992 sửa đổi được thông qua vào cuối năm nay. Đăng ký thực hiện một chương trình nghiên cứu tổng thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về bộ máy nhà nước. Xây dựng quy chế quản lý khoa học, sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí nghiên cứu khoa học theo đúng quy định của Nhà nước, bảo đảm chất lượng các đề tài.

- Thứ tư, đẩy mạnh hoạt động thông tin khoa học, cập nhật và phổ biến các kết quả nghiên cứu khoa học ở trong và ngoài nước phục vụ hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Chủ động xây dựng các chuyên đề thông tin khoa học phục vụ trực tiếp cho hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước trong từng thời điểm. Nâng cấp hạ tầng thông tin, cơ sở dữ liệu khoa học và thư viện số. Đa dạng hóa các phương thức thông tin - truyền thông khoa học, phát huy hiệu quả thông tin của Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Bản tin Thông tin khoa học lập pháp, Cổng thông tin điện tử, các ấn phẩm sách, chuyên đề thông tin...

- Thứ năm, củng cố mối quan hệ công tác, mở rộng hoạt động đối ngoại và hợp tác. Chú trọng thắt chặt mối quan hệ công tác với các cơ quan của Quốc hội, các Ban của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Văn phòng Quốc hội. Xây dựng mạng lưới hợp tác, liên kết nghiên cứu khoa học với các trường đại học, trung tâm, viện nghiên cứu ở trong và ngoài nước nhằm phát huy kinh nghiệm và lợi thế của từng đơn vị. Duy trì và phát triển mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với các cơ quan, tổ chức quốc tế. Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ phục vụ cho việc nâng cao trình độ và năng lực cán bộ, công chức, viên chức của Viện, tăng cường hiệu quả hoạt động nghiên cứu và cung cấp thông tin khoa học.

- Thứ sáu, về lâu dài, chuẩn bị đủ điều kiện cho việc nâng cấp Viện Nghiên cứu lập pháp thành cơ quan thuộc Quốc hội theo đúng chủ trương đề ra trong Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25.5.2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.

Tập thể cán bộ, công chức, viên chức của Viện Nghiên cứu lập pháp tự hào về những kết quả đạt được trong 5 năm vừa qua và quyết tâm đoàn kết xây dựng Viện Nghiên cứu lập pháp từng bước trở thành cơ quan nghiên cứu, cung cấp thông tin khoa học lập pháp tin cậy của Quốc hội

TS.Đinh Xuân Thảo

Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp

Các tin đã đưa ngày:
Thăm dò ý kiến
Bạn có cho rằng xăng là nguyên nhân gây ra cháy xe không?



Quốc hội kỳ 3, khóa XIII